DỊCH VỤ LUẬT SƯ HÀNH CHÍNH

Thời gian gần đây, thông tin về quy định mới liên quan đến dạy thêm, học thêm có hiệu lực từ ngày 15/05/2026 khiến nhiều phụ huynh và giáo viên không khỏi băn khoăn. Vậy thực tế quy định mới quy định như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Theo quy định tại Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được ban hành ngày 30/12/2024 và có hiệu lực từ ngày 14/02/2025 thì Bộ Giáo dục Đào tạo không cấm dạy thêm học thêm. Theo đó, hoạt động dạy thêm, học thêm được phân thành hai hình thức: (1) Dạy thêm, học thêm trong nhà trường  (2) Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường Và khi Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT sửa đổi Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT quy định về dạy thêm, học thêm do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành có hiệu lực từ ngày 15/05/2026 sửa đổi một số quy định của Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT cũng không cấm dạy thêm học thêm, mà quy định rõ hơn về cách tổ chức và điều kiện dạy thêm, học thêm. Theo đó, đối với Dạy thêm, học thêm trong nhà trường, Thông tư mới quy định như sau: (1) Việc dạy thêm, học thêm trong nhà trường không được thu tiền của học sinh và chỉ dành cho các đối tượng học sinh đăng kí học thêm theo từng môn học như sau: - Học sinh có kết quả học tập môn học cuối học kì liền kề ở mức chưa đạt; - Học sinh được nhà trường lựa chọn để bồi dưỡng học sinh giỏi; - Học sinh lớp cuối cấp tự nguyện đăng kí ôn thi tuyển sinh, ôn thi tốt nghiệp theo kế hoạch giáo dục của nhà trường. Lưu ý: Học sinh thuộc các nhóm trên phải viết đơn đăng ký học thêm theo từng môn. (2) Căn cứ vào số học sinh đăng kí, nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức dạy thêm đối với từng môn học ở từng khối lớp. (3) Việc xếp lớp, xếp thời khóa biểu và tổ chức dạy thêm, học thêm phải bảo đảm yêu cầu sau: - Mỗi lớp có không quá 45 (bốn mươi lăm) học sinh; - Không được xếp giờ dạy thêm chen vào giờ học chính khóa và Không được dạy trước chương trình - Mỗi môn học được tổ chức dạy thêm không quá 02 (hai) tiết/tuần. Trường hợp học sinh thuộc đối tượng đăng kí học thêm có nhu cầu học thêm vượt quá 02 (hai) tiết/tuần, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo xem xét, quyết định cho phép điều chỉnh thời lượng tổ chức dạy thêm theo đề nghị của Hiệu trưởng hoặc Giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng). (4) Kế hoạch tổ chức dạy thêm, học thêm được công khai trên trang thông tin điện tử của nhà trường hoặc niêm yết tại nhà trường. Đối với Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường: (1) Tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh (sau đây gọi chung là cơ sở dạy thêm) phải thực hiện các yêu cầu sau: - Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật; - Công khai, cập nhật thường xuyên trên trang thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm để bảo đảm sự tham gia giám sát của học sinh, gia đình và cộng đồng xã hội (2) Người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm. (3) Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm tuân thủ quy tắc ứng xử của nhà giáo theo quy định, có trách nhiệm báo cáo với Hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thế đứng tên đăng kí kinh doanh cơ sở dạy thêm, thời gian tham gia dạy thêm trước khi bắt đầu và cập nhật kịp thời khi có thay đổi đối với các nội dung đã báo cáo, bảo đảm minh bạch, phòng ngừa xung đột lợi ích trong hoạt động dạy thêm Như vậy, từ 15/05/2026, không cấm dạy thêm, học thêm chính đáng, nhưng sẽ bị quản lý chặt hơn để hạn chế tiêu cực. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Hiện nay, hành vi mở phòng khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép ngày càng tràn lan. Cụ thể, hàng loạt phòng khám, cơ sở nha khoa ở Đắk Lắk hoạt động không có giấy phép hoạt động bị xử phạt, đình chỉ hoạt động. Vậy các hành vi có bị xử phạt hay truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi sai phạm này không?.Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.  Theo quy định tại khoản 15 Điều 7 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2023, một trong những hành vi bị cấm là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa khi “không có giấy phép hoạt động, đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động, không đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép,…”. I. Quy định về mức xử phạt hành chính (cảnh cáo, phạt tiền): Căn cứ khoản 6 Điều 39 Nghị định 117/2020 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế. Đối với hành vi vi phạm điều cấm trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh mức xử phạt từ phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành không có giấy phép hoạt động vẫn cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Ngoài ra, cơ sở vi phạm có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là đình chỉ cơ sở hoạt động trong thời hạn 12 tháng đến 24 tháng đối với hành vi  cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh .   II. Quy định về xử lý hình sự Căn cứ quy định tại Điều 315 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Điều 315. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác 1. Người nào vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 259 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”. Như vậy, tùy vào mức độ, hậu quả tổn thất mà các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không có giấy phép hoạt động gây ra để truy cứu trách nhiệm.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
Ngày 31/3/2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư 08/2026/TT-BKHCN về việc hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất. Theo đó, từ 15/4/2026, việc đăng ký thuê bao di động sẽ không còn như trước mà phải thực hiện với những yêu cầu chặt chẽ về xác thực thông tin cá nhân. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Từ ngày 15/4/2026, khi chuyển SIM sang điện thoại mới, người dùng bắt buộc phải xác thực lại sinh trắc học (khuôn mặt) trong vòng 2 giờ để tránh bị khoá chiều gọi/nhắn tin.  Việc dùng sinh trắc học là Quy trình thực hiện qua app VNeID hoặc ứng dụng nhà mạng, nhằm ngăn chặn SIM rác và bảo mật tài khoản. Các quy định chính: Thời hạn: Phải xác thực lại trong vòng 2 tiếng sau khi đổi thiết bị. Đối tượng: Tất cả thuê bao đổi thiết bị mới. Người đã đăng ký VNeID mức độ 2 hoặc CCCD gắn chip vẫn phải xác thực lại khi thay đổi thiết bị. Hình thức xác thực: Trực tuyến trên ứng dụng VNeID. Trực tuyến trên ứng dụng của nhà mạng (Viettel, VNPT/VinaPhone, MobiFone, v.v.). Trực tiếp tại điểm giao dịch của nhà mạng. Thông tin cần xác thực: Chụp ảnh khuôn mặt, số căn cước, họ tên, ngày tháng năm sinh. Xử phạt: Nếu không xác thực, thuê bao sẽ bị tạm dừng dịch vụ chiều đi sau 30 ngày, sau đó dừng 2 chiều và có thể bị chấm dứt hợp đồng. Như vậy, từ ngày 15/4/2026, khi người dùng chuyển sim điện thoại sang thiết bị điện thoại mới bắt buộc phải xác thực sinh trắc học khuôn mặt.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thời gian gần đây, hệ thống quy định về xử phạt vi phạm giao thông liên tục được điều chỉnh, thay thế bằng các Nghị định mới. Đáng chú ý, việc bãi bỏ Nghị định 100/2019/NĐ-CP khiến nhiều người đặt ra câu hỏi: mức xử phạt hiện nay có gì thay đổi so với trước? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định 81/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, có hiệu lực từ ngày 15/5/2026. Điểm đáng chú ý, tại Nghị định 81/2026/NĐ-CP quy định bãi bỏ Nghị định 100/2019/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 123/2021/ NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng). Tuy nhiên, về bản chất, các quy định của Nghị định 100 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần trước đó. Cụ thể, tại Nghị định 168/2024/ NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ mà vẫn giữ lại các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt tại Nghị định 100/2019/ NĐ-CP. Đến ngày 22/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 336/2025/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ cũng tiếp tục điều chỉnh và bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt tại Nghị định 100/2019/ NĐ-CP. Như vậy, các quy định trước đây trong Nghị định 100 đã được chuyển sang các nghị định chuyên ngành riêng, áp dụng theo từng lĩnh vực cụ thể. Về mức xử phạt, theo thông tin từ cơ quan chức năng, việc bãi bỏ Nghị định 100 không làm thay đổi mức xử phạt vi phạm giao thông đường bộ hiện hành. Lý do là các quy định về xử phạt thực tế đã được áp dụng theo các nghị định mới từ trước đó, đặc biệt là từ thời điểm Nghị định 168/2024/NĐ-CP có hiệu lực (từ ngày 01/01/2025). Đáng chú ý, quy định pháp luật mới bổ sung cơ chế trừ điểm và phục hồi điểm giấy phép lái xe, thay vì chỉ áp dụng hình thức xử phạt tiền như trước. Sau nhiều lần được sửa đổi, bổ sung và phân tách theo từng lĩnh vực quản lý, Nghị định 100/2019/NĐ-CP đã được thay thế bằng Nghị định Nghị định 168/2024/ NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ và Nghị định 81/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, Nghị định 100/2019/NĐ-CP chính thức hết hiệu lực từ ngày 15/5/2026 . Mức xử phạt về cơ bản không thay đổi, nhưng cơ chế quản lý đã có sự điều chỉnh theo hướng chặt chẽ và phù hợp hơn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn giải đáp.
Khi sử dụng các nền tảng trực tuyến như website, mạng xã hội hay các nền tảng số kết nối Internet, không ít người dùng thường gặp tình trạng quảng cáo bất ngờ xuất hiện, che khuất nội dung đang xem và làm gián đoạn trải nghiệm. Kể từ ngày 15/2/2025 theo quy định mới, quảng cáo trên mạng phải cho tắt sau 5 giây, nhằm bảo đảm quyền chủ động và trải nghiệm thông suốt cho người dùng. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Theo khoản 3 Điều 17 Nghị định 342/2025/NĐ-CP, pháp luật đã quy định cụ thể về việc tắt quảng cáo trên môi trường mạng như sau: “Không có thời gian chờ tắt quảng cáo đối với quảng cáo dưới dạng hình ảnh tĩnh; thời gian chờ tắt quảng cáo tối đa là 05 giây đối với quảng cáo dưới dạng chuỗi hình ảnh chuyển động, video.” Cụ thể: - Quảng cáo dưới dạng hình ảnh tĩnh: không được đặt thời gian chờ, người dùng được quyền tắt ngay khi quảng cáo xuất hiện. - Quảng cáo dạng chuỗi hình ảnh chuyển động hoặc video: chỉ được phép thời gian chờ tối đa 5 giây, sau đó người dùng được quyền tắt quảng cáo ngay. Như vậy, trong mọi trường hợp, người dùng không phải chờ quá 5 giây để tắt quảng cáo. Quy định này bảo vệ quyền lựa chọn của người dùng, đồng thời hạn chế các quảng cáo gây phiền nhiễu hay gián đoạn trải nghiệm trên môi trường số. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Khi chuyển nhượng xe, nhiều người chỉ lo đến việc giao  mà quên mất thủ tục thu hồi giấy tờ xe và biển số của chủ cũ. Nếu chậm hoặc không thực hiện, chủ xe có thể bị xử phạt dù xe đã sang tên cho người khác. Vậy, theo pháp luật hiện hành, việc thu hồi giấy tờ xe sau khi chuyển quyền sở hữu được quy định như thế nào? Hậu quả nếu chậm thực hiện thủ tục thu hồi giấy tờ xe sau khi chuyển nhượng Khi chuyển quyền sở hữu xe, chủ xe hiện tại phải giữ lại chứng nhận đăng ký và biển số xe và thực hiện thủ tục thu hồi tại cơ quan đăng ký xe trong vòng 30 ngày kể từ ngày lập giấy tờ chuyển quyền sở hữu. Nếu chậm hoặc không thực hiện, chủ xe vẫn có thể bị xử phạt hành chính, ngay cả khi xe đã được người khác sử dụng. Theo khoản 5 Điều 6 Thông tư số 79/2024/TT-BCA, khi chuyển quyền sở hữu, chủ xe cần thực hiện các nghĩa vụ sau: Giữ lại giấy tờ xe Chủ xe không được giao chứng nhận đăng ký và biển số cho bên nhận. Chủ xe phải nộp chứng nhận đăng ký và biển số cho cơ quan đăng ký xe khi làm thủ tục thu hồi. Thực hiện thủ tục thu hồi trong 30 ngày Nếu quá thời hạn, cơ quan đăng ký sẽ lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt. Bên nhận quyền sở hữu có thể ký vào biên bản với tư cách người chứng kiến. Cấp lại đăng ký và biển số cho chủ mới Chỉ khi cơ quan đăng ký hoàn tất thủ tục thu hồi, bên nhận quyền sở hữu mới được làm thủ tục cấp chứng nhận đăng ký và biển số xe mới. Điều này đảm bảo rằng chủ mới chỉ sang tên xe sau khi chủ cũ đã hoàn tất nghĩa vụ thu hồi, tránh tranh chấp về quyền sở hữu.   Hậu quả pháp lý đối với hành vi không thu hồi chứng nhận đăng ký và biển số xe Căn cứ điểm d, khoản 8 Điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, hành vi không thu hồi chứng nhận đăng ký và biển số xe sẽ bị xử phạt như sau: "8. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 8.000.000 đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: a) Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; b) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe; c) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số xe, chứng nhận đăng ký xe nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; d) Không làm thủ tục thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định; đ) Đưa phương tiện không có chứng nhận đăng ký xe (hoặc bản sao chứng nhận đăng ký xe có chứng thực kèm theo bản gốc giấy biên nhận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong trường hợp tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giữ bản gốc chứng nhận đăng ký xe) tham gia giao thông hoặc có nhưng đã hết hạn sử dụng, hết hiệu lực; đưa phương tiện có chứng nhận đăng ký xe tạm thời, phương tiện có phạm vi hoạt động hạn chế tham gia giao thông quá thời hạn, tuyến đường, phạm vi cho phép; e) Đưa phương tiện có chứng nhận đăng ký xe (hoặc bản sao chứng nhận đăng ký xe có chứng thực kèm theo bản gốc giấy biên nhận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong trường hợp tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giữ bản gốc chứng nhận đăng ký xe) nhưng không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc bị tẩy xóa tham gia giao thông; đưa phương tiện có chứng nhận đăng ký xe (hoặc bản sao chứng nhận đăng ký xe có chứng thực kèm theo bản gốc giấy biên nhận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong trường hợp tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giữ bản gốc chứng nhận đăng ký xe) nhưng không đúng với số khung, số động cơ (số máy) của xe tham gia giao thông; g) Lắp đặt, sử dụng thiết bị thay đổi biển số trên xe trái quy định; h) Đưa phương tiện không gắn biển số (đối với loại xe có quy định phải gắn biển số) tham gia giao thông; đưa phương tiện gắn biển số không đúng với chứng nhận đăng ký xe hoặc gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp tham gia giao thông." Như vậy, theo quy định pháp luật, nếu cá nhân chậm hoặc không thực hiện thủ tục thu hồi giấy tờ xe sau khi chuyển nhượng, sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 – 6.000.000 đồng; đối với tổ chức, mức phạt từ 8.000.000 – 12.000.000 đồng. Việc chậm trễ này không chỉ là vi phạm quy định về đăng ký xe mà còn khiến chủ xe phải chịu hậu quả pháp lý trực tiếp. Do đó, để tránh rủi ro và bảo vệ quyền lợi của mình, chủ xe nên chủ động hoàn tất thủ tục thu hồi giấy tờ xe đầy đủ và đúng thời hạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.  
Ngày 15/05/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, có hiệu lực từ ngày 01/07/2025. Nghị định này thay thế một số quy định trước đó và điều chỉnh các quy định liên quan đến vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Dưới đây là nội dung chi tiết: 1. Hình thức xử phạt vi phạm hành chính Nghị định có quy định 02 hình thức xử phạt chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ bao gồm: cảnh cáo và phạt tiền (Khoản 1, Điều 3). Bên cạnh đó, còn có các hình thức xử phạt bổ sung (Khoản 2, Điều 3), bao gồm: - Đình chỉ hoạt động có thời hạn; - Tịch thu tang vật vi phạm hành chính; - Tước quyền sử dụng giấy phép là văn bản thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy, văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy từ 06 tháng đến 12 tháng. 2. Mức phạt tiền Theo quy định tại Điều 4, mức phạt tiền đối với cá nhân và tổ chức như sau:  - Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đối với cá nhân đến 50.000.000 đồng. - Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm gấp 02 lần đối với cá nhân.  3. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là 1 năm. Thời điểm tính thời hiệu được xác định từ khi hành vi vi phạm kết thúc hoặc được phát hiện (Điều 5). Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Theo Nghị quyết sáp nhập tỉnh năm 2025 được Quốc hội chính thức thông qua ngày 12/6/2025, Việt Nam sẽ có tổng cộng 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, bao gồm: I. 11 tỉnh, thành được giữ nguyên Thành phố Hà Nội Thành phố Huế Tỉnh Lai Châu Tỉnh Điện Biên Tỉnh Sơn La Tỉnh Lạng Sơn Tỉnh Quảng Ninh Tỉnh Thanh Hóa Tỉnh Nghệ An Tỉnh Hà Tĩnh Tỉnh Cao Bằng Tỉnh Tuyên Quang (sáp nhập tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang) Tỉnh Lào Cai (sáp nhập tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái) Tỉnh Thái Nguyên (sáp nhập tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn) Tỉnh Phú Thọ (sáp nhập các tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình và Vĩnh Phúc) Tỉnh Bắc Ninh (sáp nhập tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang) Tỉnh Hưng Yên (sáp nhập tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình) Thành phố Hải Phòng (sáp nhập tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng) Tỉnh Ninh Bình (sáp nhập tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam) Tỉnh Quảng Trị (sáp nhập tỉnh Quảng Trị và tỉnh Quảng Bình) Thành phố Đà Nẵng (sáp nhập tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng) Tỉnh Quảng Ngãi (sáp nhập tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum) Tỉnh Gia Lai (sáp nhập tỉnh Gia Lai và tỉnh Bình Định) Tỉnh Khánh Hòa (sáp nhập tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận) Tỉnh Lâm Đồng (sáp nhập tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận và Đắk Nông) Tỉnh Đắk Lắk (sáp nhập tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú Yên) Thành phố Hồ Chí Minh (sáp nhập thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) Tỉnh Đồng Nai (sáp nhập tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước) Tỉnh Tây Ninh (sáp nhập tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An) Thành phố Cần Thơ (sáp nhập thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang) Tỉnh Vĩnh Long (sáp nhập tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre) Tỉnh Đồng Tháp (sáp nhập tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tiền Giang) Tỉnh Cà Mau (sáp nhập tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu) Tỉnh An Giang (sáp nhập tỉnh An Giang và tỉnh Kiên Giang) Việc sắp xếp, sáp nhập các tỉnh, thành nhằm tinh gọn bộ máy hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo điều kiện để các địa phương phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế về kinh tế – xã hội, hạ tầng và nguồn lực. Đây là một bước đi chiến lược trong tiến trình đổi mới tổ chức bộ máy, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển bền vững, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo quốc phòng – an ninh và nâng cao đời sống nhân dân. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Năm 2025, Việt Nam thực hiện sáp nhập tỉnh thành, giảm từ 63 xuống 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết 60-NQ/TW ngày 12/4/2025, đồng thời triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (tỉnh và xã). Để đảm bảo hiệu quả hoạt động và đáp ứng nhu cầu người dân, sẽ được sắp xếp lại theo Kết luận 137-KL/TW và Nghị quyết 19-NQ/TW. Dưới đây là những thông tin quan trọng về việc sắp xếp này. 1. Sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập theo mô hình 2 cấp Sau khi mô hình chính quyền 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2025, các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND cấp huyện hiện nay sẽ được chuyển giao hoặc thành lập mới trực thuộc UBND cấp xã theo hướng dẫn của các Bộ quản lý chuyên ngành. Mục tiêu là: Tinh gọn bộ máy, giảm viên chức hưởng lương ngân sách. Nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công cơ bản, thiết yếu. Giải thể các đơn vị hoạt động không hiệu quả theo Nghị quyết 19-NQ/TW. UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm cơ cấu lại hoặc giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập kém hiệu quả, đảm bảo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. 2. Lĩnh vực giáo dục: Chuyển giao trường học cho cấp xã Trong lĩnh vực giáo dục, các trường công lập được sắp xếp như sau: Trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở: Giữ nguyên và chuyển giao cho UBND cấp xã quản lý, đảm bảo hoạt động giáo dục tại địa phương không bị gián đoạn. Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên: Chuyển về Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý, tổ chức lại để cung ứng dịch vụ theo khu vực liên xã, phường. Việc chuyển giao này giúp tăng cường quản lý giáo dục tại cơ sở, đồng thời tối ưu hóa nguồn lực giữa các địa phương. 3. Lĩnh vực y tế: Duy trì trạm y tế xã, sắp xếp bệnh viện huyện Trong lĩnh vực y tế, Chính phủ định hướng: Trạm y tế xã, phường: Duy trì để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân. Tùy thuộc vào diện tích và dân số của xã mới, UBND cấp tỉnh có thể tổ chức lại thành một đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND cấp xã để thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe. Trung tâm y tế, bệnh viện đa khoa cấp huyện: Chuyển về Sở Y tế quản lý, tổ chức lại để cung ứng dịch vụ y tế theo khu vực liên xã, phường. Mô hình này đảm bảo người dân tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý các cơ sở y tế quy mô lớn. Việc sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập sau sáp nhập tỉnh thành năm 2025 là bước đi chiến lược để tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng dịch vụ công và đáp ứng nhu cầu người dân. Với sự chuyển giao hợp lý trong lĩnh vực giáo dục, y tế và các dịch vụ công khác, cùng với việc giải thể các đơn vị kém hiệu quả, Việt Nam đang hướng tới một hệ thống hành chính hiện đại, hiệu quả. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh trong năm 2025 đang tạo ra những thay đổi sâu rộng trên bản đồ hành chính Việt Nam. Nhiều tỉnh, thành phố được sáp nhập để hình thành các đơn vị hành chính mới có quy mô lớn hơn, với mục tiêu tăng hiệu quả quản lý và thúc đẩy phát triển vùng. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi địa giới, một trong những mối quan tâm hàng đầu của người dân là việc các loại giấy tờ cá nhân như căn cước công dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy khai sinh... có cần phải điều chỉnh, cập nhật theo tên đơn vị hành chính mới hay không. Bài viết này sẽ làm rõ những thay đổi liên quan đến giấy tờ hành chính, căn cứ pháp lý hiện hành và hướng dẫn chính thức từ cơ quan nhà nước, nhằm giúp người dân chủ động, tránh tâm lý lo lắng và hạn chế phát sinh chi phí không cần thiết. 1. Các tỉnh thành sáp nhập Sáng 12/6/2025, Quốc hội đã chính thức thông qua nghị quyết sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh với 461/465 đại biểu có mặt tán thành, và có hiệu lực bắt đầu từ ngày hôm nay. Theo nghị quyết vừa được thông qua, cả nước được sắp xếp thành 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố, giảm so với con số 63 trước đó. Trong số 63 tỉnh thành, 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp gồm: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Sơn La và TP Hà Nội, TP Huế. Trong khi đó, 52 địa phương đã sáp nhập với nhau để trở thành 23 tỉnh và thành phố mới như sau: *Theo Nghị quyết 60 Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII  2. Có bắt buộc phải đổi giấy tờ khi sáp nhập tỉnh thành? Theo Điều 10 Nghị quyết 190/2025/QH15 có quy định về chuyển đổi giấy tờ cho cá nhân, tổ chức như sau: "Văn bản, giấy tờ đã được cơ quan, chức danh có thẩm quyền ban hành, cấp trước khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước mà chưa hết hiệu lực hoặc chưa hết thời hạn sử dụng thì tiếp tục được áp dụng, sử dụng theo quy định của pháp luật cho đến khi hết thời hạn hoặc được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, hủy bỏ, thu hồi bởi cơ quan, chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hoặc cơ quan, người có thẩm quyền." Theo đó, không được yêu cầu tổ chức, cá nhân làm thủ tục cấp đổi giấy tờ đã được cơ quan, chức danh có thẩm quyền cấp trước khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước khi các giấy tờ này chưa hết thời hạn sử dụng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, theo quy định nêu trên, không bắt buộc người dân phải đổi giấy tờ khi sáp nhập tỉnh, thành nếu giấy tờ đó còn hạn sử dụng. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Đợt sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025 tại Việt Nam đánh dấu một cột mốc quan trọng trong cải cách hành chính, nhằm tinh gọn bộ máy, tối ưu hóa nguồn lực và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Theo Nghị quyết 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cả nước sẽ giảm từ 63 tỉnh, thành xuống còn 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc Trung ương. Dưới đây là 3 điểm mới nổi bật trong đợt sáp nhập này: 1. Số tỉnh thành ít nhất trong lịch sử Kể từ năm 1975 đến nay, Việt Nam đã trải qua nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính cấp tỉnh, bao gồm các đợt chia tách và sáp nhập. Tuy nhiên, đợt sáp nhập dự kiến diễn ra vào năm 2025 được xem là một dấu mốc đặc biệt, khi cả nước sẽ có số lượng tỉnh, thành phố ít nhất trong gần 50 năm qua. Thời điểm đất nước thống nhất năm 1975, cả nước có tổng cộng 72 đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong đó miền Bắc gồm 28 tỉnh, thành phố và đặc khu; miền Nam có 44 tỉnh, thành phố. Qua nhiều đợt sáp nhập, đến năm 1978, con số này giảm xuống còn 38 tỉnh, thành. Trong giai đoạn 1978–2008, bản đồ hành chính Việt Nam liên tục được điều chỉnh qua nhiều lần chia tách. Năm 1991, số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là 53; đến giai đoạn 1996–1997, con số này tăng lên 61. Năm 2003, Quốc hội thông qua việc chia tách một số tỉnh như: Đăk Lăk tách thành Đăk Lăk và Đăk Nông; Hậu Giang chia thành tỉnh Hậu Giang và TP Cần Thơ; Lai Châu chia thành Lai Châu và Điện Biên – nâng tổng số lên 64 tỉnh, thành. Tháng 5 năm 2008, Quốc hội quyết định mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội bằng việc sáp nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình) vào TP Hà Nội. Sau điều chỉnh, cả nước còn 63 tỉnh, thành và giữ ổn định số lượng này suốt 17 năm qua. So với các lần trước, đợt sáp nhập năm 2025 có quy mô lớn nhất và được triển khai đồng loạt trên toàn quốc, thay vì tiến hành theo từng giai đoạn. Theo đề án, số lượng tỉnh, thành sẽ giảm gần một nửa – từ 63 xuống còn 34, tức còn thấp hơn cả mốc 38 tỉnh, thành vào năm 1978. Việc giảm hơn 40% số đơn vị cấp tỉnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức bộ máy tinh gọn, tiết kiệm chi phí hành chính, đồng thời thúc đẩy phân bố lại không gian phát triển vùng miền hợp lý hơn. *Nguồn: Nghị quyết 60 của Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành Trung ương khóa 13 2. Hình thành các siêu đô thị quy mô lớn Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong việc tái cấu trúc các đơn vị hành chính, đặc biệt là với quy mô đô thị lớn trên cả nước. Các thành phố trực thuộc Trung ương không chỉ thay đổi về địa giới mà còn bứt phá mạnh mẽ về diện tích, dân số và vai trò kinh tế - hành chính. TP Hồ Chí Minh là địa phương có sự thay đổi nổi bật nhất. Từ quy mô ban đầu là 9,5 triệu dân trên diện tích khoảng 2.000 km², sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố sẽ mở rộng thành siêu đô thị rộng 6.770 km², với dân số lên tới 13,5 triệu người. Đây là đô thị đông dân nhất cả nước và cũng trở thành thành phố có diện tích lớn thứ hai trong nhóm sáu đô thị trực thuộc Trung ương, vượt gấp đôi diện tích Hà Nội hiện tại. Lần đầu tiên, một đô thị sẽ đồng thời sở hữu hai sân bay: Tân Sơn Nhất và Côn Đảo, tạo ra lợi thế vượt trội về kết nối và phát triển vùng. Tại miền Bắc, Hải Phòng sẽ hợp nhất với Hải Dương để trở thành thành phố Hải Phòng mới, có diện tích gần 3.200 km² và dân số 4,1 triệu người. Sự hợp nhất này giúp Hải Phòng nâng cao vai trò là trung tâm công nghiệp – cảng biển của khu vực Bắc Bộ. Đà Nẵng cũng ghi nhận bước tiến vượt bậc khi sáp nhập với tỉnh Quảng Nam, hình thành một đô thị mới có diện tích lên tới 11.800 km² và dân số 2,8 triệu người. Với quy mô này, Đà Nẵng trở thành thành phố có diện tích lớn nhất trong sáu đô thị trực thuộc Trung ương, tạo điều kiện để phát triển toàn diện từ ven biển đến vùng núi, từ công nghiệp đến du lịch. Ở miền Tây Nam Bộ, thành phố Cần Thơ sẽ hợp nhất với Sóc Trăng và Hậu Giang, hình thành thành phố Cần Thơ mới có diện tích 6.300 km² và dân số khoảng 3,2 triệu. Đây sẽ là trung tâm kinh tế - giao thông quan trọng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, với tiềm năng phát triển nông nghiệp hiện đại và hạ tầng logistics. Đợt sáp nhập năm 2025 không chỉ mở rộng quy mô địa lý, mà còn đặt nền móng cho một chiến lược phát triển mới: hình thành các đô thị đa trung tâm, tích hợp lợi thế về địa hình, dân số và hạ tầng. Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, đây là một cuộc tái cơ cấu toàn diện về không gian kinh tế và phân bổ nguồn lực quốc gia, nhằm phục vụ cho phát triển vùng hiệu quả, đồng bộ và bền vững hơn trong tương lai. 3. Tỉnh Lâm Đồng rộng nhất cả nước Sau đợt sáp nhập hành chính năm 2025, Lâm Đồng vươn lên trở thành tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam. Với việc hợp nhất ba tỉnh gồm Lâm Đồng, Bình Thuận và Đăk Nông, tỉnh Lâm Đồng mới sẽ có diện tích hơn 24.000 km², vượt xa tỉnh Nghệ An hiện nay – vốn đang dẫn đầu với 16.500 km². Trong khi đó, Hưng Yên – Thái Bình sau khi hợp nhất sẽ trở thành tỉnh có diện tích nhỏ nhất cả nước với khoảng 2.500 km². Tuy nhiên, diện tích này vẫn lớn hơn tổng diện tích của ba tỉnh nhỏ nhất hiện tại là Bắc Ninh, Hà Nam và Hưng Yên cũ. Sự chênh lệch giữa tỉnh lớn nhất và nhỏ nhất sau sáp nhập được thu hẹp hơn so với trước kia, tuy nhiên vẫn ở mức đáng kể: Lâm Đồng mới rộng gấp gần 10 lần Hưng Yên mới. Về dân số, Bắc Kạn hiện là tỉnh có dân số thấp nhất cả nước với 324.000 người. Sau sáp nhập, vị trí này sẽ chuyển sang tỉnh Lai Châu, với dân số khoảng 490.000 người. Thay đổi này phản ánh mục tiêu tái cấu trúc hợp lý, không chỉ về địa giới mà còn hướng đến cân bằng dân cư giữa các vùng miền. Việc Lâm Đồng trở thành tỉnh rộng nhất cả nước đánh dấu một thay đổi quan trọng trong bản đồ hành chính Việt Nam. Đây không chỉ là sự thay đổi về quy mô, mà còn mở ra cơ hội mới trong phân bổ nguồn lực, phát triển liên vùng và xây dựng các cực tăng trưởng chiến lược trong giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
   Hành vi trộm cắp tài sản ngày càng trở nên đáng báo động, điều này khiến trật tự - trị an xã hội trở nên rối ren, không được bảo đảm. Việc trộm cắp gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cả về tài sản lẫn tinh thần của người bị trộm cắp. Pháp luật Việt Nam đã giải quyết hiện trạng nên trên bằng việc ban hành hàng loạt những quy định về Trộm cắp tài sản. Vậy những quy định đó được hiểu như thế nào?  Công ty Luật VietLawyer xin chia sẻ về vấn đề này qua bài viết dưới đây. Trộm cắp tài sản là gì?    Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không có định nghĩa cụ thể trộm cắp tài sản là gì. Tuy nhiên có thể hiểu, trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật mà trong đó người phạm tội thực hiện hành vi cố ý chiếm đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức khác một cách lén lút để thu lợi bất chính từ tài sản đó. Các yếu tố cấu thành Về mặt khách quan    - Về hành vi: Hành vi phạm tội này mang tính chất chiếm đoạt tài sản nhưng sự chiếm đoạt ở đây được thực hiện bằng hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của cá nhân, tổ chức quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan như chen lấn, xô đẩy,...nhằm tiếp cận cá nhân, tổ chức để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.    - Về hậu quả: Hậu quả của tội trộm cắp tài sản là gây ra thiệt hại về giá trị tài sản bị chiếm đoạt bất hợp pháp. Tài sản bị trộm cắp có thể là các loại tiền, hàng hóa, giấy tờ có giấy trị thanh toán.    Lưu ý: Chỉ những giá trị tài sản bị trộm cắp từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm tội trộm cắp tài sản; còn nếu tài sản trộm cắp có trị giá dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo các điều kiện khác. Về mặt chủ quan    - Đây là lỗi cố ý, tức người phạm tội nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản nhất định hoặc có thể gây ra thiệt hại về tài sản cho người khác nhưng lại mong muốn hoặc cố ý bỏ mặc hậu quả đó xảy ra với đối tượng bị trộm cắp.    - Mục đích: Mong muốn chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức. Về mặt khách thể    Khách thể của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, trường hợp sau khi trộm tài sản của tổ chức, cá nhân, mà người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khác (Ví dụ: Tội giết người, Tội cướp tài sản,...) Về mặt chủ thể    - Theo Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), chủ thể của tội trộm cắp tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên.    - Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu các khung hình phạt rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng của tội trộm cắp tài sản (Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hình phạt      * Xử phạt hành chính:    Đối với cá nhân thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu, không gây ra hậu quả nghiêm trọng về giá trị tài sản (cụ thể là dưới 2.000.000 đồng) và chưa bị kết án về các tội về chiếm đoạt tài sản thì người thực hiện hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính.    Cụ thể tại Điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định xử  phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình: “ 1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: a) Trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản;”    * Truy cứu trách nhiệm hình sự:    Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017 ), cụ thể như sau:    - Khung 1:    Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:    + Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;    + Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;    + Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;    + Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;    + Tài sản là di vật, cổ vật.    - Khung 2:    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:    + Có tổ chức;    + Có tính chất chuyên nghiệp;    + Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;    + Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;    + Hành hung để tẩu thoát;    + Tài sản là bảo vật quốc gia;    + Tái phạm nguy hiểm.    - Khung 3:    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:    + Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;    + Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.    - Khung 4:    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:    + Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;    + Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.    - Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.    Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
 
hotline 0936 645 695