Nhiều người cho rằng tài sản là của mình thì có quyền tự ý lấy lại bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trên thực tế không phải trường hợp nào cũng vậy. Trong một số trường hợp, mặc dù tài sản thuộc quyền sở hữu của mình nhưng nếu tài sản đang do người khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý hợp pháp, việc lén lút lấy lại tài sản vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Dưới đây là những phân tích về các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này.

1. Trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
- Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định: Người nào lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác đủ điều kiện luật định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản.
- Trên thực tế, cụm từ "tài sản của người khác" không chỉ được hiểu là tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác mà còn bao gồm trường hợp tài sản đang thuộc sự quản lý hợp pháp của người khác hoặc của cơ quan có thẩm quyền.
=> Vì vậy, nếu chủ sở hữu hoặc người cho rằng mình có quyền đối với tài sản tự ý lén lút lấy lại tài sản khi tài sản đang do người khác quản lý hợp pháp thì vẫn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
- Quan điểm này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khẳng định tại Án lệ số 74/2025/AL khái quát như sau: Cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông và tạm giữ phương tiện vi phạm của bị cáo để xử lý. Sau đó, bị cáo lén lút vào khu vực tạm giữ phương tiện vi phạm của cơ quan có thẩm quyền, lấy phương tiện của mình mang đi cất giấu. Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
- Mức hình phạt đối với hành vi này:
+ Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu chiếm đoạt tài sản trị giá từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
+ Phạt tù từ 02 năm đến 20 năm tùy thuộc vào các trường hợp quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
2. Trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
- Không phải mọi trường hợp lấy lại tài sản của mình đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu việc nhận lại tài sản được thực hiện công khai, được người đang quản lý tài sản đồng ý, hoặc thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền, thì đây là việc thực hiện quyền theo đúng quy định của pháp luật và không phải là hành vi phạm tội.
- Trường hợp giữa các bên phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản thì các bên nên yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo trình tự pháp luật. Việc tự ý lén lút lấy lại tài sản để giải quyết tranh chấp có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự nếu đủ căn cứ theo Điều 173 Bộ luật Hình sự.
⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
