Tất cả sản phẩm

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, không phải mọi vụ án đều được Tòa án giải quyết liên tục cho đến khi đưa ra bản án. Trong một số trường hợp, Tòa án có thể tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hai khái niệm này có điểm giống nhau là đều làm cho quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án không tiếp tục theo thủ tục thông thường, nhưng tạm đình chỉ và đình chỉ có bản chất và hậu quả pháp lý khác nhau. Vậy tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án dân sự là gì? Khi nào được áp dụng? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. 1. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án TẠM THỜI DỪNG giải quyết vụ án khi xuất hiện một trong những căn cứ luật định. Việc tạm đình chỉ KHÔNG làm CHẤM DỨT vụ án. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong CÁC TRƯỜNG HỢP chủ yếu sau (Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Đương sự là cá nhân chết hoặc cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động mà chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; + Đương sự mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên nhưng chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; + Chấm dứt việc đại diện hợp pháp nhưng chưa có người thay thế; + Cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan hoặc phải chờ cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước; + Cần chờ kết quả ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc chờ cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; + Cần chờ kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ:A khởi kiện B yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp. Trong trường hợp này, nếu đáp ứng điều kiện luật định, Tòa án có thể tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả của vụ án có liên quan.=> Khi nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ được khắc phục, vụ án có thể được tiếp tục giải quyết. 2. Hậu quả của việc tạm đình chỉ vụ án dân sự - Vụ án không bị xóa khỏi sổ thụ lý mà chỉ được ghi chú về quyết định tạm đình chỉ; - Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và sẽ được xử lý khi vụ án tiếp tục được giải quyết; - Thẩm phán được phân công vẫn có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc để khắc phục nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ; - Quyết định tạm đình chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. 3. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Khác với tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án CHẤM DỨT việc giải quyết vụ án sau khi đã thụ lý vì xuất hiện căn cứ theo quy định của pháp luật. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong CÁC TRƯỜNG HỢP như (Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; + Cơ quan, tổ chức đã giải thể, phá sản mà không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; + Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; + Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không thuộc trường hợp được pháp luật loại trừ (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan); + Đã có quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là đương sự và việc giải quyết vụ án liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; + Nguyên đơn không nộp tiền, ,chi phí tạm ứng chi phí định giá tài sản và các chi phí tố tụng khác theo quy định; + Đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định mà thời hiệu khởi kiện đã hết; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ: A khởi kiện B yêu cầu thanh toán khoản nợ. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, A tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Nếu việc rút yêu cầu đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. 4. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự - Theo Điều 217 và Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự, khi đình chỉ giải quyết vụ án:+ Tòa án xóa tên vụ án trong sổ thụ lý; + Trong trường hợp đương sự có yêu cầu, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và lưu bản sao theo quy định; + Trong nhiều trường hợp, đương sự không được khởi kiện lại cùng vụ án nếu vụ án sau không có gì khác về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác; + Việc xử lý tiền tạm ứng án phí phụ thuộc vào lý do đình chỉ. Ví dụ: Nếu người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện => tiền tạm ứng án phí được trả lại cho họ Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt => tiền tạm ứng án phí được sung vào công quỹ nhà nước. + Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cũng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Kết luận: Tạm đình chỉ = Tạm dừng → khắc phục lý do → tiếp tục giải quyết.Đình chỉ = Chấm dứt → không tiếp tục giải quyết  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
So sánh Tội làm nhục người khác và Tội vu khống trong Bộ luật Hình sự 2015 1. Điểm giống nhau giữa Tội làm nhục người khác và Tội vu khống - Khách thể của tội phạm: cả hai tội đề xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Ngoài ra, tội vu khống còn xâm phạm đến quyền, lợi ích của người khác. - Nạn nhân của tội phạm: Là con người cụ thể, không phải pháp nhân hay nhóm người nào. - Chủ thể của tội phạm: Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. - Hình thức lỗi: Cố ý trực tiếp 2. Phân biệt Tội làm nhục người khác và Tội vu khống Tiêu chí Tội làm nhục người khác (Điều 155) Tội vu khống (Điều 156) Hành vi nguy hiểm cho xã hội Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác Thực hiện một trong các hành vi sâu đây: - Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự và gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. - Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Hình thức biểu hiện trên thực tế Việc thực hiện các hành vi có thể thông qua lời nói hoặc hành động với lỗi cố ý trực tiếp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác như: chửi bới, gào thét, tục tĩu, lăng mạ, xông vào lột xé quần áo, túm đầu cắt tóc giữa đám đông, chợ, phố, siêu thị, nhà hàng,… nhằm mục đích hạ thấp nhân cách, danh dự, nhân phẩm của người khác mà đặc điểm của hành vi thường diễn ra trực tiếp, công khai trước sự có mặt chứng kiến của nhiều người,… Ngoài ra, để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và cậy số lượng đông người áp đảo để tra khảo, giữ để đấm đá hoặc dùng công cụ, phương tiện nguy hiểm nhằm khống chế, đe dọa và buộc nạn nhân phải làm theo ý muốn của mình, hướng tới xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác…. Việc thực hiện hành vi trên thông qua các thủ đoạn như: Tạo ra các thông tin  không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó những thông tin sai sự thật. Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự Xác định được mức độ nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự người khác. (lưu ý: nếu chưa đến mức xử lý hình sự, người vi phạm bị xử lý thành chính theo Nghị định số: 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an tòa xã hội; phồng chống tệ nạn xã hội; phòng chống bao lực gia đình quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Hiện nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, tuy nhiên, tổng kết thực tiễn thường căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau như: - Thái độ, nhận thức của bản thân người phạm tội; - Cường độ mức độ và thời gian kéo dài của hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự; - Địa điểm, môi trường, bối cảnh xung quanh nơi bị làm nhục; - Uy tín của nạn nhân trong gia đình, cơ quan, tổ chức hoặc trong xã hội, phong tục tập quán, dư luận xã hội, truyền thống gia đình của nạn nhân; - Tâm lý tinh thần của nạn nhân trong và sau khi bị làm nhục Thực hiện một trong các hành vi trên: Tương tự, hiện nay cũng chưa có văn bản hướng dẫn xác định được việc bịa đặt… mức độ “ xúc phạm nghiêm trọng” đến nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Mục đích phạm tội Nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của người khác. Nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi ích của người khác. 3. Kết luận  Mặc dù Tội làm nhục người khác (Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015) và Tội vu khống (Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015) đều là các tội phạm xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân, nhưng hai tội danh này có bản chất và dấu hiệu pháp lý khác nhau. Điểm khác biệt cốt lõi là Tội làm nhục người khác được thực hiện thông qua các hành vi xúc phạm trực tiếp, nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của nạn nhân; trong khi Tội vu khống được thực hiện thông qua hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những thông tin mà người phạm tội biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, hoặc bịa đặt người khác phạm tội để tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền. Trên thực tế, việc phân định hai tội danh cần căn cứ vào bản chất hành vi, phương thức thực hiện, nội dung thông tin được đưa ra, mục đích của người thực hiện và các chứng cứ của vụ việc, tránh trường hợp nhầm lẫn giữa hành vi xúc phạm với hành vi bịa đặt thông tin sai sự thật. Đồng thời, trong trường hợp hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.  
Đặc xá và Đại xá đều là những chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội, nhưng có sự khác nhau về thẩm quyền quyết định, phạm vi áp dụng và hậu quả pháp lý. Vậy đặc xá, đại xá là gì và điều kiện áp dụng của từng trường hợp được pháp luật quy định như thế nào? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này: 1. Đặc xá là gì? - Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Đặc xá năm 2018 quy định:“ Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.” - Người được đặc xá được miễn chấp hành hình phạt còn lại nhưng không được xóa án tích ngay và vẫn có tiền án. 1.2. Điều kiện để được đề nghị đặc xá? - Theo Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018 ( sửa đổi, bổ sung 2025) quy định Người đang chấp hành án phạt tù hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có thể được đề nghị đặc xá khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:+ Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và đủ số kỳ, được xếp loại chấp hành án khá hoặc tốt theo quy định. + Đã chấp hành đủ thời gian tối thiểu của án phạt theo quyết định đặc xá của Chủ tịch nước (thông thường phải chấp hành ít nhất 1/3 thời hạn tù; đối với một số tội nghiêm trọng phải chấp hành ít nhất 1/2 thời hạn tù; trường hợp tù chung thân đã được giảm án cũng phải đáp ứng thời gian tối thiểu theo luật). + Đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính như tiền phạt, án phí và nghĩa vụ bồi thường, trả lại tài sản theo quy định. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt khó khăn thì phải đáp ứng điều kiện pháp luật cho phép và, trong một số trường hợp, được người được thi hành án đồng ý. + Việc đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự. + Không thuộc các trường hợp bị loại trừ khỏi diện đề nghị đặc xá theo Điều 12 Luật Đặc xá. - Một số trường hợp đặc biệt có thể được xem xét đặc xá khi chưa chấp hành đủ thời gian tối thiểu, như:+ Người lập công lớn, người có công với cách mạng+ Người mắc bệnh hiểm nghèo, người từ đủ 70 tuổi trở lên+ Phụ nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trại giam+ Người khuyết tật nặng+ Người dưới 18 tuổi và các trường hợp đặc biệt khác do Chủ tịch nước quyết định. 1.3. Các trường hợp không được đề nghị đặc xá (Điều 12) Dù đáp ứng các điều kiện nêu trên vẫn không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau:+ Bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, khủng bố hoặc tội phạm chiến tranh theo quy định của Bộ luật Hình sự. + Bản án đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự. + Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một hành vi phạm tội khác. + Đã từng được đặc xá trước đó. + Có từ 02 tiền án trở lên. + Các trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định trong từng đợt đặc xá.  2.  Đại xá là gì?  - Theo Khoản 11 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định đại xá.- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng ghi nhận:+ Tại Khoản 1 Điều 29 “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá” + Và Theo Khoản 1 Điều 62 là căn cứ miễn chấp hành hình phạt với người bị kết án - Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định chính thức về khái niệm "đại xá". Tuy nhiên, có thể hiểu trên một số khía cạnh như sau:+ Về mặt bản chất: “Đại xá” là một chính sách khoan hồng của Nhà nước+ Đối tượng áp dụng: Là những người phạm tội trong tất cả các giai đoạn tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử) hoặc đang thực hiện việc thi hành án.+ Thời điểm áp dụng: Được áp dụng trong những sự kiện trọng đại, dịp quan trọng trong đời sống chính trị của quốc gia. + Phạm vi áp dụng: Áp dụng trên phương diện rộng, với hàng loạt hành vi phạm tội hoặc người phạm tội theo điều kiện nhất định.+ Cơ sở ra quyết định: Quyết định đại xá thường được đưa ra trong phiên họp Quốc hội và được các đại biểu thống nhất thông qua.+ Hậu quả pháp lý: Người phạm tội sau khi được “đại xá” thì không truy cứu trách nhiệm hình sự, tha tội hoàn toàn, miễn hình phạt sẽ trở thành một công dân bình thường và sẽ không có án tích ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về ma túy, không ít trường hợp người bị bắt cho rằng mình chỉ nhận "giao hàng", "vận chuyển hộ" hoặc "cầm giúp" ma túy nên nếu bị xử lý thì chỉ có thể bị truy cứu về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Trong một số trường hợp, người trực tiếp vận chuyển ma túy vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm nếu đáp ứng các điều kiện luật định.Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào? Khi nào hành vi vận chuyển bị xem là tham gia vào hoạt động mua bán ma túy? Người không biết mình đang vận chuyển ma túy có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây. 1. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy ? Theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) - Tội vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi chuyển dịch trái phép chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào khi đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Hành vi vận chuyển có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như:+ Mang theo người;+ Cất giấu trong hành lý, túi xách hoặc phương tiện;+ Vận chuyển bằng xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy hoặc máy bay;+ Gửi qua dịch vụ vận chuyển hoặc các hình thức khác.Và không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác.- Hình phạt:+ Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: nếu thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này+ Tùy thuộc vào loại, khối lượng chất ma túy và các tình tiết định khung, mức hình phạt có thể lên đến tù chung thân. 2. Tội mua bán trái phép chất ma túy ? - Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy.+ Mua bán trái phép chất ma túy không chỉ giới hạn ở hành vi trực tiếp mua hoặc bán ma túy mà còn có thể bao gồm những hành vi tham gia vào quá trình mua bán nếu người thực hiện có sự thống nhất ý chí và cùng thực hiện hành vi phạm tội theo quy định về đồng phạm tại Điều 17 Bộ luật Hình sự. - Có thể bao gồm thuộc 1 trong các hành vi sau đây: ++ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;++ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);++ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;++ Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. - Hình phạt:+ Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt cơ bản của tội danh này là 03 năm đến 07 năm tù. + Đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình. 3. Khi nào người vận chuyển trái phép chất ma túy có thể bị truy cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy? - Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 quy định "đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm."- Nếu người vận chuyển biết rõ việc mình đang tham gia vào hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và có hành vi giúp sức hoặc cùng thực hiện việc mua bán thì tùy từng trường hợp, họ có thể bị TRUY CỨU TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.- Việc xác định người vận chuyển có phải là đồng phạm hay không sẽ căn cứ vào toàn bộ chứng cứ của vụ án, như:+ Có biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Có sự bàn bạc, thống nhất với các đối tượng khác hay không;+ Có tham gia giao nhận ma túy, giao nhận tiền hoặc hỗ trợ việc mua bán hay không;+ Có được hưởng lợi từ hoạt động mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Vai trò của người đó trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: một người biết rõ ma túy sẽ được giao cho khách mua, đồng ý nhận vận chuyển theo sự phân công của các đối tượng trong đường dây và thực hiện việc giao ma túy đúng theo kế hoạch đã thống nhất thì hành vi của người này có thể được xem xét với vai trò đồng phạm trong tội mua bán trái phép chất ma túy nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. 4. Nếu người vận chuyển không biết bên trong gói hàng là ma túy thì có phải chịu trách nhiệm hình sự không? - Theo nguyên tắc của pháp luật hình sự, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có yếu tố lỗi.=> Do đó, nếu một người thực sự không biết bên trong kiện hàng, vali hoặc gói đồ mà mình nhận vận chuyển là chất ma túy và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được điều đó thì không đủ căn cứ để xác định họ đã cố ý thực hiện tội phạm về ma túy. - Tuy nhiên, việc người vận chuyển có biết hay không biết không chỉ được xác định dựa trên lời khai mà sẽ được cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá thông qua toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ án, bao gồm:+ Mối quan hệ giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển;+ Cách thức giao nhận hàng hóa;+ Tiền công có bất thường hay không;+ Nội dung tin nhắn, cuộc gọi hoặc dữ liệu điện tử;+ Các chứng cứ khác chứng minh nhận thức và ý chí của người vận chuyển.=> Nếu các chứng cứ chứng minh người vận chuyển thực sự không biết mình đang vận chuyển ma túy thì họ có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định họ biết hoặc cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Tôi có người bạn đang chấp hành án phạt tù, hiện tại bạn tôi vẫn chưa có gia đình. Trước khi phạm tội bạn tôi có thửa đất và muốn bán. Tôi có thắc mắc bạn tôi có thực hiện được các thủ tục mua bán đất đai cho người khác hay không? Trả lời: Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Thi hành án Hình sự 2025 quy định về Nguyên tắc thi hành án án hình sự: “4. Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất, mức độ phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học vấn và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án.” Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;d) Trong thời hạn sử dụng đất;đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.Theo đó, pháp luật không cấm người đang chấp hành án phạt tù thực hiện thủ tục mua bán đất đai cho người khác nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024.Bên cạnh đó, theo điểm g khoản 1 Điều 23 Luật Thi hành án hình sự năm 2025, phạm nhân có quyền được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật. Do đó, hình phạt tù chỉ hạn chế quyền tự do thân thể, đi lại và cư trú của người bị kết án trong một thời gian nhất định, chứ không mặc nhiên tước bỏ các quyền dân sự, quyền sở hữu hoặc quyền định đoạt tài sản hợp pháp của họ. Vì vậy, nếu quyền sử dụng đất thuộc sở hữu hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù và thửa đất đáp ứng đầy đủ các điều kiện giao dịch theo Luật Đất đai như có Giấy chứng nhận, không có tranh chấp, còn thời hạn sử dụng, không bị kê biên, phong tỏa hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn thì người đó vẫn có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình.Tuy nhiên, do người đang chấp hành án phạt tù bị hạn chế quyền tự do và chịu sự quản lý của cơ sở giam giữ nên việc thực hiện giao dịch sẽ được tiến hành thông qua các phương thức phù hợp với quy định của pháp luật.Thứ nhất, phạm nhân có thể thực hiện công chứng trực tiếp tại trại giam. Căn cứ  điểm c khoản 2 Điều 46 Luật Công chứng năm 2024, việc công chứng  có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng nếu người yêu cầu công chứng thuộc các trường hợp “ Đang bị tạm giữ, tạm giam; đang thi hành án phạt tù; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;”Thứ hai, phạm nhân có thể lập hợp đồng ủy quyền được công chứng tại trại giam để ủy quyền cho người thân hoặc người được tin tưởng thay mặt mình thực hiện các thủ tục ký kết hợp đồng chuyển nhượng, nộp thuế và đăng ký sang tên quyền sử dụng đất.Tuy nhiên, nếu phạm nhân có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ nộp tiền theo bản án của Tòa án nhưng thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì giao dịch này có thể bị cơ quan có thẩm quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu để kê biên, xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Tình huống: Tình huống: Đầu năm 2021, do gặp khó khăn về tài chính nên anh T có vay của tôi 200.000.000 đồng để trang trải cuộc sống. Hai bên có lập giấy vay tiền, trong đó thỏa thuận rõ số tiền vay, lãi suất và thời hạn thanh toán là tháng 9/2025. Tuy nhiên, khi đến hạn, tôi nhiều lần liên hệ yêu cầu anh T trả nợ thì anh đều lấy lý do khất lần. Gần đây, tôi đến nhà để đòi tiền thì anh T không những từ chối thanh toán mà còn giật lấy và xé giấy vay tiền ngay trước mặt tôi, đồng thời cho rằng không còn giấy vay thì tôi sẽ không thể đòi được khoản tiền này. Xin hỏi, trong trường hợp anh T đã xé giấy vay tiền thì tôi còn có thể yêu cầu anh T trả 200.000.000 đồng đã cho vay hay không?Trả lời: Theo quy định định tại Điều 463 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.” Như vậy, nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ việc trả nợ khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chi trả lãi cho bên cho vay. Việc bên vay xé giấy vay sẽ không làm chấm dưt dứt hợp đồng vay trước đó và bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ cả gốc lẫn lãi cho bên vay. Trên thực tế khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, tòa án không chỉ căn cứ vào giấy vay tiền mà sẽ xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp. Do đó, mặc dù giấy vay tiền đã bị anh T xé bỏ nhưng nếu người cho vay vẫn có các chứng cứ khác chứng minh việc vay tiền thì vẫn có cơ sở để yêu cầu Tòa án buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Những chứng cứ này có thể bao gồm tin nhắn, email, nội dung trao đổi qua Zalo hoặc Messenger, ghi âm, ghi hình, sao kê chuyển khoản ngân hàng, biên nhận giao tiền, lời khai của người làm chứng hoặc hình ảnh camera ghi lại việc anh T xé giấy vay tiền. Đây đều là những nguồn chứng cứ hợp pháp mà Tòa án có thể xem xét khi giải quyết vụ án.Đối với trường hợp trên, việc anh T cố ý xé giấy vay tiền có dấu hiệu nhằm che giấu hoặc làm mất chứng cứ để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, người cho vay cần nhanh chóng thu thập và bảo quản toàn bộ các chứng cứ còn lại, tránh để dữ liệu điện tử bị xóa hoặc thất lạc. Đồng thời, người cho vay nên yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng để ghi nhận các tin nhắn, hình ảnh, dữ liệu điện tử hoặc việc anh T từ chối trả nợ.Như vậy, việc anh T xé giấy vay tiền không đồng nghĩa với việc khoản nợ bị xóa bỏ hay người cho vay mất quyền đòi nợ. Nếu có đủ căn cứ chứng minh giữa hai bên đã phát sinh quan hệ vay tài sản thì người cho vay hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh T thanh toán khoản nợ gốc 200.000.000 đồng, tiền lãi theo thỏa thuận và các khoản lãi chậm trả (nếu có) theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Tình huống: Tôi và vợ kết hôn đã được 3 năm. Tôi làm nghề thợ xây, còn vợ là công nhân. Hằng tháng, sau khi nhận lương, tôi đều đưa gần như toàn bộ tiền cho vợ quản lý, chỉ giữ lại khoảng 200.000 đồng để đổ xăng đi làm. Vừa qua, vợ tôi mua một tờ vé số và may mắn trúng giải thưởng trị giá 2.000.000.000 đồng. Hiện nay, vợ tôi đang có ý định ly hôn. Tôi muốn hỏi, khoản tiền trúng vé số này được xác định là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ tôi? Nếu ly hôn thì tôi có quyền được chia khoản tiền này hay không?Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình, quy định tài sản chung của vợ chồng bao gồm: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Căn cứ Khoản 1 Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định về khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm: “Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng sổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của nghị định này.”Chiếu theo tình huống trên, hai vợ chồng đã kết hôn được 3 năm. Hằng tháng, thu nhập từ tiền lương của vợ chồng đều phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Người vợ sử dụng khoản tiền này để mua vé số và sau đó trúng thưởng 2.000.000.000 đồng. Theo quy định nêu trên, khoản tiền trúng thưởng xổ số này là thu nhập hợp pháp khác phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, việc người vợ đang có ý định ly hôn không làm thay đổi bản chất pháp lý của khoản tiền trúng thưởng. Khi giải quyết ly hôn, nếu giữa vợ chồng không tự thỏa thuận được về việc phân chia tài sản thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết theo quy định về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.Vậy, đối với khoản tiền trúng thưởng 2.000.000.000 đồng trong tình huống trên, đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn, người chồng có quyền yêu cầu Tòa án xem xét phân chia khoản tiền này theo đúng nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng được quy định trong LHN & GĐ.   
Sau khi ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là trách nhiệm của cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con nhằm bảo đảm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Tuy nhiên, trên thực tế, chi phí nuôi con có thể thay đổi theo thời gian do con lớn lên, học tập ở cấp học cao hơn, phát sinh chi phí khám chữa bệnh hoặc giá cả sinh hoạt tăng. Vậy trong trường hợp này, mức cấp dưỡng đã thỏa thuận hoặc đã được Tòa án quyết định có thể được thay đổi hay không? 1. Mức cấp dưỡng sau ly hôn được xác định như thế nào? - Theo Khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định mức cấp dưỡng được xác định căn cứ vào:+ Thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;+ Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.Cha, mẹ có thể tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng và thời điểm cấp dưỡng. Trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, mức cấp dưỡng không phải là một con số cố định cho mọi trường hợp mà được xác định dựa trên điều kiện thực tế của các bên tại thời điểm giải quyết. 2. Chi phí nuôi con tăng thì có được thay đổi mức cấp dưỡng không? - Theo Khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."- Như vậy, mức cấp dưỡng có thể thay đổi khi có lí do chính đáng ví dụ như: + Chi phí học tập của con tăng; + Con bị bệnh, cần điều trị hoặc chăm sóc y tế thường xuyên; + Giá cả hàng hóa, chi phí sinh hoạt tăng đáng kể khiến mức cấp dưỡng hiện tại không còn đáp ứng nhu cầu thiết yếu;+ Người trực tiếp nuôi con gặp khó khăn về kinh tế ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền lợi của con; ....=>Việc có được điều chỉnh mức cấp dưỡng hay không sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và các tài liệu, chứng cứ chứng minh sự thay đổi về nhu cầu của con hoặc khả năng thực tế của người cấp dưỡng. 3. Cần chuẩn bị những tài liệu gì khi yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng? - Để yêu cầu Tòa xem xét, người yêu cầu nên chuẩn bị các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình chẳng hạn:+ Bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án;+ Giấy khai sinh của con;+ Tài liệu chứng minh liên quan đến chi phí học tập, khám chữa bệnh, sinh hoạt của con hoặc các tài liệu khác chứng minh hoàn cảnh thực tế đã thay đổi;+ Tài liệu chứng minh thu nhập hoặc sự thay đổi về điều kiện kinh tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;+ Tài liệu chứng minh liên quan đến chi phí học tập, khám chữa bệnh, sinh hoạt của con hoặc các tài liệu khác chứng minh hoàn cảnh thực tế đã thay đổi. 4. Kết luận - Mức cấp dưỡng sau ly hôn không phải là cố định. Khi có lý do chính đáng, chẳng hạn chi phí nuôi con tăng hoặc khả năng tài chính của cha, mẹ thay đổi, các bên có quyền thỏa thuận điều chỉnh mức cấp dưỡng. Nếu không thể thống nhất, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định mức cấp dưỡng phù hợp nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của con. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Việc thả rông trâu, bò, ngựa, chó,... hoặc các loại vật nuôi khác trên đường hoặc tại nơi công cộng không chỉ tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông mà còn có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Vậy khi thả rông vật nuôi gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông thì sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự theo quy định của pháp luật. Dưới đây là những phân tích về các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Vật nuôi bao gồm?  - Theo Khoản 5 Điều 2 Luật Chăn nuôi năm 2018 quy định "Vật nuôi bao gồm gia súc, gia cầm và động vật khác trong chăn nuôi." Các vật nuôi phổ biến gồm: trâu, bò, ngựa, dê, cừu, lợn, chó, mèo, gà, vịt...- Hiện nay, pháp luật chưa có quy định giải thích cụ thể về khái niệm thả rông vật nuôi. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là việc chủ sở hữu hoặc người đang quản lý để vật nuôi tự do đi lại mà không có người trong coi hoặc không áp dụng các biện pháp quản lý cần thiết, dẫn đến vật nuôi đi vào đường bộ, cản trở giao thông hoặc gây thiệt hại cho người tham gia giao thông.- Và theo Khoản 3 Điều 32 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: “Không được thả vật nuôi trên đường bộ”. Do đó, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có trách nhiệm quản lý, trong giữ vật nuôi của mình, không để vật nuôi tự do đi trên đường bộ làm ảnh hưởng, gây cản trở đến giao thông. 2.  Những trách nhiệm pháp lý có thể phải chịu ? Tùy theo hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang chiếm giữ, sử  vật nuôi có thể phải chịu một hoặc nhiều loại trách nhiệm sau đây: 2.1. Trách nhiệm dân sự - Nếu có thiệt hại xảy ra thì đây là trách nhiệm đầu tiên đối với chủ nuôi, người quản lý vật nuôi. Theo quy định tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: + Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Các khoản thiệt hại phải đền bù có thể bao gồm: +++ Thiệt hại về tài sản (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.+++ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; Thu nhập thực tế bị mất của người bị nạn; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị và cả khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. + Nếu vật nuôi đang được giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người chiếm hữu, sử dụng đó phải có trách nhiệm bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2.2. Trách nhiệm hành chính - Theo Điều 11 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định người điều khiển dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ có thể bị phạt hành chính như sau:+ Phạt tiền từ 150.000 đồng đến 250.000 đồng đối với hành vi để vật nuôi đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người, phương tiện đang tham gia giao thông;+ Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với hành vi dẫn dắt vật nuôi chạy theo khi đang điều khiển hoặc ngồi trên phương tiện giao thông đường bộ;+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển, dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo đi vào đường cao tốc. - Theo Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng: + Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi thả rông động vật nuôi ở nơi công cộng. 2.3. Trách nhiệm hình sự Trường hợp chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi do cẩu thả, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý vật nuôi, để vật nuôi chạy ra đường gây tai nạn làm chết người thì tùy tính chất, mức độ của hành vi và hậu quả xảy ra, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội vô ý làm chết người" theo quy định của Bộ luật Hình sự. + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 01 người;+ Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 02 người trở lên. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Chị H hỏi: "Tôi là người được thi hành án theo bản án của Tòa án. Người phải thi hành án là bà B có nghĩa vụ trả cho tôi 500.000.000 đồng và tiền lãi chậm thi hành án. Hiện Thi hành án dân sự đã kê biên quyền sử dụng đất của bà B, nhưng đây là tài sản chung của vợ chồng nên chưa xác định được phần quyền sử dụng đất của bà B. Xin hỏi, tôi có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của bà B trong khối tài sản chung để phục vụ việc thi hành án hay không?"Trả lời: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định người thi hành án có quyền yêu cầu tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi hành án bằng cách khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án.Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án:Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật thi hành án dân sự 2025 quy định, trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác thì Chấp hành viên xử lý như sau:- Thông báo cho người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền sở hữu chung thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án. Việc xử lý tài sản thực hiện theo thỏa thuận của các đương sự hoặc quyết định của Tòa án;- Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.Về thẩm quyền giải quyết:Theo quy định tại khoản 12 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy đinh của pháp luật về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết:           - Thẩm quyền theo cấp: Căn cứ quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định: Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này. - Thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bố luật Tố tụng dân sự 2015 thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:+ Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;+ Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này.+ Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.Như vậy, Chị H hoàn toàn có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án xác định rõ phần quyền sử dụng đất của bà B. Sau khi Tòa án ban hành bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án dân sự sẽ có căn cứ để xử lý, đấu giá phần tài sản đó nhằm hoàn trả tiền cho chị H.  Trên đây là tư vấn của Luật Phương Bình, Nếu mọi người có gì thắc mắc vui lòng liên hệ đến số điện thoại để được Ls tư vấn trực tiếp 0936 645 695  
Tình huống: Trước khi kết hôn, anh A ký hợp đồng mua một căn nhà theo hình thức trả góp. Sau khi kết hôn, anh A vẫn là người trực tiếp thanh toán các khoản tiền trả góp. Do cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng có ý định ly hôn. Trong trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A hay tài sản chung của vợ chồng? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Theo quy định của pháp luật, thời diểm ký hợp đồng mua nhà trước khi kết hôn không phải là căn cứ duy nhất để xác định căn nhà trên là tài sản chung hay tài sản riêng. Đối với tình huống, tài sản là căn nhà mua theo hình thức trả góp do đó, cần phải xem xét thời điểm hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và khoản tiền dùng để thanh toán là của A hay của hai vợ chồng? Theo đó, nếu việc trả góp đã được anh A hoàn tát trước thời điểm đăng ký kết hôn thì căn nhà được hình thành hoàn toàn từ tài sản của anh A trước khi kết hôn. Trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, anh A phải có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán trước khi đăng ký kết hôn.Ngược lại, nếu việc trả góp vẫn tiếp tục sau khi hai bên đăng ký kết hôn thì cần xem xét đến số tiền dùng để thanh toán các khoản trả góp trong thời kỳ hôn nhân. Trường hợp dùng tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân… thì căn nhà trên được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 còn quy định, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được mặc nhiên xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, nghĩa vụ chứng minh căn nhà là tài sản riêng thuộc về người đưa ra yêu cầu xác định tài sản riêng. Nếu không chứng minh được, căn nhà sẽ được coi là tài sản chung theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Xe cấp cứu là phương tiện được pháp luật ưu tiên khi tham gia giao thông trong lúc thực hiện nhiệm vụ cấp cứu nhằm đưa người bệnh đến cơ sở y tế trong thời gian nhanh nhất. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra nhiều trường hợp người tham gia giao thông không nhường đường hoặc cố tình cản trở xe cấp cứu, làm chậm quá trình đưa người bệnh đi cấp cứu. Nếu hành vi này là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời và tử vong thì người vi phạm không chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Dưới đây là các quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Xe cấp cứu có được quyền ưu tiên khi tham gia giao thông không? - Theo Khoản 1 Điều 27 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: Xe ưu tiên gồm có xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu. Và Theo Khoản 4 và Khoản 5 Điều 27 Luật này quy định “ Xe ưu tiên không bị hạn chế tốc độ; được phép đi không phụ thuộc vào tín hiệu đèn giao thông, đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được; riêng đối với đường cao tốc, chỉ được đi ngược chiều trên làn dừng xe khẩn cấp; phải tuân theo hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, biển báo hiệu tạm thời.” Và “Khi có tín hiệu của xe ưu tiên, người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường, trạm thu phí phải ưu tiên cho xe ưu tiên qua trạm trong mọi tình huống, không được gây cản trở.”Vì vậy, khi xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu phát tín hiệu ưu tiên theo quy định, người tham gia giao thông có trách nhiệm nhanh chóng giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường và không được có hành vi cản trở xe ưu tiên. 2. Xử phạt vi phạm hành chính - Theo tại Điểm b Khoản 6 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng- Theo tại Điểm đ Khoản 7 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng. 3. Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? - Trường hợp người điều khiển phương tiện vi phạm quy định về nhường đường cho xe cấp cứu và hành vi đó được xác định là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời dẫn đến tử vong trên đường đi thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).- Theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng một trong các hình phạt sau:+ Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; + Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì mức hình phạt có thể lên đến 15 năm tù tùy thuộc vào tính chất, mức độ lỗi và hậu quả thực tế. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695