Tất cả sản phẩm

  Chuyển khoản nhầm là tình huống khá phổ biến hiện nay. Khi nhận được tiền không phải của mình, người nhận cần xử lý như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ Điều 579 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ hoàn trả tài sản không có căn cứ pháp luật như sau: "Điều 579. Nghĩa vụ hoàn trả 1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này. 2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này." Như vậy, bất kỳ ai đang giữ hoặc được hưởng lợi từ tài sản mà không có căn cứ pháp luật thì đều phải hoàn trả. Trong trường hợp chuyển khoản nhầm, người nhận không có cơ sở pháp lý để giữ số tiền đó (VD: không có hợp đồng, không có giao dịch hợp lệ,...). Vì vậy, trong trường hợp này, người nhận có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ số tiền đã nhận cho chủ sở hữu hợp pháp. Trách nhiệm pháp lý khi không trả lại tiền đã nhận do chuyển khoản nhầm (1) Trách nhiệm dân sự Trước hết, người nhận tiền có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận nhầm cho người chuyển. Bên cạnh đó, người nhận còn phải hoàn trả cả phần lợi ích phát sinh (nếu có) từ số tiền đã nhận. Ví dụ, nếu số tiền này được gửi tiết kiệm, đầu tư sinh lãi hoặc mang lại bất kỳ khoản lợi nào khác, thì phần lợi ích đó cũng phải được hoàn trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Trong trường hợp việc chậm trả hoặc cố tình không trả tiền gây ra thiệt hại thực tế cho người bị chuyển nhầm, thì người nhận tiền có thể phải bồi thường thiệt hại. Nếu người nhận cố tình không hoàn trả, người bị chuyển nhầm có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. (2) Trách nhiệm hành chính Trường hợp cá nhân nhận được tiền do chuyển khoản nhầm nhưng không hoàn trả chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì vẫn có thể bị xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể, hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP: "Điều 18. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác ... 2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: ... đ) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc sử dụng, mua, bán, thế chấp, cầm cố trái phép tài sản của người khác; ..." Ngoài hình thức xử phạt chính là phạt tiền, người vi phạm còn có thể phải chịu các hình thức xử phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm. - Biện pháp khắc phục hậu quả: + Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; + Buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép đối với hành vi vi phạm. Mức phạt trên áp dụng với cá nhân vi phạm, nếu tổ chức có hành vi vi phạm tương tự thì phạt gấp đôi. (3) Trách nhiệm hình sự Trường hợp người nhận tiền nhầm cố tình không trả sau khi đã được chủ sở hữu hoặc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, mà đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) như sau: "Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản 1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. 2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm." Lưu ý: - Nếu bạn là người nhận nhầm: Nên chủ động liên hệ ngân hàng để yêu cầu hoàn trả ngay. Ngoài ra, hiện nay tình trạng lợi dụng việc chuyển khoản nhầm để lừa đảo xảy ra khá phổ biến, do vậy nếu không chắc chắn các thông tin của chủ sở hữu hoặc nghi ngờ bị lừa đảo thì cần trình báo ngay cho cơ quan công an. - Nếu bạn là người chuyển nhầm: Nên chủ động liên hệ ngân hàng để tra soát giao dịch và gửi văn bản yêu cầu người nhận hoàn trả (qua ngân hàng hoặc trực tiếp cho người nhận). Nếu người nhận không hợp tác có thể trình báo công an hoặc khởi kiện dân sự Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Tôi có cho một người bạn vay số tiền 150.000.000 đồng. Khi cho vay, hai bên có thỏa thuận về việc tính lãi, tuy nhiên nội dung lãi suất cụ thể lại không được ghi nhận trong giấy nợ. Khi đến hạn thanh toán, giữa hai bên phát sinh tranh chấp liên quan đến việc trả lãi. Trong trường hợp này, mức lãi suất sẽ được xác định như thế nào theo quy định pháp luật? Trả lời: Căn cứ tại Điều 30 Luật Dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. 2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.” Theo quy định, lãi suất sẽ được tính như sau: ·      Nếu có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất, thì: -       Lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn ·      Mức lãi suất trần theo quy định là: -       Không được vượt quá 20%/năm của khoản vay (trừ trường hợp luật có quy định khác) ð Lãi suất áp dụng trong trường hợp của bạn là 50% x 20% = 10% Cách tính như sau: ·      Số tiền vay: 150.000.000 đồng ·      Lãi suất: 10%/năm Giả sử, tiền lãi của 1 năm được tính như sau: 150.000.000 x 10% = 15.000.000 Nếu vay trong thời gian ngắn hơn, tiền lãi xác định là: - Đối với 6 tháng: 150.000.000 x 10% x ½ = 7.500.000 đồng - Đối với 3 tháng: 150.000.000 x 10% x ¼ = 3.750.000 đồng Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 về lãi suất, mức lãi suất vay tiền cũng theo thỏa thuận, nhưng không được vượt quá 20%/năm (nếu thỏa thuận không rõ thì sẽ là 10%/năm). Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Thời gian gần đây, thông tin về quy định mới liên quan đến dạy thêm, học thêm có hiệu lực từ ngày 15/05/2026 khiến nhiều phụ huynh và giáo viên không khỏi băn khoăn. Vậy thực tế quy định mới quy định như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Theo quy định tại Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được ban hành ngày 30/12/2024 và có hiệu lực từ ngày 14/02/2025 thì Bộ Giáo dục Đào tạo không cấm dạy thêm học thêm. Theo đó, hoạt động dạy thêm, học thêm được phân thành hai hình thức: (1) Dạy thêm, học thêm trong nhà trường  (2) Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường Và khi Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT sửa đổi Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT quy định về dạy thêm, học thêm do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành có hiệu lực từ ngày 15/05/2026 sửa đổi một số quy định của Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT cũng không cấm dạy thêm học thêm, mà quy định rõ hơn về cách tổ chức và điều kiện dạy thêm, học thêm. Theo đó, đối với Dạy thêm, học thêm trong nhà trường, Thông tư mới quy định như sau: (1) Việc dạy thêm, học thêm trong nhà trường không được thu tiền của học sinh và chỉ dành cho các đối tượng học sinh đăng kí học thêm theo từng môn học như sau: - Học sinh có kết quả học tập môn học cuối học kì liền kề ở mức chưa đạt; - Học sinh được nhà trường lựa chọn để bồi dưỡng học sinh giỏi; - Học sinh lớp cuối cấp tự nguyện đăng kí ôn thi tuyển sinh, ôn thi tốt nghiệp theo kế hoạch giáo dục của nhà trường. Lưu ý: Học sinh thuộc các nhóm trên phải viết đơn đăng ký học thêm theo từng môn. (2) Căn cứ vào số học sinh đăng kí, nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức dạy thêm đối với từng môn học ở từng khối lớp. (3) Việc xếp lớp, xếp thời khóa biểu và tổ chức dạy thêm, học thêm phải bảo đảm yêu cầu sau: - Mỗi lớp có không quá 45 (bốn mươi lăm) học sinh; - Không được xếp giờ dạy thêm chen vào giờ học chính khóa và Không được dạy trước chương trình - Mỗi môn học được tổ chức dạy thêm không quá 02 (hai) tiết/tuần. Trường hợp học sinh thuộc đối tượng đăng kí học thêm có nhu cầu học thêm vượt quá 02 (hai) tiết/tuần, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo xem xét, quyết định cho phép điều chỉnh thời lượng tổ chức dạy thêm theo đề nghị của Hiệu trưởng hoặc Giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng). (4) Kế hoạch tổ chức dạy thêm, học thêm được công khai trên trang thông tin điện tử của nhà trường hoặc niêm yết tại nhà trường. Đối với Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường: (1) Tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh (sau đây gọi chung là cơ sở dạy thêm) phải thực hiện các yêu cầu sau: - Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật; - Công khai, cập nhật thường xuyên trên trang thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm để bảo đảm sự tham gia giám sát của học sinh, gia đình và cộng đồng xã hội (2) Người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm. (3) Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm tuân thủ quy tắc ứng xử của nhà giáo theo quy định, có trách nhiệm báo cáo với Hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thế đứng tên đăng kí kinh doanh cơ sở dạy thêm, thời gian tham gia dạy thêm trước khi bắt đầu và cập nhật kịp thời khi có thay đổi đối với các nội dung đã báo cáo, bảo đảm minh bạch, phòng ngừa xung đột lợi ích trong hoạt động dạy thêm Như vậy, từ 15/05/2026, không cấm dạy thêm, học thêm chính đáng, nhưng sẽ bị quản lý chặt hơn để hạn chế tiêu cực. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Hiện nay, hành vi mở phòng khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép ngày càng tràn lan. Cụ thể, hàng loạt phòng khám, cơ sở nha khoa ở Đắk Lắk hoạt động không có giấy phép hoạt động bị xử phạt, đình chỉ hoạt động. Vậy các hành vi có bị xử phạt hay truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi sai phạm này không?.Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.  Theo quy định tại khoản 15 Điều 7 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2023, một trong những hành vi bị cấm là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa khi “không có giấy phép hoạt động, đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động, không đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép,…”. I. Quy định về mức xử phạt hành chính (cảnh cáo, phạt tiền): Căn cứ khoản 6 Điều 39 Nghị định 117/2020 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế. Đối với hành vi vi phạm điều cấm trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh mức xử phạt từ phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành không có giấy phép hoạt động vẫn cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Ngoài ra, cơ sở vi phạm có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là đình chỉ cơ sở hoạt động trong thời hạn 12 tháng đến 24 tháng đối với hành vi  cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh .   II. Quy định về xử lý hình sự Căn cứ quy định tại Điều 315 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Điều 315. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác 1. Người nào vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 259 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”. Như vậy, tùy vào mức độ, hậu quả tổn thất mà các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không có giấy phép hoạt động gây ra để truy cứu trách nhiệm.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
Trong thực tế, nhiều hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ thường băn khoăn liệu hoạt động của mình có phải đăng ký hộ kinh doanh hay không? Việc hiểu và áp dụng đúng quy định pháp luật không chỉ giúp hạn chế rủi ro pháp lý mà còn bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh được thực hiện đúng quy định.  Căn cứ theo khoản 3 Điều 82 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định như sau: "Điều 82. Quyền thành lập hộ kinh doanh .... 3. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương." Như vậy, năm 2026, trường hợp hộ kinh doanh hộ gia đình hoạt động chăn nuôi thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp không phải đăng ký hộ kinh doanh nếu mang tính chất nhỏ lẻ, tự sản xuất. Lưu ý: Trường hợp hoạt động thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì vẫn phải thực hiện đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đối với lĩnh vực chăn nuôi, không phải mọi trường hợp đều được miễn đăng ký. Cụ thể, các hoạt động sau đây vẫn phải đăng ký kinh doanh: - Kinh doanh chăn nuôi trang trại; - Kinh doanh giết mổ gia súc, gia cầm. Theo Phụ lục IV ban hành kèm theo Luật Đầu tư 2020, đây là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. 👉 Do đó: - Khi hộ gia đình chuyển sang mô hình trang trại, sản xuất quy mô lớn; - Hoặc thực hiện giết mổ gia súc, gia cầm để kinh doanh. thì bắt buộc phải đăng ký hộ kinh doanh (hoặc hình thức kinh doanh phù hợp) và đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp tại Thông tư số 60/2025/TT-BYT đã quy định thêm tiêu chí để xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ quy định tại Điều 5 Thông tư số 60/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp. Việc xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây: 1. Xác định được mối liên hệ giữa việc tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động với một bệnh cụ thể. Một số bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc lần đầu với yếu tố có hại trong quá trình lao động, người lao động có thể đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. 2. Bệnh xảy ra trong nhóm người lao động tiếp xúc với yếu tố có hại thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với nhóm người lao động không tiếp xúc. 3. Bệnh xảy ra ở người lao động do tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động nhưng chưa có điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam mà đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội thì bổ sung vào danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội Như vậy, so với quy định cũ Thông tư số 60/2025/TT-BYT đã quy định tiêu chí để xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội đáp ứng các tiêu chí trên trong tương lai.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Ngày 31/3/2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư 08/2026/TT-BKHCN về việc hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất. Theo đó, từ 15/4/2026, việc đăng ký thuê bao di động sẽ không còn như trước mà phải thực hiện với những yêu cầu chặt chẽ về xác thực thông tin cá nhân. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Từ ngày 15/4/2026, khi chuyển SIM sang điện thoại mới, người dùng bắt buộc phải xác thực lại sinh trắc học (khuôn mặt) trong vòng 2 giờ để tránh bị khoá chiều gọi/nhắn tin.  Việc dùng sinh trắc học là Quy trình thực hiện qua app VNeID hoặc ứng dụng nhà mạng, nhằm ngăn chặn SIM rác và bảo mật tài khoản. Các quy định chính: Thời hạn: Phải xác thực lại trong vòng 2 tiếng sau khi đổi thiết bị. Đối tượng: Tất cả thuê bao đổi thiết bị mới. Người đã đăng ký VNeID mức độ 2 hoặc CCCD gắn chip vẫn phải xác thực lại khi thay đổi thiết bị. Hình thức xác thực: Trực tuyến trên ứng dụng VNeID. Trực tuyến trên ứng dụng của nhà mạng (Viettel, VNPT/VinaPhone, MobiFone, v.v.). Trực tiếp tại điểm giao dịch của nhà mạng. Thông tin cần xác thực: Chụp ảnh khuôn mặt, số căn cước, họ tên, ngày tháng năm sinh. Xử phạt: Nếu không xác thực, thuê bao sẽ bị tạm dừng dịch vụ chiều đi sau 30 ngày, sau đó dừng 2 chiều và có thể bị chấm dứt hợp đồng. Như vậy, từ ngày 15/4/2026, khi người dùng chuyển sim điện thoại sang thiết bị điện thoại mới bắt buộc phải xác thực sinh trắc học khuôn mặt.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thời gian gần đây, hệ thống quy định về xử phạt vi phạm giao thông liên tục được điều chỉnh, thay thế bằng các Nghị định mới. Đáng chú ý, việc bãi bỏ Nghị định 100/2019/NĐ-CP khiến nhiều người đặt ra câu hỏi: mức xử phạt hiện nay có gì thay đổi so với trước? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định 81/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, có hiệu lực từ ngày 15/5/2026. Điểm đáng chú ý, tại Nghị định 81/2026/NĐ-CP quy định bãi bỏ Nghị định 100/2019/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 123/2021/ NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng). Tuy nhiên, về bản chất, các quy định của Nghị định 100 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần trước đó. Cụ thể, tại Nghị định 168/2024/ NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ mà vẫn giữ lại các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt tại Nghị định 100/2019/ NĐ-CP. Đến ngày 22/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 336/2025/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ cũng tiếp tục điều chỉnh và bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt tại Nghị định 100/2019/ NĐ-CP. Như vậy, các quy định trước đây trong Nghị định 100 đã được chuyển sang các nghị định chuyên ngành riêng, áp dụng theo từng lĩnh vực cụ thể. Về mức xử phạt, theo thông tin từ cơ quan chức năng, việc bãi bỏ Nghị định 100 không làm thay đổi mức xử phạt vi phạm giao thông đường bộ hiện hành. Lý do là các quy định về xử phạt thực tế đã được áp dụng theo các nghị định mới từ trước đó, đặc biệt là từ thời điểm Nghị định 168/2024/NĐ-CP có hiệu lực (từ ngày 01/01/2025). Đáng chú ý, quy định pháp luật mới bổ sung cơ chế trừ điểm và phục hồi điểm giấy phép lái xe, thay vì chỉ áp dụng hình thức xử phạt tiền như trước. Sau nhiều lần được sửa đổi, bổ sung và phân tách theo từng lĩnh vực quản lý, Nghị định 100/2019/NĐ-CP đã được thay thế bằng Nghị định Nghị định 168/2024/ NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ và Nghị định 81/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, Nghị định 100/2019/NĐ-CP chính thức hết hiệu lực từ ngày 15/5/2026 . Mức xử phạt về cơ bản không thay đổi, nhưng cơ chế quản lý đã có sự điều chỉnh theo hướng chặt chẽ và phù hợp hơn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn giải đáp.
Trong thực tế, không ít trường hợp một bên vợ hoặc chồng tự đứng ra vay tiền mà không có sự tham gia, đồng ý của người còn lại. Khi phát sinh tranh chấp, câu hỏi thường gặp là: người không ký vay có phải cùng chịu trách nhiệm trả nợ hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng như sau: "Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng 1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này. 2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này." Như vậy, pháp luật không yêu cầu bắt buộc cả hai vợ chồng cùng ký thì mới phát sinh nghĩa vụ chung. Trong một số trường hợp, dù chỉ một người vay, cả hai vẫn phải cùng chịu trách nhiệm. Cụ thể: (1) Vay để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Nếu khoản vay được sử dụng cho các nhu cầu như: ăn uống, sinh hoạt, chữa bệnh, học tập… thì đây được coi là nhu cầu thiết yếu của gia đình. → Khi đó, dù chỉ một người đứng ra vay, người còn lại vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ. (2) Vay trong phạm vi đại diện giữa vợ và chồng phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (3) Khoản vay thuộc nghĩa vụ chung về tài sản Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngược lại, nếu khoản vay: - Không phục vụ nhu cầu gia đình - Không có sự ủy quyền hoặc đại diện hợp pháp - Chỉ phục vụ mục đích cá nhân riêng (ví dụ: tiêu xài cá nhân, đầu tư riêng, đánh bạc, vay để cho người khác…) → Thì đây là nghĩa vụ riêng của người vay, người còn lại không phải chịu trách nhiệm liên đới. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Việc gia hạn quyền sử dụng đất là một thủ tục quan trọng đối với các loại đất có thời hạn. Trong thực tế, không ít trường hợp người sử dụng đất quên hoặc chậm thực hiện thủ tục này và đặt ra câu hỏi liệu có bị thu hồi đất hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. 1. Không làm thủ tục gia hạn khi hết thời hạn sử dụng đất có thể bị thu hồi không? Theo khoản 3 Điều 172 Luật Đất đai 2024 quy định về đất sử dụng có thời hạn như sau: “Điều 172. Đất sử dụng có thời hạn ... 3. Việc gia hạn sử dụng đất được thực hiện trong năm cuối của thời hạn sử dụng đất, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Người sử dụng đất có nhu cầu gia hạn sử dụng đất phải nộp hồ sơ đề nghị gia hạn chậm nhất là 06 tháng trước khi hết thời hạn sử dụng đất. Quá thời hạn phải nộp hồ sơ đề nghị gia hạn mà người sử dụng đất không nộp hồ sơ đề nghị gia hạn thì không được gia hạn sử dụng đất, trừ trường hợp bất khả kháng. Trường hợp không được gia hạn sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thu hồi đất theo quy định của Luật này. ...” Theo đó, việc gia hạn không được thực hiện tự động. Nếu không thực hiện thủ tục gia hạn đúng thời hạn, quyền sử dụng đất có thể bị thu hồi theo quy định của pháp luật. Nếu muốn tiếp tục sử dụng đất, người sử dụng đất phải chủ động nộp hồ sơ trong thời hạn luật định. 2. Hồ sơ đề nghị gia hạn quyền sử dụng đất Hồ sơ bao gồm đơn xin gia hạn sử dụng đất theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định 151/2025/NĐ-CP và một trong các giấy tờ sau: - Một trong các giấy chứng nhận quy định tại khoản 21 Điều 3, khoản 3 Điều 256 Luật Đất đai; - Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ; - Văn bản của cơ quan có thẩm quyền cho phép gia hạn thời hạn hoạt động của dự án đầu tư hoặc thể hiện thời hạn hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư đối với trường hợp sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư. Trường hợp không nộp hồ sơ đúng thời hạn thì sẽ không được gia hạn, trừ khi có lý do bất khả kháng. Khi không được gia hạn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện thu hồi đất theo quy định. Do đó, người sử dụng đất cần chú ý: - Theo dõi thời hạn sử dụng đất. - Chủ động nộp hồ sơ gia hạn tại một trong các cơ quan sau: (1) Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh hoặc cấp xã. (2) Văn phòng đăng ký đất đai. (3) Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong hoạt động kinh doanh, việc xác định nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là vấn đề mà nhiều cá nhân, hộ kinh doanh quan tâm. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều phải nộp thuế, mà phụ thuộc vào mức doanh thu theo quy định của pháp luật. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. 1. Ngưỡng doanh thu được miễn thuế TNCN Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định: ”Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cả cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm người đại diện hộ kinh doanh (sau đây gọi là cá nhân kinh doanh) có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.” Như vậy, nếu có doanh thu trong năm từ 500 triệu đồng trở xuống thì không phải nộp thuế TNCN. Tuy nhiên hộ, cá nhân kinh doanh vẫn phải tiến hành kê khai thuế,  thông báo doanh thu thực tế cho cơ quan thuế theo quy định. Lưu ý: Không phải nộp thuế không đồng nghĩa với việc không thực hiện thủ tục thuế. 2. Trường hợp phải nộp thuế TNCN Khi doanh thu trong năm vượt trên 500 triệu đồng, cá nhân kinh doanh bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định tại Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân. Công thức: 👉 Thuế TNCN = Thu nhập tính thuế × Thuế suất Trong đó: - Thu nhập tính thuế = Doanh thu – Chi phí hợp lý; - Chi phí hợp lý là các khoản chi phục vụ hoạt động kinh doanh, có đầy đủ chứng từ hợp lệ. - Mức thuế suất áp dụng theo doanh thu (1) Doanh thu trên 500 triệu đến 3 tỷ đồng: 15% (2) Doanh thu trên 3 tỷ đến 50 tỷ đồng: 17% (3) Doanh thu trên 50 tỷ đồng: 20% Lưu ý: Cá nhân cho thuê bất động sản, trừ hoạt động kinh doanh lưu trú, nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định = (Doanh thu - 500 triệu) x 5%) Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Công ty ngừng hoạt động nhưng chưa giải thể, chủ doanh nghiệp còn nghĩa vụ gì? Trong thực tế, không ít doanh nghiệp sau một thời gian kinh doanh thua lỗ hoặc gặp khó khăn đã “đóng cửa” ngừng hoạt động nhưng lại chưa thực hiện thủ tục giải thể theo quy định pháp luật. Nhiều chủ doanh nghiệp cho rằng chỉ cần ngừng kinh doanh là không còn nghĩa vụ gì. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, việc ngừng hoạt động không đồng nghĩa với việc chấm dứt tư cách pháp lý. Vậy trong trường hợp công ty ngừng hoạt động nhưng chưa giải thể, chủ doanh nghiệp còn phải thực hiện những nghĩa vụ nào? Trước vướng mắc này, bài viết dưới đây của Luật Phương Bình sẽ phân tích và làm rõ các quy định pháp luật có liên quan. 1. Cơ sở pháp lý Luật Doanh nghiệp 2020 Luật Quản lý thuế 2019 Bộ luật Lao động 2019 2. Ngừng hoạt động có làm chấm dứt nghĩa vụ pháp lý không? Theo Điều 206 và Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp chỉ chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý khi hoàn tất thủ tục giải thể hoặc bị Tòa án tuyên bố phá sản. Việc “ngừng hoạt động” trên thực tế (không kinh doanh, đóng cửa trụ sở) nhưng chưa làm thủ tục giải thể thì doanh nghiệp vẫn đang tồn tại trên hệ thống đăng ký kinh doanh. Do đó, các nghĩa vụ pháp lý vẫn tiếp tục phát sinh. 3. Nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp khi công ty chưa giải thể 3.1. Nghĩa vụ về thuế Theo Luật Quản lý thuế 2019, doanh nghiệp vẫn phải: Kê khai thuế định kỳ (kể cả khi không phát sinh doanh thu vẫn phải nộp tờ khai). Nộp các khoản thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp (nếu có). Thực hiện quyết toán thuế khi chấm dứt hoạt động. Nếu không thực hiện, cơ quan thuế có thể: Xử phạt vi phạm hành chính; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra nếu có dấu hiệu trốn thuế. 3.2. Nghĩa vụ đối với người lao động Theo Bộ luật Lao động 2019, nếu doanh nghiệp ngừng hoạt động: Phải thanh toán đầy đủ tiền lương, trợ cấp thôi việc (nếu có); Hoàn tất thủ tục chốt sổ bảo hiểm xã hội; Thanh toán các quyền lợi khác theo hợp đồng lao động. Việc tự ý ngừng hoạt động mà không giải quyết quyền lợi cho người lao động có thể bị xử phạt hành chính và buộc khắc phục hậu quả. 3.3. Nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ Theo Điều 208 Luật Doanh nghiệp 2020, khi giải thể doanh nghiệp phải thanh toán các khoản nợ theo thứ tự ưu tiên. Nếu chưa giải thể thì: Doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ với đối tác; Không được tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ; Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ chưa thanh toán. 3.4. Nghĩa vụ về đăng ký kinh doanh Trường hợp doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, theo Luật Doanh nghiệp 2020, phải thông báo bằng văn bản đến Phòng Đăng ký kinh doanh. Nếu không thông báo mà tự ý ngừng hoạt động có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Nếu doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, cơ quan đăng ký kinh doanh có thể đưa vào diện “không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký” và xử lý theo quy định. 4. Trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong từng loại hình Doanh nghiệp tư nhân: Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình. Công ty TNHH, công ty cổ phần: Chủ sở hữu/cổ đông chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp, trừ trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật như trốn thuế, tẩu tán tài sản. *) Nhận xét: Trong trường hợp doanh nghiệp không còn khả năng tiếp tục hoạt động, chủ doanh nghiệp nên: Thực hiện thủ tục tạm ngừng kinh doanh đúng quy định nếu muốn duy trì pháp nhân. Tiến hành thủ tục giải thể theo đúng trình tự pháp luật nếu chấm dứt hoạt động hoàn toàn. Hoàn tất nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ với người lao động trước khi nộp hồ sơ giải thể. Việc để doanh nghiệp “treo” nhiều năm không giải thể có thể dẫn đến nợ thuế, tiền phạt tăng dần và phát sinh trách nhiệm pháp lý nghiêm trọng. Kết luận: Công ty ngừng hoạt động nhưng chưa giải thể không đồng nghĩa với việc chấm dứt mọi nghĩa vụ. Doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, lao động, thanh toán nợ và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp cần chủ động hoàn tất thủ tục pháp lý để tránh rủi ro về sau. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695