Tất cả sản phẩm

Bán xe máy nhưng không thu hồi biển số, ký giấy miễn trách nhiệm nếu người mua gây tai nạn: Có hợp pháp không? Khi bán xe máy, nhiều người cho rằng chỉ cần giao xe, nhận đủ tiền và yêu cầu người mua ký giấy cam kết “mọi vi phạm giao thông hoặc tai nạn phát sinh sau khi mua xe thì người mua tự chịu trách nhiệm” là có thể yên tâm. Tuy nhiên, trên thực tế, giấy cam kết này không đương nhiên giúp người bán được miễn mọi trách nhiệm pháp lý, đặc biệt khi thủ tục thu hồi đăng ký xe, biển số xe chưa được thực hiện theo quy định. Vậy người bán xe có thể dùng giấy cam kết để tránh trách nhiệm nếu người mua gây tai nạn hay không? Nếu đã giao xe nhưng vẫn chưa làm thủ tục thu hồi đăng ký, biển số thì người bán có thể gặp những rủi ro pháp lý nào? 1. Bán xe máy nhưng không thu hồi biển số có đúng quy định pháp luật không? Điều 16 Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BCA 2025 quy định về hồ sơ đăng ký sang tên xe trong đó có hồ sơ thu hồi chứng nhận đăng ký xe và biển số xe. Theo thủ tục này, người bán cần thực hiện nghĩa vụ thu hồi trước khi người mua làm thủ tục đăng ký sang tên theo quy định.  => Như vậy, sau khi bán xe, người bán không nên chỉ giao xe, giấy đăng ký và biển số cho người mua rồi cho rằng giao dịch đã hoàn tất. Nếu không thực hiện thủ tục thu hồi theo quy định, người bán có thể gặp khó khăn khi chứng minh tình trạng chuyển quyền sở hữu, giải trình với cơ quan chức năng hoặc xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến chiếc xe. 2. Ký giấy cam kết “người mua gây tai nạn thì tự chịu trách nhiệm” có hợp pháp không? Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác." Theo khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác." => Như vậy, nếu người bán đã thực sự giao xe cho người mua quản lý, sử dụng và người mua trực tiếp gây tai nạn thì trách nhiệm bồi thường cần căn cứ vào việc ai chiếm hữu, sử dụng xe, lỗi của các bên và các tình tiết cụ thể. Không thể chỉ dựa vào việc người bán vẫn đứng tên trên giấy đăng ký xe để mặc nhiên kết luận người bán phải bồi thường trong mọi trường hợp. Ngược lại, cũng không thể khẳng định người bán được miễn toàn bộ trách nhiệm chỉ vì đã có giấy cam kết. Thỏa thuận giữa hai bên không tự động loại trừ trách nhiệm pháp lý đối với người bị thiệt hại hoặc trách nhiệm hành chính, hình sự nếu có căn cứ phát sinh theo luật. Giá trị của giấy cam kết chủ yếu nằm ở việc chứng minh thỏa thuận, thời điểm giao xe và trách nhiệm mà các bên đã nhận, chứ không phải là căn cứ bảo đảm người bán không bao giờ bị liên đới giải quyết vụ việc. 3. Người bán có thể gặp rủi ro gì nếu người mua gây tai nạn khi xe chưa sang tên? - Khoản 7 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BCA 2025 quy định:  "Tổ chức, cá nhân đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe tiếp tục chịu trách nhiệm của chủ xe khi chưa thực hiện thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe đối với trường hợp phải thu hồi theo quy định." - Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BCA 2025 quy định "Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe, chủ xe đứng tên trong chứng nhận đăng ký xe phải làm thủ tục thu hồi; trường hợp quá thời hạn trên mà chủ xe không làm thủ tục thu hồi hoặc giao chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sở hữu xe làm thủ tục thu hồi thì trước khi giải quyết người có thẩm quyền thực hiện thủ tục xử phạt vi phạm hành chính theo quy định..." => Từ các quy định trên, có thể thấy người bán cần lưu ý ba vấn đề: 1. Nếu người mua vi phạm giao thông hoặc gây tai nạn, người bán có thể phải giải trình, cung cấp giấy tờ mua bán và chứng cứ chứng minh đã giao xe cho người mua. Việc vẫn đứng tên đăng ký có thể khiến người bán gặp khó khăn khi xác minh vụ việc, nhưng không đồng nghĩa người bán đương nhiên phải chịu mọi lỗi vi phạm của người mua. 2. Nếu xảy ra tai nạn gây thiệt hại về người hoặc tài sản, trách nhiệm bồi thường được căn cứ vào tình trạng quản lý, sử dụng xe, lỗi và các tình tiết liên quan. Giấy cam kết giữa hai bên là một nguồn chứng cứ cần xem xét, không thay thế việc xác định trách nhiệm theo pháp luật. 3. Người bán có thể bị xử lý đối với việc không thực hiện thủ tục thu hồi đăng ký xe, biển số đúng thời hạn nếu hành vi đó thuộc trường hợp bị xử phạt theo quy định. Việc người mua đã ký cam kết tự chịu trách nhiệm không làm mất đi nghĩa vụ thủ tục này của người bán. Kết luận Bán xe máy nhưng không thu hồi biển số, đồng thời yêu cầu người mua ký giấy cam kết tự chịu trách nhiệm nếu gây tai nạn, không phải là cách bảo đảm người bán được miễn hoàn toàn trách nhiệm pháp lý. Thỏa thuận vẫn có thể có giá trị chứng minh quan hệ mua bán và việc giao xe, nhưng không thể thay thế các thủ tục đăng ký, thu hồi theo quy định hoặc loại trừ mọi trách nhiệm phát sinh theo luật. Để hạn chế rủi ro, sau khi bán xe, người bán nên lập giấy tờ chuyển quyền sở hữu rõ ràng, lưu giữ chứng từ giao nhận và thanh toán, thực hiện thủ tục thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe đúng thời hạn; đồng thời phối hợp để người mua hoàn tất thủ tục đăng ký sang tên. Đây mới là những bước quan trọng để chứng minh giao dịch đã diễn ra và hạn chế các tranh chấp có thể phát sinh sau khi giao xe. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Không đổi sang biển số định danh có bị phạt không? - Từ ngày 15/08/2023, Thông tư 24/2023/TT-BCA quy định về cấp, thu hồi đăng ký, biển số xe cơ giới sẽ có hiệu lực. 1. Từ ngày 15/8/2023, người dân sẽ được cấp và được quản lý biển số xe theo mã định danh của chủ xe Theo Điều 3 Thông tư 24/2023/TT-BCA (có hiệu lực từ ngày 15/8/2023), biển số xe được cấp và quản lý theo mã định danh của chủ xe (sau đây gọi là biển số định danh). - Biển số định danh là biển số có ký hiệu, seri biển số, kích thước của chữ và số, màu biển số theo quy định tại Thông tư 24/2023/TT-BCA. - Đối với chủ xe là công dân Việt Nam thì biển số xe được quản lý theo số định danh cá nhân. - Đối với chủ xe là người nước ngoài thì biển số xe được quản lý theo số định danh của người nước ngoài do hệ thống định danh và xác thực điện tử xác lập hoặc số thẻ thường trú, số thẻ tạm trú hoặc số chứng minh thư khác do cơ quan có thẩm quyền cấp. - Đối với chủ xe là tổ chức thì biển số xe được quản lý theo mã định danh điện tử của tổ chức do hệ thống định danh và xác thực điện tử xác lập; trường hợp chưa có mã định danh điện tử của tổ chức thì quản lý theo mã số thuế hoặc quyết định thành lập. - Trường hợp xe hết niên hạn sử dụng, hư hỏng hoặc chuyển quyền sở hữu xe thì biển số định danh của chủ xe được cơ quan đăng ký xe thu hồi và cấp lại khi chủ xe đăng ký cho xe khác thuộc quyền sở hữu của mình. Số biển số định danh được giữ lại cho chủ xe trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày thu hồi; quá thời hạn nêu trên, nếu chủ xe chưa đăng ký thì số biển số định danh đó được chuyển vào kho biển số để đăng ký, cấp cho tổ chức, cá nhân theo quy định. - Trường hợp chủ xe chuyển trụ sở, nơi cư trú từ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương này sang tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác thì được giữ lại biển số định danh đó (không phải đổi biển số xe). 2. Trường hợp không đổi sang biển số định danh Khoản 4 Điều 39 Thông tư 24/2023/TT-BCA quy định như sau: Đối với xe đã đăng ký biển 3 hoặc 4 số thì tiếp tục được phép tham gia giao thông, trừ trường hợp chủ xe có nhu cầu cấp sang biển số định danh hoặc khi chủ xe thực hiện thủ tục cấp đổi chứng nhận đăng ký xe, cấp đổi biển số xe, cấp lại chứng nhận đăng ký xe, cấp lại biển số xe hoặc đăng ký sang tên, di chuyển xe theo quy định của Thông tư này thì thực hiện thu hồi biển 3 hoặc 4 số đó và cấp đổi sang biển số định danh theo quy định. Căn cứ theo quy định trên thì không bắt buộc chủ xe phải đổi sang biển số định danh. Do đó, không đổi sang biển số định danh thì không bị phạt. 3. Thời hạn giải quyết đăng ký xe - Cấp chứng nhận đăng ký xe: Không quá 02 ngày làm việc, kể ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trừ trường hợp cấp lại chứng nhận đăng ký xe phải thực hiện xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư 24/2023 nêu dưới đây. - Thời hạn xác minh việc mất chứng nhận đăng ký xe khi giải quyết thủ tục cấp lại chứng nhận đăng ký xe là 30 ngày; thời hạn xác minh không tính vào thời hạn giải quyết cấp lại chứng nhận đăng ký xe theo quy định tại khoản 1 Điều 7 nêu trên. - Cấp biển số định danh lần đầu: Cấp ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký xe hợp lệ. - Cấp đổi biển số xe, cấp lại biển số xe, cấp biển số xe trúng đấu giá, cấp lại biển số định danh: Không quá 07 ngày làm việc, kể ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. - Cấp đăng ký xe tạm thời, cấp chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe: + Trường hợp thực hiện dịch vụ công trực tuyến toàn trình trên cổng dịch vụ công: Sau khi người làm thủ tục kê khai giấy khai đăng ký xe tạm thời hoặc kê khai giấy khai thu hồi đăng ký, biển số xe; nộp lệ phí theo quy định (đối với trường hợp đăng ký xe tạm thời), cơ quan đăng ký xe kiểm tra hồ sơ bảo đảm hợp lệ thì trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong thời hạn 08 giờ làm việc kể từ khi tiếp nhận hồ sơ từ cổng dịch vụ công; + Trường hợp thực hiện dịch vụ công trực tuyến một phần: 01 ngày làm việc (trường hợp đăng ký xe tạm thời); không quá 02 ngày làm việc, kể ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (trường hợp cấp chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số). - Thời gian trả kết quả đăng ký xe theo quy định tại khoản 1, khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 7 Thông tư 24/2023/TT-BCA, được tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và hệ thống đăng ký, quản lý xe đã nhận được kết quả xác thực về việc hoàn thành nộp lệ phí đăng ký xe từ cổng dịch vụ công. Trên đây là chia sẻ của Công ty luật VietLawyer. Với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý nếu khách hàng là cá nhân, tổ chức có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website https://vietlawyer.vn/  
 
hotline 0936 645 695