Tất cả sản phẩm

Tình huống: Chị H hỏi: "Tôi là người được thi hành án theo bản án của Tòa án. Người phải thi hành án là bà B có nghĩa vụ trả cho tôi 500.000.000 đồng và tiền lãi chậm thi hành án. Hiện Thi hành án dân sự đã kê biên quyền sử dụng đất của bà B, nhưng đây là tài sản chung của vợ chồng nên chưa xác định được phần quyền sử dụng đất của bà B. Xin hỏi, tôi có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của bà B trong khối tài sản chung để phục vụ việc thi hành án hay không?"Trả lời: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định người thi hành án có quyền yêu cầu tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi hành án bằng cách khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án.Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án:Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật thi hành án dân sự 2025 quy định, trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác thì Chấp hành viên xử lý như sau:- Thông báo cho người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền sở hữu chung thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án. Việc xử lý tài sản thực hiện theo thỏa thuận của các đương sự hoặc quyết định của Tòa án;- Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.Về thẩm quyền giải quyết:Theo quy định tại khoản 12 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy đinh của pháp luật về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết:           - Thẩm quyền theo cấp: Căn cứ quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định: Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này. - Thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bố luật Tố tụng dân sự 2015 thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:+ Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;+ Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này.+ Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.Như vậy, Chị H hoàn toàn có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án xác định rõ phần quyền sử dụng đất của bà B. Sau khi Tòa án ban hành bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án dân sự sẽ có căn cứ để xử lý, đấu giá phần tài sản đó nhằm hoàn trả tiền cho chị H.  Trên đây là tư vấn của Luật Phương Bình, Nếu mọi người có gì thắc mắc vui lòng liên hệ đến số điện thoại để được Ls tư vấn trực tiếp 0936 645 695  
Tình huống: Anh Bình ở Hải Phòng hỏi: "Tôi đang chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi vay. Tôi được biết khi khởi kiện phải giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Vậy xin hỏi, theo quy định của pháp luật, thời điểm và thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ trong vụ án dân sự được quy định như thế nào?"Trả lời:Theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ tường hợp tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 91 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015.- Thời điểm và thời hạn giao nộp:+ Theo khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì thời hạn giao nộp, tài liệu chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định.+ Tuy nhiên, thời hạn ấn định không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.- Trường hợp chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ+ Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết vụ việc dân sự, đương sự mới nộp bổ sung chứng cứ mà trước đó Tòa án đã yêu cầu nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó.+ Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Khi được tặng cho nhà, đất hoặc các loại bất động sản khác, nhiều người băn khoăn liệu có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không. Dưới đây là các quy định của pháp luật hiện hành. 1.  Bất động sản, Hợp đồng tặng cho tài sản là gì ? - Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015, bất động sản bao gồm những loại tài sản sau đây:+ Đất đai;+ Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;+ Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; + Tài sản khác theo quy định của pháp luật.- Theo Điều 457 Bộ luật Dân sự 2015, Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. 2.  Bất động sản được tặng cho có thuộc đối tượng chịu thuế không ? - Theo Khoản 9 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 quy định về đối tượng chịu thuế như sau: "Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm: thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng .... là bất động sản."Như vậy, người nhận tặng cho bất động sản phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định. 3. Trường hợp Bất động sản được tặng cho được miễn thuế ? - Theo Khoản 1 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2025 việc nhận tặng cho bất động sản sẽ được miễn thuế nếu diễn ra giữa các đối tượng sau:+ Vợ với chồng; + Cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; + Cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; + Cha chồng, mẹ chồng với con dâu; + Cha vợ, mẹ vợ với con rể; + Ông nội, bà nội với cháu nội; + Ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; + Anh, chị, em ruột với nhau.Kết luậnViệc nhận tặng cho bất động sản nhìn chung phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, nếu việc tặng cho được thực hiện giữa các thành viên trong gia đình thuộc diện được miễn thuế theo quy định của pháp luật thì người nhận không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Trước khi kết hôn, anh A ký hợp đồng mua một căn nhà theo hình thức trả góp. Sau khi kết hôn, anh A vẫn là người trực tiếp thanh toán các khoản tiền trả góp. Do cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng có ý định ly hôn. Trong trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A hay tài sản chung của vợ chồng? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Theo quy định của pháp luật, thời diểm ký hợp đồng mua nhà trước khi kết hôn không phải là căn cứ duy nhất để xác định căn nhà trên là tài sản chung hay tài sản riêng. Đối với tình huống, tài sản là căn nhà mua theo hình thức trả góp do đó, cần phải xem xét thời điểm hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và khoản tiền dùng để thanh toán là của A hay của hai vợ chồng? Theo đó, nếu việc trả góp đã được anh A hoàn tát trước thời điểm đăng ký kết hôn thì căn nhà được hình thành hoàn toàn từ tài sản của anh A trước khi kết hôn. Trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, anh A phải có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán trước khi đăng ký kết hôn.Ngược lại, nếu việc trả góp vẫn tiếp tục sau khi hai bên đăng ký kết hôn thì cần xem xét đến số tiền dùng để thanh toán các khoản trả góp trong thời kỳ hôn nhân. Trường hợp dùng tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân… thì căn nhà trên được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 còn quy định, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được mặc nhiên xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, nghĩa vụ chứng minh căn nhà là tài sản riêng thuộc về người đưa ra yêu cầu xác định tài sản riêng. Nếu không chứng minh được, căn nhà sẽ được coi là tài sản chung theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Xe cấp cứu là phương tiện được pháp luật ưu tiên khi tham gia giao thông trong lúc thực hiện nhiệm vụ cấp cứu nhằm đưa người bệnh đến cơ sở y tế trong thời gian nhanh nhất. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra nhiều trường hợp người tham gia giao thông không nhường đường hoặc cố tình cản trở xe cấp cứu, làm chậm quá trình đưa người bệnh đi cấp cứu. Nếu hành vi này là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời và tử vong thì người vi phạm không chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Dưới đây là các quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Xe cấp cứu có được quyền ưu tiên khi tham gia giao thông không? - Theo Khoản 1 Điều 27 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: Xe ưu tiên gồm có xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu. Và Theo Khoản 4 và Khoản 5 Điều 27 Luật này quy định “ Xe ưu tiên không bị hạn chế tốc độ; được phép đi không phụ thuộc vào tín hiệu đèn giao thông, đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được; riêng đối với đường cao tốc, chỉ được đi ngược chiều trên làn dừng xe khẩn cấp; phải tuân theo hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, biển báo hiệu tạm thời.” Và “Khi có tín hiệu của xe ưu tiên, người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường, trạm thu phí phải ưu tiên cho xe ưu tiên qua trạm trong mọi tình huống, không được gây cản trở.”Vì vậy, khi xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu phát tín hiệu ưu tiên theo quy định, người tham gia giao thông có trách nhiệm nhanh chóng giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường và không được có hành vi cản trở xe ưu tiên. 2. Xử phạt vi phạm hành chính - Theo tại Điểm b Khoản 6 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng- Theo tại Điểm đ Khoản 7 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng. 3. Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? - Trường hợp người điều khiển phương tiện vi phạm quy định về nhường đường cho xe cấp cứu và hành vi đó được xác định là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời dẫn đến tử vong trên đường đi thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).- Theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng một trong các hình phạt sau:+ Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; + Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì mức hình phạt có thể lên đến 15 năm tù tùy thuộc vào tính chất, mức độ lỗi và hậu quả thực tế. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Do mâu thuẫn vợ chồng, chị A bỏ nhà đi làm việc tại Bắc Ninh. Sau gần một năm sống ly thân nhưng chưa ly hôn, chị A quen người khác và thực hiện chung sống với người này như vợ chồng. Trong trường hợp này, việc chung sống với người khác như vợ chồng của chị A có vi phạm pháp luật không? Người vi phạm có thể bị xử lý theo những hình thức nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.Trả lời: Theo quy định, quan hệ hôn nhân của vợ chồng chỉ chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực của pháp luật. Việc hai vợ chồng mâu thuẫn, bỏ nhà đi làm xa hoặc ly thân (dù 1 hoặc nhiều năm) mà chưa ly hôn về mặt pháp lý, họ vẫn đang là vợ chồng. Do đó, việc chị tự ý chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi chế độ một vợ một chồng theo quy định của Pháp luật. Dưới đây là hình thức xử lý cụ thể đối với hành vi này như sau: 1.    Về hành chínhTheo quy định tại khoản 1 Điều 62 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi; phán sản doanh nghiệp, hợp tác xã: - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:• Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;• Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;• Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;• Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;• Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.2. Trách nhiệm hình sự Theo quy định của pháp luật hình sự, hành vi chung sống với người khác như vợ chồng khi chưa ly hôn có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. - Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:• Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;• Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:• Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;• Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.Kết luận: Việc sống ly thân hoặc bỏ nhà đi làm xa không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chỉ khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ vợ chồng mới chấm dứt. Vì vậy, nếu đang có vợ hoặc chồng mà đã chung sống với người khác như vợ chồng thì đây là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Nhiều người cho rằng tài sản là của mình thì có quyền tự ý lấy lại bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trên thực tế không phải trường hợp nào cũng vậy. Trong một số trường hợp, mặc dù tài sản thuộc quyền sở hữu của mình nhưng nếu tài sản đang do người khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý hợp pháp, việc lén lút lấy lại tài sản vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Dưới đây là những phân tích về các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này. 1. Trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự - Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định: Người nào lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác đủ điều kiện luật định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản. - Trên thực tế, cụm từ "tài sản của người khác" không chỉ được hiểu là tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác mà còn bao gồm trường hợp tài sản đang thuộc sự quản lý hợp pháp của người khác hoặc của cơ quan có thẩm quyền.=> Vì vậy, nếu chủ sở hữu hoặc người cho rằng mình có quyền đối với tài sản tự ý lén lút lấy lại tài sản khi tài sản đang do người khác quản lý hợp pháp thì vẫn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. - Quan điểm này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khẳng định tại Án lệ số 74/2025/AL khái quát như sau: Cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông và tạm giữ phương tiện vi phạm của bị cáo để xử lý. Sau đó, bị cáo lén lút vào khu vực tạm giữ phương tiện vi  phạm của cơ quan có thẩm  quyền, lấy phương tiện của mình mang đi cất giấu. Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). - Mức hình phạt đối với hành vi này:+ Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu chiếm đoạt tài sản trị giá từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.+ Phạt tù từ 02 năm đến 20 năm tùy thuộc vào các trường hợp quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. 2. Trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự - Không phải mọi trường hợp lấy lại tài sản của mình đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu việc nhận lại tài sản được thực hiện công khai, được người đang quản lý tài sản đồng ý, hoặc thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền, thì đây là việc thực hiện quyền theo đúng quy định của pháp luật và không phải là hành vi phạm tội. - Trường hợp giữa các bên phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản thì các bên nên yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo trình tự pháp luật. Việc tự ý lén lút lấy lại tài sản để giải quyết tranh chấp có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự nếu đủ căn cứ theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Tôi và chồng kết hôn được 2 năm. Thời gian đầu, cuộc sống hôn nhân khá hạnh phúc, tuy nhiên thời gian gần đây chồng tôi thường xuyên chửi bới, xúc phạm, thậm chí nhiều lần đánh đập tôi. Do không thể tiếp tục chịu đựng nên tôi muốn ly hôn, nhưng chồng tôi không đồng ý và còn đe dọa sẽ đánh tôi nếu tôi nộp đơn ly hôn. Vậy cho tôi hỏi, hành vi đe dọa, cản trở vợ thực hiện quyền yêu cầu ly hôn của chồng tôi có vi phạm pháp luật hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. 1. Quy định của pháp luật về cản trở ly hôn Theo quy định tại khoản 1, điểm e khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về bảo vệ hôn nhân và gia đình, như sau: “1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. 2. Cấm các hành vi sau đây: … e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn; … Theo quy định, quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Đối hành vi đe dọa cản trở chị ly hôn của người chồng là vi phạm điều cấm của luật hôn nhân và gia đình. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.  (Hình ảnh minh họa) 2. Về mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở ly hôn Theo quy định tại điểm đ Điều 62 Nghị định số: 109/2026/NĐ – CP quy định về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: “1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: …đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.” Ngoài ra, theo quy định tại Điều 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện như sau: “Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.”Như vậy, chiếu theo tình huống trên nếu người chồng đe dọa không cho vợ ly hôn hay đang cản trở ly hôn hôn, theo quy định người chông sẽ bi phạt hành chính từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Ngoài ra, nếu người chồng đe dọa  không cho vợ ly hôn, cản trở ly hôn đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.Quý khách hàng có cần tư vấn về lĩnh vực gì vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được tư vấn. 
Tình huống: Tháng 3/2024 tôi có cho bạn tôi vay 50.000 USD, hai bên có lập giấy nợ và thỏa thuận về thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực là ngày ký. Tuy nhiên, do bên vay không trả cho tôi, nên tôi gửi đơn khởi kiện ra Tòa án để đòi tiền, vậy trong trường hợp trên Tòa án có tuyên giấy vay nợ trên vô hiệu vì sử dụng ngoại hối để giao dịch không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Đối với giao dịch cho mượn tài sản hay cho vay tiền là Đô la Mỹ giữa các bên vào tháng 3/2024, thì: Theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 được sửa đổi bổ sung quy định: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”  Ngoài ra, căn cứ quy định tại Điều 3, 4 Thông tư số: 32/2013/TT-NHNN được sửa đổi Thông tư 75/2025/TT-NHNN, như sau: “Điều 3. Nguyên tắc hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt NamTrên lãnh thổ Việt Nam, trừ các trường hợp được sử dụng ngoại hối quy định tại Điều 4 Thông tư này, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối. (Hình ảnh minh họa) Điều 4. Các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam1. Cơ quan hải quan, công an, bộ đội biên phòng và các cơ quan Nhà nước khác tại các cửa khẩu của Việt Nam và kho ngoại quan được niêm yết bằng ngoại tệ và thu bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ người không cư trú đối với các loại thuế, phí thị thực xuất nhập cảnh, phí cung ứng dịch vụ và các loại phí, lệ phí khác theo quy định của pháp luật.2. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối (sau đây gọi tắt là tổ chức tín dụng được phép) được giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận bằng ngoại hối trong phạm vi kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật.3. Tổ chức khác được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối được giao dịch và niêm yết bằng ngoại tệ trong phạm vi cung ứng dịch vụ ngoại hối đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật.4. Người cư trú là tổ chức có tư cách pháp nhân được điều chuyển vốn nội bộ bằng ngoại tệ chuyển khoản giữa tài khoản của tổ chức đó với tài khoản của đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân và ngược lại.5. Người cư trú được góp vốn bằng ngoại tệ chuyển khoản để thực hiện dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.6. Người cư trú thực hiện hợp đồng ủy thác nhập khẩu, xuất khẩu theo quy định sau:a) Người cư trú nhận ủy thác nhập khẩu được ghi giá trong hợp đồng ủy thác nhập khẩu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng nhập khẩu từ bên ủy thác nhập khẩu;b) Người cư trú nhận ủy thác xuất khẩu được ghi giá trong hợp đồng ủy thác xuất khẩu bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng xuất khẩu cho bên ủy thác xuất khẩu.7. Người cư trú là nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài thực hiện theo quy định sau:a) Đối với chi phí ngoài nước liên quan đến việc thực hiện gói thầu thông qua đấu thầu quốc tế theo quy định tại Luật Đấu thầu: nhà thầu được chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và chuyển ra nước ngoài.b) Đối với việc thực hiện gói thầu theo quy định của pháp luật về dầu khí: nhà thầu được chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và chuyển ra nước ngoài.8. Người cư trú là doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện theo quy định sau:a) Được báo giá, định giá, ghi giá dịch vụ bảo hiểm trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ bên mua bảo hiểm đối với hàng hóa, dịch vụ phải mua tái bảo hiểm ở nước ngoài;b) Trường hợp phát sinh tổn thất đối với phần tái bảo hiểm ra nước ngoài, người cư trú là tổ chức mua bảo hiểm được nhận số tiền bồi thường bằng ngoại tệ chuyển khoản từ công ty tái bảo hiểm nước ngoài thông qua doanh nghiệp bảo hiểm để thanh toán các chi phí khắc phục tổn thất ở nước ngoài.9. Người cư trú là tổ chức kinh doanh hàng miễn thuế được niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hóa. Ngoại tệ sử dụng trong giao dịch tại cửa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bán hàng miễn thuế.10. Người cư trú là tổ chức cung ứng dịch vụ ở khu cách ly tại các cửa khẩu quốc tế, tổ chức kinh doanh kho ngoại quan được niêm yết, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ.11. Người cư trú là tổ chức làm đại lý cho hãng vận tải nước ngoài trên cơ sở hợp đồng đại lý ký kết giữa hai bên thực hiện theo quy định sau:a) Được thay mặt cho hãng vận tải nước ngoài báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ đối với cước phí vận tải hàng hóa quốc tế. Việc thanh toán phải thực hiện bằng đồng Việt Nam;b) Được chi hộ bằng ngoại tệ chuyển khoản để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại cảng biển quốc tế, khu cách ly tại sân bay quốc tế;c) Được chi hộ bằng ngoại tệ tiền mặt để trả lương, thưởng, phụ cấp cho người không cư trú do hãng tàu biển nước ngoài ủy quyền.12. Người cư trú là doanh nghiệp chế xuất thực hiện theo quy định sau:a) Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi mua hàng hóa từ thị trường nội địa để sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp hàng xuất khẩu hoặc để xuất khẩu, trừ hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu. Doanh nghiệp trong nước được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi bán hàng hóa cho doanh nghiệp chế xuất;b) Được báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán, nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản với doanh nghiệp chế xuất khác.13. Người cư trú là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực vận chuyển hàng không, khách sạn, du lịch được niêm yết, quảng cáo giá hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam và ngoại tệ tương đương trên trang tin điện tử, ấn phẩm chuyên ngành (không bao gồm thực đơn và bảng giá dịch vụ) chỉ sử dụng tiếng nước ngoài.14. Người cư trú, người không cư trú là tổ chức được thỏa thuận và trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt cho người không cư trú và người cư trú là người nước ngoài làm việc cho chính tổ chức đó.15. Người không cư trú là cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự được niêm yết bằng ngoại tệ và thu phí thị thực xuất nhập cảnh, các loại phí, lệ phí khác bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt.16. Người không cư trú thực hiện theo quy định sau:a) Được chuyển khoản bằng ngoại tệ cho người không cư trú khác;b) Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán tiền xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ chuyển khoản cho người cư trú. Người cư trú được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú.c) Nhà đầu tư nước ngoài được đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ chuyển khoản khi tham gia đấu giá trong các trường hợp sau:(i) Mua cổ phần tại doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;(ii) Mua cổ phần, phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;(iii) Mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác thực hiện thoái vốn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.Trường hợp trúng đấu giá, nhà đầu tư nước ngoài thực hiện chuyển vốn đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối để thanh toán giá trị mua cổ phần, phần vốn góp. Trường hợp đấu giá không thành công, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài số tiền đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ sau khi đã trừ đi các chi phí phát sinh liên quan (nếu có).17. Đối với các trường hợp liên quan đến an ninh, quốc phòng, dầu khí và các trường hợp cần thiết khác, tổ chức được phép sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) xem xét, chấp thuận bằng văn bản căn cứ vào tình hình thực tế và tính chất cần thiết của từng trường hợp theo hồ sơ, trình tự, thủ tục quy định tại Điều 4a Thông tư này. Vì vậy, giữa các bên xác lập quan hệ mượn ngoại tệ vào tháng 3/2024 với số tiền 50.000 USD đã vi phạm điều cấm của pháp luật, nên giao dịch này vô hiệu theo quy định tại Điều 117, 122, 123 Bộ luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, giao dịch giữa bạn và bên vay về việc vay ngoại tệ là giao dịch vô hiệu. Về giải quyết hậu quả của giao dịch trên, do đây là giao dịch vô hiệu theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 nên: “2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.” Như vậy, bên vay phải trả lại cho bạn số tiền là 50.000 USD. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được tư vấn.    
Tình huống: Tôi có thửa đất và đã sử dụng ổn định từ năm 1990 đến nay. Nay tôi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì UBND cấp xã từ chối giải quyết với lý do thửa đất đang có tranh chấp. Tuy nhiên, người hàng xóm chỉ gửi đơn đề nghị không cấp sổ đỏ cho tôi mà chưa khởi kiện hoặc yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai. Vậy việc người hàng xóm gửi đơn đề nghị không cấp sổ đỏ có phải là căn cứ để cơ quan nhà nước từ chối cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định về Đất có tranh chấp, như sau: “16. Đất đang có tranh chấp là thửa đất có tranh chấp đất đai mà đang trong quá trình được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.” Theo quy định trên, đất có tranh chấp là thửa đất đang trong quá trình cơ quan có thẩm quyền giải quyết Căn cứ quy định tại khoản 1, 2 Điều 236 Luật Đất đai 2024 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau: “1. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp hoặc một trong các bên tranh chấp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án giải quyết.2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật này thì các bên tranh chấp được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;b) Khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.” (Hình ảnh minh họa) Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2, Điều 19 Nghị định 101/2024/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bởi khoản 3, Điều 7 Nghị định 226/2025/NĐ-CP) thì chỉ khi nhận được văn bản của những cơ quan sau thì mới được phép từ chối cấp sổ đỏ và trả hồ sơ cho người dân, cụ thể như sau:2. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ, cơ quan giải quyết thủ tục không tiếp nhận hồ sơ hoặc dừng giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và trả hồ sơ cho người yêu cầu đăng ký, trừ trường hợp đăng ký đất đai lần đầu mà không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trong các trường hợp sau:a) Không thuộc thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ hoặc hồ sơ không đầy đủ thành phần hoặc không đảm bảo tính thống nhất nội dung thông tin giữa các giấy tờ hoặc kê khai nội dung không đầy đủ thông tin theo quy định;b) Nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng yêu cầu tạm dừng hoặc dừng việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thuộc đối tượng phải thi hành án theo quy định của pháp luật;c) Nhận được văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án;d) Nhận được văn bản của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc của Ủy ban nhân dân cấp huyện lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 hoặc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc đã thụ lý đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai hoặc đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất;đ) Nhận được văn bản của Tòa án nhân dân có thẩm quyền về việc đã thụ lý đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất;e) Nhận được văn bản của Trọng tài Thương mại Việt Nam về việc thụ lý đơn giải quyết tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai, tài sản gắn liền với đất;g) Nhận được văn bản yêu cầu dừng thực hiện thủ tục hành chính về đất đai để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan có thẩm quyền;h) Trường hợp đăng ký biến động đất đai do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đang được thế chấp và đã đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nhưng hồ sơ đăng ký nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho không có văn bản của bên nhận thế chấp về việc đồng ý cho bên thế chấp được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất do bên nhận thế chấp hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thực hiện để xử lý tài sản thế chấp;i) Trường hợp chủ đầu tư đã thế chấp và đăng ký thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở hoặc nhà ở hình thành trong tương lai, dự án đầu tư xây dựng công trình không phải là nhà ở, dự án đầu tư nông nghiệp, dự án phát triển rừng, dự án khác có sử dụng đất hoặc công trình xây dựng thuộc các dự án này tại Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai mà chủ đầu tư chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán tài sản gắn liền với đất nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi để rút bớt tài sản thế chấp là tài sản đã chuyển nhượng, đã bán, trừ trường hợp bên nhận thế chấp và bên mua tài sản có thỏa thuận về việc tiếp tục dùng tài sản này làm tài sản thế chấp và thực hiện đăng ký thay đổi bên bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm.Như vậy, đất có tranh chấp là thửa đất đang được giải quyết tranh chấp tại UBND có thẩm, nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng, nhận được văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án; Nhận được văn bản của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc của Ủy ban nhân dân cấp huyện lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 hoặc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; ) Nhận được văn bản của Tòa án nhân dân có thẩm quyền; Nhận được văn bản của Trọng tài Thương mại Việt Nam; Nhận được văn bản yêu cầu dừng thực hiện thủ tục hành chính về đất đai để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan có thẩm quyền. Đối chiếu với tình huống, việc hàng xóm có đơn đề nghị không được cấp sổ đỏ, Ủy ban Nhân dân căn cứ vào đơn đề nghị trên đã từ chối cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được tư vấn.     
Tình huống: Tôi có cho một người bạn vay 10 cây vàng. Thời điểm cho vay, hai bên chỉ thỏa thuận về số lượng vàng cho vay, không thỏa thuận về lãi suất và có lập hợp đồng vay tài sản với thời hạn trả nợ là 02 năm. Nay sắp đến thời hạn thanh toán, bạn tôi không đồng ý trả lại 10 cây vàng mà đề nghị quy đổi số vàng đã vay thành tiền theo giá vàng tại thời điểm vay để thanh toán. Tôi không đồng ý vì giá vàng hiện nay đã tăng cao, dẫn đến giữa hai bên phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp này, nếu tôi khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án sẽ buộc bên vay phải trả lại 10 cây vàng đã vay hay được phép thanh toán bằng tiền theo giá trị của số vàng tại thời điểm vay? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định: “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”.Trong tình huống nêu trên, đối tượng của hợp đồng vay là vàng (vật), khi đến hạn trả thì bạn của bạn phải trả số vàng theo đúng thỏa thuận ghi trong hợp đồng là 10 cây vàng. Việc bạn của bạn đề nghị quy đổi số vàng đã vay thành tiền tại thời điểm vay để thanh toán là không đúng quy định của pháp luật và cũng không đúng với thỏa thuận mà hai bên đã quy định trong hợp đồng.  Trường hợp hai bên không thể thương lượng hay hòa giải về hướng xử lý thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bên vay trả lại cho bạn số vàng đã vay. Tuy nhiên Tòa án vẫn quy đổi vàng thành tiền theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm để tính án phí, chi phí tố tụng theo quy định Đối với nghĩa vụ trả lãi chậm do bên vay chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì: Trong trường hợp Tòa án quyết định bên vay trả lại vàng cho bên cho vay thì không quyết định bên vay phải chịu lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp hợp đồng vay tài sản là vàng có thỏa thuận lãi thì nghĩa vụ trả lãi được thực hiện theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.Như vậy, đối với trường hợp của bạn, việc bên vay yêu cầu thanh toán bằng tiền theo giá trị 10 cây vàng tại thời điểm vay là không có căn cứ pháp luật nếu. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, bên vay có nghĩa vụ trả lại đúng loại tài sản đã vay, tức là 10 cây vàng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp các bên không tự thỏa thuận được thì bạn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ trả vàng.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.   
  Hành vi phá cửa vào nhà người khác để trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Vậy người thực hiện hành vi này sẽ bị xử lý như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Tùy vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả xảy ra, người thực hiện hành vi này có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về một hoặc nhiều tội danh khác nhau theo quy định của Bộ luật Hình sự. (1) Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự Hành vi trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhằm thực hiện việc chiếm đoạt một cách trái pháp luật. Trong trường hợp này, nếu người thực hiện hành vi chuẩn bị sẵn công cụ để cạy phá cửa, khóa hoặc két sắt rồi đột nhập vào nhà nhằm lấy tài sản thì cho thấy ý thức cố ý phạm tội rất rõ ràng, có sự chuẩn bị từ trước và quyết tâm thực hiện hành vi chiếm đoạt đến cùng. Và hành vi phá cửa là phương thức để thực hiện hành vi trộm cắp (2) Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 178 Bộ luật Hình sự Nếu trong quá trình trộm cắp, người phạm tội có hành vi phá cửa, cạy khóa, phá két sắt hoặc làm hư hỏng tài sản khác thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xem xét về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Mặc dù mục đích chính là trộm cắp tài sản, nhưng người thực hiện hành vi phải nhận thức rõ việc dùng công cụ cạy phá sẽ làm tài sản bị hư hỏng hoặc mất giá trị sử dụng mà vẫn cố ý thực hiện để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Hành vi tác động trực tiếp vào tài sản nhằm phá vỡ kết cấu, làm biến dạng hoặc làm tài sản không còn nguyên trạng đã thể hiện dấu hiệu của hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. (3) Tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo Điều 158 Bộ luật Hình sự Trường hợp người phạm tội có hành vi phá cửa, cạy khóa, đột nhập trái phép vào nơi ở hợp pháp của người khác nhằm thực hiện việc trộm cắp tài sản thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xem xét về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Người thực hiện hành vi nhận thức rõ việc tự ý xâm nhập vào chỗ ở của người khác khi chưa được đồng ý là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân nhưng vẫn cố ý thực hiện để đạt được mục đích trộm cắp tài sản. Do đó, trong trường hợp có căn cứ xác định người thực hiện hành vi cố ý đột nhập trái phép vào nơi ở của người khác thì ngoài trách nhiệm đối với hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xử lý thêm về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Như vậy, hành vi phá cửa vào nhà người khác để trộm cắp tài sản không chỉ đơn thuần là hành vi trộm cắp mà trong nhiều trường hợp còn có thể bị xử lý về nhiều tội danh tương ứng với từng hành vi vi phạm đã thực hiện. Lưu ý: Khi phát hiện kẻ trộm, người dân cần giữ bình tĩnh, ưu tiên bảo đảm an toàn cho bản thân và những người xung quanh, không nên một mình truy đuổi hoặc khống chế đối tượng vì có thể bị chống trả nguy hiểm. Trong trường hợp an toàn, cần nhanh chóng báo cho Công an địa phương, đồng thời hô hoán, huy động sự hỗ trợ của những người xung quanh để ngăn chặn, bắt giữ đối tượng. Bên cạnh đó, nên cố gắng ghi nhớ đặc điểm, phương tiện, hướng di chuyển của đối tượng để hỗ trợ cơ quan chức năng truy xét, xử lý. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
 
hotline 0936 645 695