TRẢ LỜI : LUẬT HÌNH SỰ

Trong thời đại công nghệ thông tin, mạng xã hội trở thành công cụ phổ biến để chia sẻ thông tin, quan điểm cá nhân. Tuy nhiên, việc lợi dụng không gian mạng để đăng tải, phát tán các bài viết có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Bộ luật Hình sự hiện hành quy định rõ ràng về chế tài xử lý đối với những hành vi này, bao gồm cả hình phạt tù nhiều năm. Bài viết sau đây, Luật Phương Bình sẽ phân tích cụ thể các quy định pháp luật liên quan để bạn đọc hiểu rõ trách nhiệm của mình khi tham gia môi trường mạng. 1. Đăng tải những bài viết nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bị xử lý hình sự như thế nào? Hiện nay, căn cứ theo Điều 117 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:  1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm: a) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; b) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm gây chiến tranh tâm lý. 2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. 3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên thì người nào có hành vi đăng tải những bài viết nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì có thể bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm. Ngoài ra, đối với việc phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Lưu ý: Đối với người chuẩn bị phạm tội này thì có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. 2. Nguyên tắc xử lý đối với người đăng tải những bài viết nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là gì theo Bộ luật Hình sự? Căn cứ theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 thì nguyên tắc xử lý đối với người đăng tải những bài viết nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định như sau: (1) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật; (2) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội; (3) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; (4) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra; (5) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục; (6) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện; (7) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Trong thời gian gần đây, các vụ việc sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm diễn ra ngày càng tinh vi, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Nhiều người băn khoăn liệu hành vi này có thể bị tich thu tài sản hay không và trong trường hợp nào. Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn, Công ty Luật Phương Bình xin phân tích quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề này. 1. Sản xuất buôn bán hàng giả là thực phẩm có bị tịch thu tài sản không? Căn cứ theo Điều 193 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 43 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 và khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025 quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm như sau: (1) Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm. (2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: - Có tổ chức; - Có tính chất chuyên nghiệp; - Tái phạm nguy hiểm; - Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; - Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; - Buôn bán qua biên giới; - Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; - Thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; - Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; - Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng. (3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm: - Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; - Thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ 500 triệu đồng; - Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ 500 triệu đồng; - Làm chết người; - Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên; - Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%. (4) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: - Thu lợi bất chính 1 tỷ 500 triệu đồng trở lên; - Gây thiệt hại về tài sản 1 tỷ 500 triệu đồng trở lên; - Làm chết 02 người trở lên; - Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên. (5) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. (6) Pháp nhân thương mại phạm tội, thì bị phạt như sau: - Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản (1), thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng; - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, e, g, h, i và k khoản (2), thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 12.000.000.000 đồng; - Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản (3), thì bị phạt tiền từ 12.000.000.000 đồng đến 18.000.000.000 đồng; - Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản (4), thì bị phạt tiền từ 18.000.000.000 đồng đến 36.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm; - Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; - Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm. Như vậy, ngoài các hình phạt chính thì người phạm tội sản xuất buôn bán hàng giả là thực phẩm còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. 2. Người sản xuất buôn bán hàng giả là thực phẩm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải có được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS không? Căn cứ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a, điểm b khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 có quy định về Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: 1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: ... r) Người phạm tội tự thú; s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội; v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ. 2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. 3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt. Theo đó, trường hợp người phạm tội sản xuất buôn bán hàng giả là thực phẩm trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thì được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Chào Luật sư, tháng 5/2025 tôi có cho bạn là H vay số tiền 10.000.000 đồng khi vay thì hai bên có làm hợp đồng vay tiền, có chữ ký tên và ghi họ tên của H, không có ai chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có thời hạn trả nợ, không lãi suất. Đến tháng 01/2026, H đã trả lại đầy đủ số tiền này cho tôi. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026, H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và qua quá trình điều tra, xác minh xác định rằng số tiền H dùng để trả cho tôi là tiền do phạm tội mà có. Hiện nay, tôi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự nêu trên. Tôi hoàn toàn không biết và cũng không có căn cứ để biết số tiền H trả cho tôi là tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Vậy, xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết các quy định của pháp luật liên quan đến vụ án. Trả lời: Trong vụ việc trên, hành vi cho anh H vay số tiền 10.000.000 đồng là giao dịch dân sự được thể hiện qua hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hai bên đã thỏa thuận cho vay tài sản, Bên A đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng số lượng với số tiền 10.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nợ, tuy nhiên tháng 1/2026 anh H đã thanh toán khoản vay cho anh bên A số tiền 10.000.000 đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 1 Điều 466 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Như vây, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với giao dịch vay tài sản giữa bên A và anh H. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026 anh H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản, đối với số tiền anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A cũng được xác định là số tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của anh H. Anh A mong muốn được tư vấn 02 vấn đề sau: 1. Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi 1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. 2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Theo quy định, đối với hành vi của anh H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ quan chức năng sẽ điều tra, xác minh về các số tiền mà anh H đã lừa đảo để trả lại tài sản cho chủ ở hữu (bị hại). Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm trên đều phải được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, dù bạn nhận được tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không thể biết nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền, theo nguyên tắc, bạn sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để phục vụ trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để xem xét việc anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A trong trường hợp này có làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, việc anh H thanh toán khoản vay trên là hợp pháp và bên A cũng không biết được nguồn gốc số tiền trên thì không có căn cứ để cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ cho rằng số tiền anh H thanh toán khoản trên có nguồn gốc về hành vi phạm tội của anh H, như vậy số tiền 10.000.000 đồng sẽ được cơ quan chức năng thu hồi. Đối với việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi số tiền anh H đã thực hiện việc thanh toán khoản nợ với số tiền 10.000.000 đồng cho bên A, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên A. Căn cứ khoản 11 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ xác định bên A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bạn có quyền yêu cầu độc lập buộc anh H (bị cáo) hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bạn đã co anh H vay. Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:   “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù bạn là người cho vay hợp pháp và đã nhận lại tiền từ anh H, nhưng do số tiền này được xác định là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thu hồi nhằm trả lại cho người bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, việc nhận tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không có căn cứ để biết về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản không làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với bạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn cần chủ động thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay là có thật và hợp pháp, đồng thời gửi yêu cầu bồi thường thiệt hại đến Tòa án. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bản án sẽ buộc bị cáo có nghĩa vụ thanh toán lại khoản tiền tương ứng cho bạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
  Hành vi phá cửa vào nhà người khác để trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Vậy người thực hiện hành vi này sẽ bị xử lý như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Tùy vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả xảy ra, người thực hiện hành vi này có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về một hoặc nhiều tội danh khác nhau theo quy định của Bộ luật Hình sự. (1) Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự Hành vi trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhằm thực hiện việc chiếm đoạt một cách trái pháp luật. Trong trường hợp này, nếu người thực hiện hành vi chuẩn bị sẵn công cụ để cạy phá cửa, khóa hoặc két sắt rồi đột nhập vào nhà nhằm lấy tài sản thì cho thấy ý thức cố ý phạm tội rất rõ ràng, có sự chuẩn bị từ trước và quyết tâm thực hiện hành vi chiếm đoạt đến cùng. Và hành vi phá cửa là phương thức để thực hiện hành vi trộm cắp (2) Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 178 Bộ luật Hình sự Nếu trong quá trình trộm cắp, người phạm tội có hành vi phá cửa, cạy khóa, phá két sắt hoặc làm hư hỏng tài sản khác thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xem xét về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Mặc dù mục đích chính là trộm cắp tài sản, nhưng người thực hiện hành vi phải nhận thức rõ việc dùng công cụ cạy phá sẽ làm tài sản bị hư hỏng hoặc mất giá trị sử dụng mà vẫn cố ý thực hiện để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Hành vi tác động trực tiếp vào tài sản nhằm phá vỡ kết cấu, làm biến dạng hoặc làm tài sản không còn nguyên trạng đã thể hiện dấu hiệu của hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. (3) Tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo Điều 158 Bộ luật Hình sự Trường hợp người phạm tội có hành vi phá cửa, cạy khóa, đột nhập trái phép vào nơi ở hợp pháp của người khác nhằm thực hiện việc trộm cắp tài sản thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xem xét về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Người thực hiện hành vi nhận thức rõ việc tự ý xâm nhập vào chỗ ở của người khác khi chưa được đồng ý là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân nhưng vẫn cố ý thực hiện để đạt được mục đích trộm cắp tài sản. Do đó, trong trường hợp có căn cứ xác định người thực hiện hành vi cố ý đột nhập trái phép vào nơi ở của người khác thì ngoài trách nhiệm đối với hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xử lý thêm về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Như vậy, hành vi phá cửa vào nhà người khác để trộm cắp tài sản không chỉ đơn thuần là hành vi trộm cắp mà trong nhiều trường hợp còn có thể bị xử lý về nhiều tội danh tương ứng với từng hành vi vi phạm đã thực hiện. Lưu ý: Khi phát hiện kẻ trộm, người dân cần giữ bình tĩnh, ưu tiên bảo đảm an toàn cho bản thân và những người xung quanh, không nên một mình truy đuổi hoặc khống chế đối tượng vì có thể bị chống trả nguy hiểm. Trong trường hợp an toàn, cần nhanh chóng báo cho Công an địa phương, đồng thời hô hoán, huy động sự hỗ trợ của những người xung quanh để ngăn chặn, bắt giữ đối tượng. Bên cạnh đó, nên cố gắng ghi nhớ đặc điểm, phương tiện, hướng di chuyển của đối tượng để hỗ trợ cơ quan chức năng truy xét, xử lý. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Xe cấp cứu là phương tiện được pháp luật ưu tiên khi tham gia giao thông trong lúc thực hiện nhiệm vụ cấp cứu nhằm đưa người bệnh đến cơ sở y tế trong thời gian nhanh nhất. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra nhiều trường hợp người tham gia giao thông không nhường đường hoặc cố tình cản trở xe cấp cứu, làm chậm quá trình đưa người bệnh đi cấp cứu. Nếu hành vi này là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời và tử vong thì người vi phạm không chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Dưới đây là các quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Xe cấp cứu có được quyền ưu tiên khi tham gia giao thông không? - Theo Khoản 1 Điều 27 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: Xe ưu tiên gồm có xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu. Và Theo Khoản 4 và Khoản 5 Điều 27 Luật này quy định “ Xe ưu tiên không bị hạn chế tốc độ; được phép đi không phụ thuộc vào tín hiệu đèn giao thông, đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được; riêng đối với đường cao tốc, chỉ được đi ngược chiều trên làn dừng xe khẩn cấp; phải tuân theo hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, biển báo hiệu tạm thời.” Và “Khi có tín hiệu của xe ưu tiên, người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường, trạm thu phí phải ưu tiên cho xe ưu tiên qua trạm trong mọi tình huống, không được gây cản trở.”Vì vậy, khi xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu phát tín hiệu ưu tiên theo quy định, người tham gia giao thông có trách nhiệm nhanh chóng giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường và không được có hành vi cản trở xe ưu tiên. 2. Xử phạt vi phạm hành chính - Theo tại Điểm b Khoản 6 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng- Theo tại Điểm đ Khoản 7 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng. 3. Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? - Trường hợp người điều khiển phương tiện vi phạm quy định về nhường đường cho xe cấp cứu và hành vi đó được xác định là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời dẫn đến tử vong trên đường đi thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).- Theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng một trong các hình phạt sau:+ Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; + Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì mức hình phạt có thể lên đến 15 năm tù tùy thuộc vào tính chất, mức độ lỗi và hậu quả thực tế. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Bùi Xuân Huấn được biết đến với biệt danh là "Huấn hoa hồng" thường tập trung hoạt động chủ yếu trên không gian mạng, trên mạng xã hội Facebook, ứng dụng TikTok và thông qua đó để tạo dựng hình ảnh gây ảnh hưởng với cộng đồng mạng, thu hút hàng triệu lượt người theo dõi bằng những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật; phát ngôn, truyền bá các nội dung phản cảm, tạo ra những tranh cãi, mâu thuẫn với những cá nhân khác có ảnh hưởng trên không gian mạng... Trước đó, ngày 6/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của Bùi Xuân Huấn và các đối tượng liên quan. Đồng thời, triệu tập các đối tượng để lấy lời khai, làm rõ các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Ngày 10/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với 5 bị can gồm: Bùi Xuân Huấn, Hoàng Ngọc Cường, Trương Thị Thương, Phạm Thị Ngọc Linh và Kiều Thị Hồng về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Mở rộng điều tra, ngày 14/8, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Bùi Xuân Huấn về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Với những hành vi này, Bùi Xuân Huấn có thể bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. Đối tượng Bùi Xuân Huấn (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Chiếm đoạt hơn 3 tỷ đồng và trách nhiệm về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Theo thông tin ban đầu xác định, thông qua sức ảnh hưởng trên mạng xã hội từ hoạt động bán hàng online, kêu gọi từ thiện Bùi Xuân Huấn đã chiếm đoạt tiền của nhiều người khác với tổng số tiền hơn 3 tỷ đồng. Để xác định trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ phương thức mà Huấn sử dụng để có được tài sản của người khác.  - Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Người nào có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối làm cho người khác tin tưởng và giao tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Mức hình phạt: + Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân.=> Như vậy, nếu số tiền hơn 3 tỷ đồng được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là số tiền Huấn thực tế chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Điều 174 thì sẽ phải đối mặt với mức hình phạt như trên. 2. Doanh thu hơn 300 tỷ đồng không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để ngoài sổ sách kế toán và trách nhiệm hình sự - Theo thông tin được công bố, hoạt động kinh doanh này có tổng doanh thu hơn 300 tỷ đồng nhưng Bùi Xuân Huấn cùng các đồng phạm không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để doanh thu ngoài sổ sách kế toán và gây thiệt hại nhiều tỷ đồng cho Ngân sách Nhà nước. - Vì vậy, Theo Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định hành vi trên đã thuộc vào trường hợp quy định tại Khoản 3 vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên. => Mức hình phạt: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của Bùi Xuân Huấn cùng đồng phạm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tối 18/8/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với 4 bị can gồm: Lê Văn Phú (tức Phú Lê), Lã Thúy Kiều, Phùng Thị Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan về các tội danh: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Theo thông tin điều tra ban đầu, trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023, Lã Thúy Kiều và Lê Văn Phú đã tham gia thành lập Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Xuất nhập khẩu Thiên Phú, Công ty TNHH Thanh Quang Đăng, Công ty TNHH Thương mại Thiên Phú Group. Thông qua 03 công ty nêu trên, Lã Thúy Kiều đã thuê gia công, buôn bán nhiều sản phẩm hàng hóa, quảng cáo trên nhiều nền tảng mạng xã hội với nội dung thổi phồng công dụng để thu hút khách hàng.  Riêng giai đoạn 2021-2025, Công ty Thiên Phú được xác định bán hàng nhưng không lập hóa đơn, không kê khai đầy đủ doanh thu. Hơn 107 tỷ đồng tiền bán hàng được chuyển vào nhiều tài khoản cá nhân của Kiều, Phú và người thân nhưng không được hạch toán vào sổ sách kế toán. Vậy các đối tượng có thể phải đối mặt với những chế tài nào? Đối tượng Lê Văn Phú (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Hơn 107 tỷ đồng doanh thu không hạch toán có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Khoản 3 Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định:+ Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trách nhiệm trong việc lập, cập nhật, kiểm tra sổ sách, báo cáo tài chính hoặc tài liệu kế toán mà vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán, gây thiệt hại thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.- Mức hình phạt: Trường hợp phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.  2. Không xuất hóa đơn, lập hóa đơn khống có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Điều 203 Bộ luật hình sự 2015 quy định phụ thuộc vào số lượng hóa đơn, số tiền thu lợi bất chính, mức thiệt hại đối với ngân sách nhà nướcTrường hợp 1: Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng:+ Phôi: từ 50 số - dưới 100 số+ Đã ghi nội dung: từ 10 số - dưới 30 số + Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng - dưới 100.000.000 đồng=> Phạt tiền từ 50.000.000 đồng - 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.Trường hợp 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên;g) Tái phạm nguy hiểm.=> Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của các đối tượng. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695