Trong nhiều gia đình, bố mẹ muốn giữ lại căn nhà của gia đình làm nơi thờ cúng tổ tiên nên khi lập di chúc thường giao căn nhà cho một người con quản lý. Sau khi bố mẹ qua đời, những người con còn lại có thể cho rằng mình cũng là con nên có quyền đối với căn nhà và yêu cầu chia đều tài sản. Vậy trong trường hợp bố mẹ đã lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà cho một người con để thờ cúng tổ tiên, những người con khác có được yêu cầu đem căn nhà đó ra chia thừa kế hay không?

1. Bố mẹ có quyền để lại tài sản trong di chúc để dùng vào việc thờ cúng không?
- Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, quyền của người lập di chúc:
“ Điều 626. Quyền của người lập di chúc
Người lập di chúc có quyền sau đây:
1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.”
--> Theo đó, người để lại thừa kế có quyền dành một phần hoặc toàn bộ di sản để dùng vào việc thờ cúng.
2. Căn nhà đã được xác định là di sản thờ cúng thì những người con khác có được chia không?
- Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể đối với di sản dùng vào việc thờ cúng. Theo đó, khi người lập di chúc dành một phần di sản để thờ cúng thì:
- phần di sản đó không được chia thừa kế;
- tài sản được giao cho người được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng;
- nếu không chỉ định người quản lý thì những người thừa kế sẽ cử người quản lý;
- nếu người được chỉ định không thực hiện đúng nội dung di chúc hoặc không thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao tài sản cho người khác quản lý.
--> Như vậy, nếu nội dung di chúc hợp pháp và căn nhà thực sự được xác định là di sản dùng vào việc thờ cúng, thì căn nhà không được đưa ra chia thừa kế như một tài sản thông thường.
Bên cạnh đó, căn nhà dùng để thờ cúng không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người thừa kế nào. Người được nhắc đến trong di chúc cũng chỉ là người quản lý và trực tiếp thờ cúng.
3. Những người con khác có thể được chia căn nhà trong trường hợp nào?
Mặc dù có di chúc, vẫn có một số trường hợp những người con khác có thể yêu cầu xem xét quyền hưởng di sản:
- Trường hợp 1: Di chúc không hợp pháp.
- Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, để di chúc hợp pháp, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; đồng thời nội dung và hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Ví dụ, nếu có căn cứ chứng minh bố hoặc mẹ không còn minh mẫn khi lập di chúc, chữ ký bị giả mạo hoặc việc lập di chúc xuất phát từ sự cưỡng ép thì những người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của di chúc.
Nếu di chúc không hợp pháp, di sản hoặc phần di sản tương ứng có thể được chia theo pháp luật theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.
- Trường hợp 2: Có người thuộc diện được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
- Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một số người vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu họ không được cho hưởng di sản hoặc được hưởng ít hơn mức này. Nhóm này bao gồm con chưa thành niên và con thành niên không có khả năng lao động; ngoài ra còn có cha, mẹ, vợ hoặc chồng của người để lại di sản.
Ví dụ, bố mẹ có 03 người con đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động bình thường và bố mẹ lập di chúc hợp pháp để lại căn nhà cho người con cả. Hai người con còn lại không thuộc trường hợp đương nhiên được hưởng 2/3 suất thừa kế theo Điều 644 chỉ vì họ là con của người chết.
Ngược lại, nếu một người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì quyền hưởng phần di sản bắt buộc của người đó cần được xem xét, mặc dù di chúc không cho họ hưởng tài sản.
- Trường hợp 3: Căn nhà không hoàn toàn thuộc quyền định đoạt của người lập di chúc.
- Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự, di sản chỉ bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Do đó, một người chỉ có quyền lập di chúc đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Ví dụ, căn nhà là tài sản chung của bố và mẹ. Nếu chỉ bố lập di chúc để lại “toàn bộ căn nhà” cho một người con nhưng mẹ không có nội dung định đoạt tương ứng thì di chúc của bố không thể làm phát sinh quyền đối với phần tài sản thuộc sở hữu của mẹ. Nếu cả bố và mẹ đều có di chúc hợp pháp định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình theo cùng một hướng thì mới có cơ sở xem xét toàn bộ căn nhà theo nội dung các di chúc đó.
- Trường hợp 4: Di sản phải được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết.
- Khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự quy định rằng nếu toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản để thờ cúng.
Ví dụ, bố mẹ còn khoản nợ hợp pháp chưa thanh toán và tài sản để lại không đủ để thực hiện nghĩa vụ đó thì không thể viện dẫn việc căn nhà được dành để thờ cúng để loại trừ hoàn toàn quyền của chủ nợ.
⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
