Tất cả sản phẩm

Khi khởi kiện một vụ án dân sự, không phải lúc nào Tòa án cũng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Có trường hợp nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 500 triệu đồng nhưng Tòa án chỉ chấp nhận 300 triệu đồng. Khi đó, có thể nói nguyên đơn "thắng" một phần và "thua" một phần. Vậy án phí trong trường hợp này do ai chịu? Bên nào thua nhiều hơn có phải chịu toàn bộ án phí hay không?  1. Có phải cứ thua kiện thì phải chịu toàn bộ án phí?  - Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: " Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm".  - Quy định này được cụ thể tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Nếu toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận thì Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm Nếu toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận thì Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí  Nếu Tòa án chỉ chấp nhận một phần yêu cầu thì Nguyên đơn và Bị đơn đều có thể phải chịu án phí đối với những phần tương ứng. --> Như vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc ai được coi là "thắng kiện" hoặc "thua kiện" để xác định án phí. Phải xem cụ thể Tòa án chấp nhận bao nhiêu trong tổng số yêu cầu của mỗi bên.  2. Nếu nguyên đơn thắng một phần và thua một phần thì án phí được chia như thế nào?  - Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định: " Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận".  Ví dụ: Anh A khởi kiện yêu cầu anh B trả 500 triệu đồng. Sau khi xét xử, Tòa án xác định anh B chỉ có nghĩa vụ trả cho anh A 300 triệu đồng, còn yêu cầu đối với 200 triệu đồng còn lại không có căn cứ nên không được chấp nhận  Khi đó, xác định:  Phần 300 triệu đồng được Tòa án chấp nhận: anh B phải chịu án phí tương ứng  Phần 200 triệu đồng không được Tòa án chấp nhận: anh A phải chịu án phí tương ứng.  --> Như vậy, trong cùng một vụ án, cả Nguyên đơn và Bị đơn đều có thể phải chịu án phí,  tương ứng đối với những phần tài sản mà mình yêu cầu toà giải quyết nhưng không được chấp nhận. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Di sản đang có người chiếm giữ: Người thừa kế phải làm gì? Sau khi một người qua đời, di sản để lại có thể đang do một người khác quản lý, sử dụng hoặc chiếm giữ. Đặc biệt với nhà đất, việc một người tiếp tục ở trong căn nhà của người đã mất trong khi những người thừa kế khác không được nhận tài sản rất dễ phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp này, người thừa kế cần xác định rõ người đang giữ tài sản có phải là người quản lý di sản hợp pháp hay đang chiếm hữu tài sản không có căn cứ, từ đó lựa chọn cách thức yêu cầu giao lại di sản phù hợp.  1. Xác định tài sản đang bị chiếm giữ có phải là di sản thừa kế hay không Trước khi yêu cầu người khác giao trả tài sản, người thừa kế phải xác định tài sản đang bị quản lý, sử dụng hoặc chiếm giữ có thực sự thuộc khối di sản của người đã chết hay không. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Quy định này đặc biệt quan trọng đối với trường hợp di sản là nhà đất hoặc tài sản chung của vợ chồng. Không phải toàn bộ tài sản mà người chết từng sử dụng đều mặc nhiên trở thành di sản. Chỉ phần tài sản thuộc quyền của người chết tại thời điểm mở thừa kế mới được xác định là di sản để chia cho những người thừa kế. Như vậy, muốn yêu cầu người khác giao lại di sản, trước hết người thừa kế cần chứng minh được hai vấn đề: tài sản đang bị giữ thuộc di sản của người chết và mình là người có quyền hưởng di sản đó. Đây là cơ sở để tiếp tục xác định quyền yêu cầu giao tài sản. 2. Người đang giữ tài sản có phải là người quản lý di sản hợp pháp không? Không phải cứ một người đang giữ di sản thì đều được coi là người chiếm giữ trái pháp luật. Pháp luật cho phép một số người tiếp tục quản lý di sản trong thời gian chưa hoàn tất việc phân chia. Cụ thể, Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người quản lý di sản: “Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.”. Trường hợp chưa xác định được người quản lý theo các trường hợp này thì người đang chiếm hữu, sử dụng hoặc quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý. Tuy nhiên, quyền quản lý này không đồng nghĩa với quyền sở hữu riêng đối với di sản. Điều 617 Bộ luật Dân sự 2015 đặt ra các nghĩa vụ cụ thể đối với người quản lý di sản. Đáng chú ý, điểm đ khoản 1 Điều 617 quy định người quản lý di sản có nghĩa vụ “Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế”. Đối với người đang chiếm hữu, sử dụng hoặc quản lý di sản theo khoản 2 Điều 616, điểm d khoản 2 Điều 617 cũng quy định người này phải “Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.” Như vậy, nếu người đang giữ tài sản chỉ có tư cách quản lý di sản thì họ không thể lấy lý do đang quản lý tài sản để từ chối vô thời hạn yêu cầu hợp pháp của người thừa kế. Khi có yêu cầu giao lại di sản phù hợp với quy định pháp luật, người quản lý phải thực hiện nghĩa vụ của mình. 3. Người đang quản lý di sản không được tự ý bán, tặng cho hoặc thế chấp tài sản Một trong những vấn đề nghiêm trọng hơn là người đang giữ di sản tự ý bán, tặng cho, cầm cố hoặc thế chấp tài sản mà không có sự đồng ý của những người có quyền thừa kế. Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 617 Bộ luật Dân sự 2015, người quản lý di sản có nghĩa vụ bảo quản di sản và “không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản”. Đối với người đang chiếm hữu, sử dụng hoặc quản lý di sản theo khoản 2 Điều 616, điểm a khoản 2 Điều 617 cũng quy định nghĩa vụ bảo quản di sản và không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt di sản bằng hình thức khác. Như vậy, người được giao quản lý di sản chỉ có quyền quản lý, bảo quản tài sản chứ không mặc nhiên có quyền định đoạt tài sản như chủ sở hữu riêng. Nếu người này tự ý bán hoặc thế chấp di sản mà không có căn cứ pháp luật, người thừa kế cần nhanh chóng thu thập các giấy tờ về tài sản và chứng cứ về giao dịch để bảo vệ quyền lợi của mình.  4. Người thừa kế có quyền yêu cầu giao lại di sản, trường hợp cần thiết có thể yêu cầu Tòa án giải quyết Khi người đang giữ tài sản không có căn cứ pháp luật hoặc không thực hiện nghĩa vụ giao lại di sản, người có quyền có thể yêu cầu trả lại tài sản căn cứ theo Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.” Quy định này là căn cứ quan trọng để người có quyền đối với di sản yêu cầu người đang chiếm hữu không có căn cứ phải trả lại tài sản. Ngoài ra, Điều 169 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.” cho phép chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật chấm dứt hành vi đó hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm. Do đó, người thừa kế nên bắt đầu bằng việc gửi văn bản yêu cầu người đang giữ di sản giao lại tài sản, đồng thời nêu rõ căn cứ về quyền thừa kế và tài sản yêu cầu giao trả. Nếu người này không tự nguyện thực hiện, tranh chấp có thể được đưa ra Tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. 5. Cần lưu ý thời hiệu và chuẩn bị chứng cứ để bảo vệ quyền thừa kế Người thừa kế không nên để tranh chấp kéo dài mà không có biện pháp bảo vệ quyền của mình. Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản như sau: “1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.” Như vậy, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Đối với yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác, thời hiệu là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Nếu ngoài thời hiệu trên thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Nếu không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm giữ theo quy định pháp luật hoặc thuộc về Nhà nước nếu không có người đang chiếm giữ theo quy định pháp luật. Vì vậy, khi phát hiện di sản đang do một người khác chiếm giữ, người thừa kế nên thu thập giấy chứng tử của người để lại di sản, giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế, di chúc nếu có, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản và các tài liệu thể hiện việc người khác đang quản lý, sử dụng hoặc chiếm giữ tài sản. Trường hợp những người thừa kế cùng có quyền đối với di sản, cần xác định rõ phần quyền của từng người. Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.” thì những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Từ các quy định trên có thể thấy, người đang giữ di sản không đương nhiên trở thành chủ sở hữu của tài sản chỉ vì họ đang trực tiếp quản lý hoặc sử dụng tài sản. Nếu họ là người quản lý di sản thì phải thực hiện đúng các nghĩa vụ tại Điều 617, trong đó có nghĩa vụ giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế. Nếu họ chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật, người có quyền có thể căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền đòi lại tài sản: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.”để yêu cầu đòi lại tài sản và sử dụng cơ chế khởi kiện tại Tòa án khi cần thiết."  KẾT LUẬN Di sản đang do người khác quản lý hoặc chiếm giữ không đồng nghĩa với việc người đó có quyền sở hữu riêng đối với tài sản. Người thừa kế cần xác định rõ nguồn gốc di sản, quyền thừa kế của mình và tư cách của người đang quản lý, chiếm giữ tài sản. Trường hợp không tự nguyện giao trả, người thừa kế có thể thực hiện quyền yêu cầu đòi lại tài sản và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự, đồng thời cần lưu ý thời hiệu để bảo vệ đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.  
“Đổi sổ đỏ sang sổ hồng” là cách gọi phổ biến của người dân đối với việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Khi thực hiện thủ tục này, người dân có thể phải nộp một số khoản phí, lệ phí theo quy định của từng địa phương.Vậy đổi sổ đỏ sang sổ hồng phải nộp những khoản nào? Hải Phòng hiện quy định mức thu cụ thể ra sao? 1. Đổi sổ đỏ sang sổ hồng có thể phải nộp những khoản phí nào? - Chi phí khi cấp đổi Giấy chứng nhận có thể gồm: + Lệ phí cấp đổi Giấy chứng nhận;+ Phí thẩm định hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận;+ Trường hợp hồ sơ phát sinh nhu cầu trích lục, khai thác tài liệu đất đai thì có thể phát sinh thêm khoản phí tương ứng.Mức thu cụ thể do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định. 2. Hải Phòng quy định chi phí đổi Giấy chứng nhận như thế nào? - Theo Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND thành phố Hải Phòng, lệ phí cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận và phí thẩm định hồ sơ được quy định riêng đối với cá nhân.Cụ thể, đối với cá nhân, mức thu khi cấp đổi Giấy chứng nhận như sau: Nội dung  Chỉ có đất Chỉ có tài sản Đất và tài sản Lệ phí cấp đổi Giấy chứng nhận 25.000 đồng 25.000 đồng 30.000 đồng Phí thẩm định hồ sơ cấp đổi 100.000 đồng 100.000 đồng 115.000 đồng Tổng cộng 125.000 đồng 125.000 đồng 145.000 đồng Mức lệ phí cấp đổi được quy định tại Phụ lục I, còn phí thẩm định hồ sơ cấp đổi được quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết 34/2025/NQ-HĐND. 3. Cần lưu ý gì khi đổi sổ đỏ sang sổ hồng? - Theo Luật Đất đai 2024 và Nghị định 101/2024/NĐ-CP, việc cấp đổi Giấy chứng nhận được thực hiện trong những trường hợp pháp luật quy định. Do đó, người dân cần phân biệt giữa: + Cấp đổi Giấy chứng nhận: chủ yếu là thay Giấy chứng nhận đã cấp theo trường hợp thuộc diện cấp đổi;+ Cấp lại Giấy chứng nhận: áp dụng khi Giấy chứng nhận bị mất;+ Đăng ký biến động: áp dụng khi có thay đổi về người sử dụng đất, diện tích, tài sản, quyền sử dụng đất hoặc các nội dung khác theo quy định. 4. Mức thu phí, lệ phí bằng “0 đồng” khi? - Theo Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 28/7/2026 của HĐND thành phố Hải Phòng, đối với thủ tục hành chính được thực hiện qua hình thức trực tuyến, mức thu bằng 0 đồng đối với:+ Lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;+ Phí thẩm định hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Như vậy, nếu người dân tại Hải Phòng thực hiện thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận theo hình thức trực tuyến, thì hai khoản lệ phí cấp Giấy chứng nhận và phí thẩm định hồ sơ nêu trên được áp dụng mức 0 đồng. - Trường hợp được miễn phí, lệ phí:+ Trẻ em, hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và người có công với cách mạng.+ Tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất do tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước hoặc tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng+ Hoặc mở rộng đường giao thông theo quy hoạch + Hoặc tặng cho quyền sử dụng đất để làm nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Như vậy, không phải trường hợp “đổi sổ đỏ sang sổ hồng” nào cũng có mức chi phí giống nhau. Người dân cần căn cứ vào từng địa phương sẽ có những quy định về các mức phí khác nhau, hình thức nộp hồ sơ và nội dung thực tế của thủ tục để xác định chính xác số tiền phải nộp. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tế, khi bị người khác dùng vũ lực tấn công, người bị tấn công thường buộc phải chống trả để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình hoặc của người khác. Tuy nhiên, trong quá trình chống trả có thể xảy ra hậu quả nghiêm trọng, thậm chí làm người tấn công tử vong. Vậy nếu chống trả để tự vệ nhưng vô tình hoặc buộc phải làm chết người đang tấn công mình thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? 1. Phòng vệ chính đáng là gì? - Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: " Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo quyền, lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên"  Ví dụ, A cầm dao lao vào đâm B. Trong lúc bị tấn công, B giằng được con dao và chống trả nhằm ngăn A tiếp tục đâm mình. Nếu việc chống trả của B là cần thiết trong tình huống đó thì có thể được xem xét là phòng vệ chính đáng.  2. Phòng vệ chính đáng nhưng làm chết người có phạm tội không?  - Cũng theo Khoản 1 Điều 22, pháp luật khẳng định phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.  - Theo đó, nếu hành vi chống trả đáp ứng đầy đủ điều kiện của phòng vệ chính đáng, thì dù hậu quả khiến người đang thực hiện hành vi xâm phạm tử vong, người phòng vệ vẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ vì hậu quả chết người xảy ra.  Ví dụ, A dùng dao liên tục tấn công B vào những vùng nguy hiểm trên cơ thể. B không thể bỏ chạy và phải chống trả để bảo vệ tính mạng. Trong quá trình giằng co, B vô tình hướng con dao về lại phía của A, khiến con dao đâm vào A và A tử vong. Khi xem xét trách nhiệm của B, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá toàn bộ diễn biến vụ việc, đặc biệt là mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công và sự cần thiết của hành vi chống trả.  3. Khi nào phòng vệ làm chết người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?  - Khoản 2 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:  " Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.  Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự"  Ví dụ, A dùng gậy đánh B . Sau đó, B giằng được cây gậy đó đuổi theo A và đánh A nhiều nhát dẫn A bị tử vong. Tại thời điểm B dùng gậy đánh A, hành vi xâm hại của A đã chấm dứt thì không thể coi hành vi của B là chống trả cần thiết nhằm phòng vệ chính đáng. Trường hợp này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo tính chất thực tế của hành vi.  --> Như vậy, nếu phòng vệ chính đáng không tương xứng với hành vi tấn công, thì người có hành vi vượt giới hạn phòng vệ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.  4. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng làm chết người bị xử lý như thế nào?  Nếu cơ quan có thẩm quyền xác định người phòng vệ đã chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, và hành vi đó làm người tấn công tử vong thì có thể bị truy cứu về Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Điều 126 Bộ luật Hình sự.       - Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.         -  Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm. - Lưu ý: Điều 126 chỉ được áp dụng khi hành vi xảy ra trong hoàn cảnh có quyền phòng vệ nhưng người phòng vệ đã chống trả quá mức cần thiết  Nếu hành vi tấn công của phía bên kia đã kết thúc nhưng người được xác định là đang bị xâm hại vẫn chủ động đuổi theo, tấn công nhằm trả thù và cố ý tước đoạt tính mạng của người đó thì không đương nhiên được áp dụng Điều 126. Trách nhiệm hình sự phải được xác định dựa trên hành vi và các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể.  5. Phòng vệ chính đáng làm chết người có phải bồi thường không?  - Điều 594 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:  " Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.  Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại."  --> Do đó, nếu một người được xác định thực hiện hành vi phòng vệ hoàn toàn chính đáng thì họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại gây ra cho người thực hiện hành vi xâm phạm.  Nếu hành vi chống trả vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì ngoài việc có thể chịu trách nhiệm hình sự, người gây thiệt hại còn có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật.  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Đặt cọc mua nhà rồi phát hiện nhà đang thế chấp: Có lấy lại được tiền cọc? Trong thực tế giao dịch bất động sản, nhiều người mua chỉ phát hiện căn nhà mình đã đặt cọc đang được thế chấp tại ngân hàng sau khi đã giao một khoản tiền cho bên bán. Khi đó, câu hỏi thường được đặt ra là: Nhà đang thế chấp có được bán không? Người bán có vi phạm thỏa thuận đặt cọc không? Người mua có được lấy lại tiền cọc và yêu cầu phạt cọc hay không? Để xác định quyền lợi của bên mua, cần xem xét đồng thời quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về thế chấp, đặt cọc và quy định của Luật Đất đai 2024 về điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. 1. Thế chấp tài sản là gì? Theo khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự 2015: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).” Như vậy, khi một người dùng nhà, đất để thế chấp ngân hàng thì tài sản vẫn do bên thế chấp quản lý, sử dụng theo thỏa thuận nhưng đồng thời tài sản này đang được dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ. Quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thế chấp vì vậy không hoàn toàn giống trường hợp tài sản không bị ràng buộc bởi biện pháp bảo đảm.  Đáng chú ý, khoản 5 Điều 320 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ của bên thế chấp: “Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp.” Đồng thời, khoản 8 Điều 320 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 321 của Bộ luật này.” Như vậy, đối với trường hợp nhà ở đang được thế chấp tại ngân hàng, người bán không thể đơn phương coi việc mình đang đứng tên trên Giấy chứng nhận là đủ để tự do chuyển nhượng nhà cho người mua. Việc bán nhà đang thế chấp cần được thực hiện phù hợp với quyền của bên nhận thế chấp, trong đó trường hợp thông thường phải có sự đồng ý của bên nhận thế chấp hoặc thực hiện phương án giải chấp trước khi chuyển nhượng. 2. Nhà đang thế chấp có được bán không? Điều 321 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền của bên thế chấp. Đối với tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, khoản 5 Điều 321 quy định: “Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.” Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với trường hợp mua bán nhà đang thế chấp. Về nguyên tắc, người bán không thể chỉ căn cứ vào việc mình là chủ sở hữu để tự ý chuyển nhượng tài sản đang thế chấp mà không xem xét sự đồng ý của bên nhận thế chấp.  Trong thực tế, các bên có thể thỏa thuận phương án xử lý khoản vay, trong đó một phần tiền mua nhà được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm, sau đó thực hiện thủ tục giải chấp và tiếp tục giao dịch. Vì vậy, nhà đang thế chấp không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc không thể giao dịch, nhưng phương án xử lý tài sản thế chấp cần được thực hiện đúng quy định và thỏa thuận với bên nhận thế chấp. Ngoài ra, Điều 327 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Thế chấp tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây: 1. Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt.  2. Việc thế chấp tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;  3. Tài sản thế chấp đã được xử lý;  4. Theo thỏa thuận của các bên.”  Do đó, một trong những cách xử lý phổ biến trong giao dịch mua bán nhà đang thế chấp là thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm hoặc có phương án thay thế biện pháp bảo đảm để chấm dứt tình trạng thế chấp trước khi hoàn tất việc chuyển nhượng 3. Đặt cọc mua nhà được pháp luật quy định như thế nào? Đặt cọc được quy định trực tiếp tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015: “Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng”. Như vậy tiền đặt cọc được sử dụng nhằm đảm bảo việc các bên sẽ giao kết hoặc thực hiện hợp đồng mua bán nhà đất theo thoả thuận Đặc biệt khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên nhận đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”  4. Phát hiện nhà đang thế chấp sau khi đặt cọc có được lấy lại tiền không? Việc người mua phát hiện nhà đang thế chấp không tự động làm phát sinh quyền phạt đặt cọc. Cần xác định nguyên nhân khiến giao dịch không thể thực hiện hoặc bên nào là bên từ chối thực hiện cam kết. Trường hợp bên bán nhận tiền đặt cọc và cam kết sẽ thực hiện việc chuyển nhượng nhà cho người mua nhưng sau đó không thể thực hiện nghĩa vụ do tình trạng pháp lý của tài sản, đồng thời không có phương án hợp pháp để giải chấp hoặc thực hiện giao dịch thì cần xem xét trách nhiệm của bên bán. Nếu xác định bên bán là bên từ chối việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng thì khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 là căn cứ để người mua yêu cầu: + Hoàn trả toàn bộ tiền cọc + Trả thêm một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp các bên đã có thoả thuận khác.   5. Có phải cứ nhà đang thế chấp là bên bán phải trả tiền cọc gấp đôi? Căn cứ theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 đặt ra hậu quả pháp lý khi bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Vì vậy, cần xác định hành vi vi phạm và nguyên nhân khiến giao dịch không được thực hiện. Nếu bên bán đã thông báo ngay từ đầu rằng nhà mình đang thế chấp, đồng thời trong hợp đồng đặt cọc hai bên đã thống nhất rõ ràng bên bán sẽ thực hiện thủ tục giải chấp trước thời điểm công chứng và ngân hàng cũng đồng ý với phương án xử lý, thì việc căn nhà đang thế chấp chưa đủ để kết luận bên bán vi phạm nghĩa vụ đặt cọc. Ngược lại, nếu bên bán che giấu việc nhà đang thế chấp, nhận tiền đặt cọc và cam kết chuyển nhượng trong khi không có khả năng thực hiện nghĩa vụ, hoặc sau đó từ chối thực hiện giao dịch, thì đây là những tình tiết quan trọng để xem xét trách nhiệm của bên bán theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó khi giải quyết tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền sẽ phải xem xét hợp đồng đặt cọc, nội dung cam kết của các bên, tình trạng pháp lý của tài sản và hành vi thực tế của bên bán, bên mua. 6. Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai 2024 Bên cạnh Bộ luật Dân sự, giao dịch mua bán nhà đất còn phải đáp ứng điều kiện theo Luật Đất đai 2024. Căn cứ khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện luật định, trong đó có điều kiện về Giấy chứng nhận, tình trạng tranh chấp, kê biên và thời hạn sử dụng đất: “a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này; b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật; c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự; d) Trong thời hạn sử dụng đất; đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.” Như vậy, khi mua nhà đất, người mua không nên chỉ kiểm tra việc bên bán có Giấy chứng nhận hay không mà còn cần kiểm tra đầy đủ tình trạng pháp lý của tài sản, trong đó có thông tin về việc tài sản có đang được dùng để thế chấp hay không. 7. Nếu bên bán đã biết nhà đang thế chấp nhưng không nói cho người mua  Trong trường hợp hợp đồng bên bán cam kết nhà không có tranh chấp, không thế chấp hoặc đủ điều kiện để chuyển nhượng nhưng thực tế tài sản đang được thế chấp và bên bán không thông báo cho bên mua, thì hành vi này có thể trở thành căn cứ đánh giá việc bên bán có vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng hay không. Căn cứ theo khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự quy định về nguyên tắc trong quan hệ dân sự: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.”. Do đó ki ký kết hợp đồng đặt cọc, các bên cần cung cấp và trao đổi trung thực những thông tin có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng thực hiện giao dịch. Nếu việc che giấu tình trạng thế chấp dẫn đến việc bên bán không thể thực hiện nghĩa vụ đã cam kết thì đây có thể là căn cứ để người mua yêu cầu giải quyết hậu quả vi phạm, trong đó có việc xem xét hoàn trả và phạt cọc theo Điều 328 Bộ luật Dân sự. 8. Nếu người mua biết nhà đang thế chấp nhưng vẫn đồng ý đặt cọc  Khi người mua đã biết căn nhà đang thế chấp trước khi đặt cọc và cả hai bên đã thống nhất phương án giải chấp trách nhiệm của mỗi bên và thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng thì người mua không thể chỉ dựa vào việc “nhà đang thế chấp” để mặc nhiên yêu cầu phạt cọc. Khi đó, cần xem xét bên bán có thực hiện đúng phương án mà hai bên đã thống nhất hay không. Nếu bên bán thực hiện đúng cam kết và giải chấp được tài sản đúng thời hạn thì giao dịch có thể tiếp tục. Ngược lại, nếu bên bán cam kết sẽ giải chấp nhưng sau đó không thực hiện được nghĩa vụ, dẫn đến việc không thể ký hợp đồng chuyển nhượng theo thời hạn đã thỏa thuận, thì cần xem xét trách nhiệm của bên bán theo chính nội dung hợp đồng đặt cọc và khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015. 9. Người mua cần làm gì khi phát hiện nhà đã đặt cọc đang thế chấp? Khi phát hiện căn nhà đã đặt cọc đang thế chấp, người mua cần kiểm tra lại hợp đồng đặt cọc để xác định có điều khoản nào quy định về tình trạng pháp lý của nhà đất, nghĩa vụ giải chấp, thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng và trách nhiệm của các bên khi không thực hiện được giao dịch hay không. Tiếp theo, người mua nên yêu cầu bên bán cung cấp thông tin liên quan đến khoản vay và tài sản thế chấp, đồng thời xác minh phương án xử lý với ngân hàng nhận thế chấp. Đặc biệt, nếu tiếp tục giao dịch, các bên nên lập thỏa thuận bằng văn bản về việc sử dụng tiền mua nhà để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm, thời điểm giải chấp và thời điểm thực hiện thủ tục chuyển nhượng. Việc chỉ thỏa thuận bằng lời nói có thể gây khó khăn nếu sau đó phát sinh tranh chấp. Nếu không muốn tiếp tục giao dịch, người mua nên xác định rõ lý do chấm dứt và gửi văn bản yêu cầu bên bán hoàn trả tiền cọc. Trường hợp có căn cứ xác định bên bán là bên vi phạm nghĩa vụ nhận cọc, người mua có thể yêu cầu áp dụng khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015. 10. Kết luận Việc đặt cọc mua nhà rồi mới phát hiện căn nhà đang thế chấp không đồng nghĩa người mua chắc chắn mất tiền cọc, nhưng cũng không phải mọi trường hợp đều được phạt cọc gấp đôi. Căn cứ quan trọng nhất là khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng thì phải trả lại tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.  Đối với nhà đang thế chấp, cần đồng thời xem xét Điều 317, Điều 320, Điều 321 và Điều 327 Bộ luật Dân sự 2015 để xác định quyền, nghĩa vụ của bên thế chấp và khả năng xử lý tài sản; đồng thời kiểm tra điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Điều 45 Luật Đất đai 2024.  Vì vậy, khi mua nhà đất, người mua nên kiểm tra tình trạng pháp lý của tài sản trước khi giao tiền đặt cọc, đồng thời ghi rõ trong hợp đồng đặt cọc trách nhiệm của bên bán về việc giải chấp, thời hạn thực hiện giao dịch và hậu quả pháp lý nếu bên bán không thể chuyển nhượng tài sản đúng cam kết.  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Tuy nhiên, việc yêu cầu thi hành án phải được thực hiện trong thời hiệu nhất định và có thể phát sinh phí, chi phí trong quá trình tổ chức thi hành. Vậy thời hiệu yêu cầu thi hành án là bao lâu và những khoản phí, chi phí này do ai chịu? Dưới đây là những quy định cần lưu ý. 1. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm - Theo khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025: Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn. - Trường hợp ngoại lệ: + Người yêu cầu chứng minh được nguyên nhân không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng=> Thời gian xảy ra những sự kiện này không tính vào thời hiệu. + Cơ quan THADS đã gửi lại yêu cầu thi hành án do người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành => THÌ khi người phải thi hành án có điều kiện, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án trở lại và không bị tính thời hiệu 05 năm. 2. Phí và chi phí thi hành án do ai chịu? PHÍ:- Theo khoản 1 Điều 53 Luật Thi hành án dân sự và Điều 2 Thông tư 72/2026/TT-BTC quy định: đương sự (gồm người được thi hành án và người phải thi hành án) yêu cầu thi hành án phải nộp PHÍ thi hành án theo quy định của pháp luật KHI người được thi hành án nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định.- Người PHẢI thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với:+ Khoản tiền, tài sản đã thi hành trước khi có quyết định thi hành án + Trong thời hạn tự nguyện thi hành án theo quy định - Trường hợp thi hành án nhận được tiền sau thời gian nói trên thì người phải thi hành án phải chịu phí thi hành án theo giá ngạch từ 3% trên số tiền được nhận. (Người có công với cách mạng, người cao tuổi,  người khuyết tật, người nghèo, người cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người ở vùng kinh tế khó khăn sẽ được miễn tiền phí thi hành án). CHI PHÍ: Bao gồm chi phí cưỡng chế và các chi phí khác- Theo khoản 2 Điều 53 Luật này, chi phí thi hành án do người PHẢI thi hành án chịu. - Người ĐƯỢC thi hành án chỉ chịu chi phí cưỡng chế đối với:+ Chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản khi họ yêu cầu thực hiện việc này hoặc trong trường hợp việc hoãn thi hành án làm chứng thư thẩm định giá hết hiệu lực theo quy định;+ Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ nếu bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu khoản chi phí này;+ Các chi phí khác theo quy định của Chính phủ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Khi phát sinh tranh chấp thừa kế, một người thừa kế có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp người khởi kiện không kê khai đầy đủ những người có quyền hưởng di sản, do không biết, không xác định được nơi cư trú hoặc thậm chí cố tình không đưa một người thừa kế vào vụ án. Vậy việc bỏ sót người thừa kế có làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án và bản án của Tòa án hay không? 1. Những người thừa kế nào cần được xác định khi giải quyết vụ án chia di sản? -Trường hợp 1:  Nếu di sản được chia theo pháp luật + Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các hàng thừa kế theo thứ tự: Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết. --> Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau; Hàng thừa kế sau chỉ được hưởng khi không còn ai ở hàng trước do những nguyên nhân được luật quy định. +  Ngoài ra, khi có người thuộc trường hợp thừa kế thế vị, quyền hưởng di sản của người đó cũng cần được xem xét. Chẳng hạn, nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu có thể được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. - Trường hợp 2: Nếu người chết có để lại di chúc + Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một số người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động nếu đáp ứng các điều kiện luật định. --> Vì vậy, khi khởi kiện chia di sản, cần xác định đầy đủ những người có quyền hưởng thừa kế. 2. Có được bỏ sót người thừa kế khi khởi kiện không? - Theo khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đơn khởi kiện phải có thông tin về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những vấn đề mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết đối với họ. Trong vụ án chia di sản thừa kế, người có quyền hưởng một phần di sản thường là người có quyền lợi trực tiếp liên quan đến kết quả giải quyết vụ án. Vì vậy, họ cần được xác định và tham gia tố tụng để có cơ hội trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và bảo vệ quyền hưởng thừa kế của mình. - Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, nếu việc giải quyết vụ án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nhưng không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng thì Tòa án phải đưa người đó vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. --> Như vậy, trách nhiệm xác định đầy đủ người tham gia tố tụng không chỉ đặt ra đối với người khởi kiện mà còn thuộc trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. 3. Trường hợp phát hiện bỏ sót người thừa kế khi vụ án đang được giải quyết? - Nếu vụ án vẫn đang trong quá trình giải quyết tại Tòa án và phát hiện còn một người có quyền hưởng di sản chưa được đưa vào tham gia tố tụng thì cần thông báo ngay cho Tòa án. Tòa án có thể xác minh quan hệ nhân thân, quyền hưởng thừa kế và đưa người này vào vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu việc phân chia di sản có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. - Theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định người được đưa vào tham gia tố tụng có quyền trình bày ý kiến, cung cấp tài liệu và chứng cứ, tham gia phiên họp, phiên tòa và có thể đưa ra yêu cầu độc lập khi đáp ứng điều kiện của pháp luật. Ví dụ, ông A mất không để lại di chúc và có bốn người con là B, C, D và E. B khởi kiện yêu cầu chia căn nhà do ông A để lại nhưng trong đơn chỉ xác định C và D là những người thừa kế, không đề cập đến E. Nếu xác định E cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất và chưa từ chối nhận di sản, việc chia căn nhà trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của E. Vì vậy, E cần được đưa vào tham gia tố tụng trước khi vụ án được giải quyết. 4. Trường hợp Tòa án đã xét xử nhưng bỏ sót người thừa kế thì bản án có bị hủy không? - Việc Tòa án không đưa đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào quá trình giải quyết vụ án có thể được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nếu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. - Theo khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khi có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể hủy bản án sơ thẩm hoặc phần bản án có liên quan và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại. 5. Trường hợp Bản án đã có hiệu lực mới phát hiện bỏ sót người thừa kế thì xử lý thế nào? - Khoản 1 Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định bản án, quyết định đã có hiệu lực có thể bị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng và dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ; hoặc có sai lầm trong áp dụng pháp luật gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. --> Như vậy, nếu một người thực sự có quyền hưởng di sản nhưng hoàn toàn không được đưa vào tham gia vụ án và bản án đã phân chia hết khối di sản cho những người khác, người bị ảnh hưởng có thể gửi văn bản, tài liệu chứng minh quyền thừa kế của mình đến cơ quan có thẩm quyền để đề nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1.    Dấu hiệu nhận diện và căn cứ xác định bản chất giao dịch Khi hai bên thực tế thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng lại lập và ký hợp đồng vay tiền, thì khi phát sinh tranh chấp, Tòa án sẽ không chỉ căn cứ vào tên gọi của văn bản mà còn xem xét bản chất thực sự của giao dịch.Lấy ví dụ, A và B thỏa thuận mua bán một thửa đất với giá 2 tỷ đồng. Tuy nhiên, vì lý do chưa thể công chứng hợp đồng chuyển nhượng hoặc vì một nguyên nhân khác, hai bên lại thống nhất lập hợp đồng vay tiền, trong đó B ký giấy vay của A số tiền 2 tỷ đồng. Khi tranh chấp xảy ra, Tòa án sẽ xem xét các dấu hiệu như: A đã giao đủ tiền theo thỏa thuận mua bán đất hay chưa; mức giá chuyển nhượng có phù hợp với giá trị thực tế của thửa đất hay không; A đã nhận đất, quản lý và sử dụng đất trên thực tế hay chưa; sau khi ký văn bản, B có tiếp tục quản lý, sử dụng hoặc cư trú trên đất hay không; giữa các bên có thỏa thuận trả lãi định kỳ hay không; đồng thời xem xét giấy nhận nợ, tin nhắn, ghi âm, chứng từ chuyển khoản và các tài liệu khác thể hiện quan hệ vay tài sản.Trường hợp có đủ căn cứ xác định văn bản vay tiền chỉ nhằm che giấu giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì giao dịch có thể được xác định là giao dịch giả tạo theo Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khi đó, Tòa án sẽ xem xét hiệu lực của giao dịch thực tế bị che giấu và xác định hậu quả pháp lý tương ứng theo quy định pháp luật   2.    Trường hợp giao dịch được công nhận và bảo vệ quyền lợi Để chứng minh một giao dịch trên thực tế có bản chất là mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất thay vì chỉ là giao dịch vay tài sản được các bên ngụy trang, cần xem xét tổng thể diễn biến giao dịch và ý chí thực sự của các bên tại thời điểm xác lập. Việc Tòa án có công nhận giao dịch hay không không chỉ phụ thuộc vào tên gọi của giấy tờ hoặc nội dung thể hiện trên hợp đồng, mà còn được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố như: thời điểm giao dịch được xác lập; mức độ thực hiện nghĩa vụ của các bên; việc giao tiền, giao đất và quản lý, sử dụng đất trên thực tế; điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thời điểm giao dịch; giao dịch có vi phạm điều cấm của pháp luật hay không; cũng như khả năng áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự về công nhận giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ đánh giá bản chất thực sự của giao dịch, mức độ thiện chí và thực hiện cam kết của các bên, đồng thời đối chiếu với các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự để xác định giao dịch có đủ căn cứ được công nhận hay phải tuyên vô hiệu. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào một tình tiết riêng lẻ, chẳng hạn việc đã giao tiền hoặc có giấy viết tay, để mặc nhiên kết luận giao dịch mua bán đất được pháp luật bảo vệ. 3.    Trường hợp giao dịch bị tuyên vô hiệu và hậu quả pháp lý Ngược lại, nếu bên yêu cầu công nhận giao dịch không cung cấp được đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh giao dịch thực chất là mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hoặc giao dịch không đáp ứng các điều kiện có hiệu lực theo quy định pháp luật, Tòa án có thể không công nhận giao dịch. Khi đó, tùy thuộc vào bản chất và nội dung thỏa thuận thực tế, giao dịch có thể bị tuyên vô hiệu, kéo theo hệ quả các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự. Trường hợp phát sinh thiệt hại, lỗi của các bên và các vấn đề liên quan sẽ tiếp tục được xem xét để xác định trách nhiệm hoàn trả, bồi thường theo quy định pháp luật. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong nhiều gia đình, bố mẹ muốn giữ lại căn nhà của gia đình làm nơi thờ cúng tổ tiên nên khi lập di chúc thường giao căn nhà cho một người con quản lý. Sau khi bố mẹ qua đời, những người con còn lại có thể cho rằng mình cũng là con nên có quyền đối với căn nhà và yêu cầu chia đều tài sản. Vậy trong trường hợp bố mẹ đã lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà cho một người con để thờ cúng tổ tiên, những người con khác có được yêu cầu đem căn nhà đó ra chia thừa kế hay không? 1. Bố mẹ có quyền để lại tài sản trong di chúc để dùng vào việc thờ cúng không? - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, quyền của người lập di chúc: “ Điều 626. Quyền của người lập di chúcNgười lập di chúc có quyền sau đây:1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.” --> Theo đó, người để lại thừa kế có quyền dành một phần hoặc toàn bộ di sản để dùng vào việc thờ cúng.  2. Căn nhà đã được xác định là di sản thờ cúng thì những người con khác có được chia không? - Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể đối với di sản dùng vào việc thờ cúng. Theo đó, khi người lập di chúc dành một phần di sản để thờ cúng thì: phần di sản đó không được chia thừa kế; tài sản được giao cho người được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu không chỉ định người quản lý thì những người thừa kế sẽ cử người quản lý; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng nội dung di chúc hoặc không thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao tài sản cho người khác quản lý. --> Như vậy, nếu nội dung di chúc hợp pháp và căn nhà thực sự được xác định là di sản dùng vào việc thờ cúng, thì căn nhà không được đưa ra chia thừa kế như một tài sản thông thường.  Bên cạnh đó, căn nhà dùng để thờ cúng không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người thừa kế nào. Người được nhắc đến trong di chúc cũng chỉ là người quản lý và trực tiếp thờ cúng.  3. Những người con khác có thể được chia căn nhà trong trường hợp nào? Mặc dù có di chúc, vẫn có một số trường hợp những người con khác có thể yêu cầu xem xét quyền hưởng di sản: Trường hợp 1:  Di chúc không hợp pháp. - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, để di chúc hợp pháp, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; đồng thời nội dung và hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật. Ví dụ, nếu có căn cứ chứng minh bố hoặc mẹ không còn minh mẫn khi lập di chúc, chữ ký bị giả mạo hoặc việc lập di chúc xuất phát từ sự cưỡng ép thì những người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của di chúc.Nếu di chúc không hợp pháp, di sản hoặc phần di sản tương ứng có thể được chia theo pháp luật theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.  Trường hợp 2: Có người thuộc diện được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc. - Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một số người vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu họ không được cho hưởng di sản hoặc được hưởng ít hơn mức này. Nhóm này bao gồm con chưa thành niên và con thành niên không có khả năng lao động; ngoài ra còn có cha, mẹ, vợ hoặc chồng của người để lại di sản. Ví dụ, bố mẹ có 03 người con đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động bình thường và bố mẹ lập di chúc hợp pháp để lại căn nhà cho người con cả. Hai người con còn lại không thuộc trường hợp đương nhiên được hưởng 2/3 suất thừa kế theo Điều 644 chỉ vì họ là con của người chết.Ngược lại, nếu một người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì quyền hưởng phần di sản bắt buộc của người đó cần được xem xét, mặc dù di chúc không cho họ hưởng tài sản. Trường hợp 3: Căn nhà không hoàn toàn thuộc quyền định đoạt của người lập di chúc. - Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự, di sản chỉ bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Do đó, một người chỉ có quyền lập di chúc đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Ví dụ, căn nhà là tài sản chung của bố và mẹ. Nếu chỉ bố lập di chúc để lại “toàn bộ căn nhà” cho một người con nhưng mẹ không có nội dung định đoạt tương ứng thì di chúc của bố không thể làm phát sinh quyền đối với phần tài sản thuộc sở hữu của mẹ. Nếu cả bố và mẹ đều có di chúc hợp pháp định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình theo cùng một hướng thì mới có cơ sở xem xét toàn bộ căn nhà theo nội dung các di chúc đó.  Trường hợp 4: Di sản phải được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết. - Khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự quy định rằng nếu toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản để thờ cúng. Ví dụ, bố mẹ còn khoản nợ hợp pháp chưa thanh toán và tài sản để lại không đủ để thực hiện nghĩa vụ đó thì không thể viện dẫn việc căn nhà được dành để thờ cúng để loại trừ hoàn toàn quyền của chủ nợ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tóm tắt sự việc Rạng sáng 30/8, tài xế taxi Nguyễn Tiến Đạt (28 tuổi) đón nhóm của Vân (4 người) từ quán Lin Lounge79 (Móng Cái). Khi Vân đòi quay lại chở thêm người, anh Đạt từ chối vì xe đã chở tối đa 4 khách, dẫn đến cãi vã.Ngay trên xe, Vân, Ly, Trang và Tùng xông vào giật tóc, tát, đấm và dùng dép đánh anh Đạt. Tài xế hô "cướp", mở cửa chạy về phía quán để thoát thân nhưng bị nhóm Vân đuổi theo. Vợ chồng Kiên và Loan đi taxi phía sau thấy vậy liền xuống xe hùa vào đánh: Kiên dùng điếu cày đập vào đầu, Loan dùng điện thoại đập gáy và đá vào mặt khiến anh Đạt gục tại chỗ.Nhóm này tiếp tục kéo nạn nhân dậy, dồn vào hành lang quán đánh tiếp, đồng thời hung hãn tấn công cả người dân vào can ngăn.Anh Đạt sau đó được đồng nghiệp đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Móng Cái. Sáng cùng ngày, gia đình nạn nhân đã trình báo công an để điều tra, xử lý.Ngày 9/9, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh khởi tố 6 bị can về tội Gây rối trật tự công cộng, theo Điều 318 Bộ luật Hình sự. Trong đó, Lê Trung Kiên bị tạm giam để điều tra theo khoản 2 Điều 318. Hà Thúy Vân, Đỗ Thanh Tùng (chồng Vân), Nguyễn Thế Mạnh và Hà Ngọc Ly bị tạm giam theo khoản 1. Đặng Ngọc Loan, vợ Kiên, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh.Đáng chú ý, Nguyễn Thị Mai Trang, người được xác định có liên quan vụ án hiện đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đang tổ chức truy tìm để xử lý theo quy định pháp luật. Vậy việc bỏ trốn để tránh bị bắt có phải là tình tiết làm nặng trách nhiệm hình sự? Bỏ trốn không phải là tình tiết làm tăng nặng trách nhiệm hình sự vì:Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:a) Phạm tội có tổ chức;b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;d) Phạm tội có tính chất côn đồ;đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;g) Phạm tội 02 lần trở lên;h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên;k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;n) Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.Theo Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định theo phương pháp liệt kê khép kín từ điểm a đến điểm p. Đáng chú ý, hành vi “bỏ trốn” hiện không được quy định trực tiếp là một tình tiết tăng nặng.Mặc dù điểm p khoản 1 Điều 52 có đề cập đến “Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm”, nhưng về bản chất pháp lý, “xảo quyệt” là từ chỉ tính chất dối trá, lừa lọc và sử dụng thủ đoạn tinh vi khó lường. Việc một người thuần túy bỏ trốn để né tránh trách nhiệm không đương nhiên đồng nghĩa với việc họ có “hành động xảo quyệt”.Chính vì sự không đồng nhất này, quy định hiện hành đang tồn tại khoảng trống trong việc xử lý hành vi bỏ trốn. Đây cũng là lý do đang có các đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định nhằm ghi nhận rõ ràng hành vi bỏ trốn là một tình tiết tăng nặng độc lập, bảo đảm tính chặt chẽ và nâng cao hiệu quả răn đe của pháp luật. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong hoạt động kinh doanh, bên cạnh việc tặng sản phẩm, phiếu mua hàng hoặc áp dụng chương trình giảm giá, nhiều doanh nghiệp lựa chọn hình thức tặng tiền, hoàn tiền hoặc trao thưởng bằng tiền mặt để thu hút khách hàng. Tuy nhiên, không phải trong mọi chương trình khuyến mại doanh nghiệp đều được phép sử dụng tiền làm quà tặng hoặc giải thưởng. Vậy theo quy định hiện hành, tiền có được sử dụng như hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại hay không và doanh nghiệp cần lưu ý những trường hợp nào? 1. Hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại được hiểu như thế nào? - Theo Khoản 1 Điều 94 Luật Thương mại 2005, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là: Hàng hóa, dịch vụ được thương nhân sử dụng để tặng, thưởng hoặc cung ứng không thu tiền cho khách hàng. Hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại có thể là hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc một loại hàng hóa, dịch vụ khác. Hàng hóa, dịch vụ được sử dụng để khuyến mại phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp. Ví dụ, khi khách hàng mua một sản phẩm và được tặng thêm một sản phẩm khác, sản phẩm được tặng chính là hàng hóa dùng để khuyến mại. Tương tự, nếu doanh nghiệp tổ chức chương trình có giải thưởng cho khách hàng thì phần thưởng được trao cũng được xác định là giá trị dùng để khuyến mại. --> Vấn đề đặt ra là tiền không phải là một loại hàng hóa thông thường mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, pháp luật về khuyến mại có quy định riêng cho phép sử dụng tiền trong một số trường hợp. 2. Tiền có được sử dụng như hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại không? - Căn cứ tại Điều 5 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 239/2026/NĐ-CP. Theo đó: “Tiền có thể được sử dụng như hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại trừ các trường hợp khuyến mại theo quy định tại các Điều 8, Điều 10, Điều 11 Nghị định này.” --> Như vậy, doanh nghiệp có thể sử dụng tiền làm quà tặng hoặc giải thưởng trong chương trình khuyến mại nếu chương trình thuộc hình thức pháp luật cho phép.  - Những trường hợp có thể sử dụng tiền để khuyến mại:  Trường hợp 1: Tặng tiền cho khách hàng.  - Điều 9 Nghị định 81/2018/NĐ-CP cho phép thương nhân tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền có hoặc không kèm theo việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Ví dụ: Công ty A triển khai chương trình “Mua sản phẩm X, tặng 200.000 đồng”. Trong thời gian khuyến mại, khách hàng mua sản phẩm X với giá niêm yết 2.000.000 đồng và được Công ty A tặng thêm 200.000 đồng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Trường hợp này, 200.000 đồng được sử dụng như hàng hóa dùng để khuyến mại theo hình thức tặng hàng hóa không thu tiền.  Trường hợp 2: Thông qua các hình thức tổ chức thi và trao thưởng, chương trình khuyến mại mang tính chất may rủi - Theo Điều 12, Điều 13 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, tiền cũng có thể được sử dụng làm giải thưởng của chương trình thi hoặc chương trình khuyến mại mang tính may rủi.  Ví dụ:  doanh nghiệp có thể tổ chức cuộc thi và công bố giải thưởng bằng tiền, chẳng hạn “Giải nhất 20 triệu đồng” hoặc “khách hàng may mắn nhận giải thưởng 10 triệu đồng”, miễn là chương trình được tổ chức đúng hình thức và thủ tục tương ứng. 3. Những trường hợp không được sử dụng tiền để khuyến mại Trường hợp 1: Đưa hàng mẫu hoặc cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền - Đối với hình thức này, hàng mẫu hoặc dịch vụ mẫu phải chính là hàng hóa, dịch vụ hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽ đưa ra thị trường. Khách hàng nhận mẫu để trực tiếp trải nghiệm sản phẩm hoặc dịch vụ và không phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Do đó, doanh nghiệp không thể thay hàng mẫu hoặc dịch vụ mẫu bằng tiền mặt. Ví dụ, một doanh nghiệp kinh doanh mỹ phẩm tổ chức chương trình phát miễn phí sản phẩm dùng thử cho khách hàng. Doanh nghiệp có thể phát mẫu mỹ phẩm nhưng không thể coi việc đưa cho mỗi khách hàng 50.000 đồng là hình thức “đưa hàng mẫu”. Trường hợp 2: Khuyến mại bằng hình thức giảm giá - Quyền lợi mà khách hàng nhận được thể hiện trực tiếp thông qua việc giảm giá của hàng hóa, dịch vụ, chứ không phải nhận một khoản tiền với tư cách là hàng hóa dùng để khuyến mại. Ví dụ, sản phẩm có giá bán thông thường là 1.000.000 đồng, trong thời gian khuyến mại doanh nghiệp bán với giá 800.000 đồng thì đây là chương trình giảm giá. Khoản chênh lệch 200.000 đồng không phải là “tiền dùng để khuyến mại” mà là phần giá được giảm theo chương trình. Trường hợp 3:  Bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ có kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ - Trong trường hợp này, đối tượng khách hàng được nhận là phiếu mua hàng hoặc phiếu sử dụng dịch vụ, vì vậy doanh nghiệp không thể thay phiếu bằng một khoản tiền và vẫn coi chương trình đó là khuyến mại theo Điều 11. Ví dụ, chương trình “mua sản phẩm A được tặng voucher mua hàng trị giá 200.000 đồng” khác về hình thức pháp lý với chương trình “mua sản phẩm A được tặng 200.000 đồng tiền mặt”. 4. Doanh nghiệp tặng tiền khuyến mại có được tùy ý xác định số tiền không? - Hiện nay, hạn mức tối đa về giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại được quy định tại Điều 3 Thông tư 39/2025/TT-BCT. Theo nguyên tắc chung: Giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá bán ngay trước thời gian khuyến mại; Tổng giá trị dùng để khuyến mại trong một chương trình cũng không được vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, trừ những hình thức và trường hợp được pháp luật quy định ngoại lệ. --> Do đó, nếu doanh nghiệp áp dụng chương trình “mua hàng được tặng tiền mặt”, ngoài việc xác định hình thức khuyến mại phù hợp còn phải kiểm tra xem chương trình có thuộc trường hợp chịu hạn mức về giá trị khuyến mại hay không. 5. Có phải mọi chương trình khuyến mại bằng tiền đều phải thông báo với Sở Công Thương? Không. - Theo Nghị định 239/2026/NĐ-CP, việc thông báo sẽ tùy thuộc vào hình thức khuyến mại: Hình thức tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền theo Điều 9 không thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại. Chương trình có phiếu dự thi theo Điều 12 được miễn nếu tổng giá trị giải thưởng dưới 100 triệu đồng Chương trình khuyến mại mang tính may rủi theo Điều 13 phải thực hiện thủ tục đăng ký và được xác nhận trước khi triển khai.   ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Tóm tắt vụ trồng 74kg cần sa ở Hưng Yên Ngày 14/9, Công an tỉnh Hưng Yên cho biết Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (Công an tỉnh Hưng Yên) vừa phối hợp với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (Bộ Công an) và Công an xã Phụng Công kiểm tra, bắt quả tang nhóm đối tượng có hành vi tổ chức trồng, mua bán trái phép cần sa tại thôn Hạ, xã Phụng Công. Kết quả điều tra ban đầu cho thấy, đường dây này đã thuê nhiều địa điểm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và TP. Hà Nội để phục vụ việc trồng, chăm sóc và thu hoạch cần sa. Các đối tượng chủ yếu giao dịch, trao đổi mua hạt giống, điều hành toàn bộ quy trình trồng trọt cũng như tiêu thụ sản phẩm qua các nền tảng mạng xã hội. Cần sa sau khi thu hoạch được đem phơi khô, cắt nhỏ, đóng gói rồi bán ra thị trường thông qua dịch vụ giao nhận và các kênh liên lạc trực tuyến. Theo thống kê từ cơ quan chức năng, trong khoảng thời gian từ tháng 2/2026 đến tháng 6/2026, nhóm đối tượng này đã bán trái phép 59,19 kg cần sa và tiếp tục tàng trữ 14,508 kg cần sa để chờ tiêu thụ kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy bị phát hiện và xử lý lên tới 73,698 kg cần sa – đây là vụ án có quy mô lớn nhất từ trước đến nay được phát hiện trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Hiện tại, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chính thức ra quyết định khởi tố vụ án, đồng thời khởi tố nhiều bị can liên quan về các hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Trồng cây chứa chất ma túy". 2. Vậy khi nào chủ nhà phải chịu trách nhiệm hành chính và khi nào chịu trách nhiệm hình sự? Người thuê nhà tổ chức sản xuất, mua bán trái phép cần sa và bị công an bắt quả tang thì người cho thuê có bị liên đới chịu trách nhiệm hình sự hay không phụ thuộc vào việc người cho thuê nhà có biết hay không biết người đi thuê nhà có hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Trồng cây chứa chất ma túy". Trường hợp một người cho thuê biết người đi thuê sử dụng mua bán chất trái phép chất ma túy thì người cho thuê phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy “1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;b) Phạm tội 02 lần trở lên;c) Đối với người dưới 16 tuổi;d) Đối với 02 người trở lên;đ) Tái phạm nguy hiểm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”Để xử lý hình sự vụ trồng gần 74kg cần sa ở Hưng Yên chủ nhà theo Điều 256, Cơ quan điều tra phải chứng minh được: Chủ nhà có hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm (nhà, kho, đất) mà tại đó diễn ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy. Chủ nhà biết rõ người thuê nhà sử dụng địa điểm đó để tổ chức hoặc cho người khác sử dụng ma túy (cần sa) nhưng vẫn cho thuê, cho mượn hoặc mặc nhiên đồng ý/bỏ mặc. Trường hợp hai, các đối tượng cố tình hoạt động khép kín, rào chắn tỉ mỉ, lấy lý do thuê làm kho chứa hàng nông sản, thiết bị điện tử, chủ nhà không hề biết và không thể biết bên trong trồng,sử dụng cần sa. Vì thế chủ nhà sẽ không bị truy cứu trách nhịm hình sự theo Điều 256 chủ nhà chỉ có thể bị phạt vi phạm hành chính do thiếu trách nhiệm trong đăng ký tạm trú hoặc không kiểm tra, báo cáo lưu trú theo quy định.Trong vụ án Hưng Yên với quy mô kỷ lục 73,698 kg cần sa, việc chủ nhà có bị xử lý theo Điều 256  hay không phụ thuộc hoàn toàn vào việc Cơ quan điều tra chứng minh được chủ nhà có biết việc làm phi pháp của nhóm người thuê hay không. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695