TRẢ LỜI : LUẬT HÌNH SỰ

  Hành vi phá cửa vào nhà người khác để trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Vậy người thực hiện hành vi này sẽ bị xử lý như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Tùy vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả xảy ra, người thực hiện hành vi này có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về một hoặc nhiều tội danh khác nhau theo quy định của Bộ luật Hình sự. (1) Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự Hành vi trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhằm thực hiện việc chiếm đoạt một cách trái pháp luật. Trong trường hợp này, nếu người thực hiện hành vi chuẩn bị sẵn công cụ để cạy phá cửa, khóa hoặc két sắt rồi đột nhập vào nhà nhằm lấy tài sản thì cho thấy ý thức cố ý phạm tội rất rõ ràng, có sự chuẩn bị từ trước và quyết tâm thực hiện hành vi chiếm đoạt đến cùng. Và hành vi phá cửa là phương thức để thực hiện hành vi trộm cắp (2) Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 178 Bộ luật Hình sự Nếu trong quá trình trộm cắp, người phạm tội có hành vi phá cửa, cạy khóa, phá két sắt hoặc làm hư hỏng tài sản khác thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xem xét về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Mặc dù mục đích chính là trộm cắp tài sản, nhưng người thực hiện hành vi phải nhận thức rõ việc dùng công cụ cạy phá sẽ làm tài sản bị hư hỏng hoặc mất giá trị sử dụng mà vẫn cố ý thực hiện để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Hành vi tác động trực tiếp vào tài sản nhằm phá vỡ kết cấu, làm biến dạng hoặc làm tài sản không còn nguyên trạng đã thể hiện dấu hiệu của hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. (3) Tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo Điều 158 Bộ luật Hình sự Trường hợp người phạm tội có hành vi phá cửa, cạy khóa, đột nhập trái phép vào nơi ở hợp pháp của người khác nhằm thực hiện việc trộm cắp tài sản thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xem xét về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Người thực hiện hành vi nhận thức rõ việc tự ý xâm nhập vào chỗ ở của người khác khi chưa được đồng ý là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân nhưng vẫn cố ý thực hiện để đạt được mục đích trộm cắp tài sản. Do đó, trong trường hợp có căn cứ xác định người thực hiện hành vi cố ý đột nhập trái phép vào nơi ở của người khác thì ngoài trách nhiệm đối với hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xử lý thêm về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Như vậy, hành vi phá cửa vào nhà người khác để trộm cắp tài sản không chỉ đơn thuần là hành vi trộm cắp mà trong nhiều trường hợp còn có thể bị xử lý về nhiều tội danh tương ứng với từng hành vi vi phạm đã thực hiện. Lưu ý: Khi phát hiện kẻ trộm, người dân cần giữ bình tĩnh, ưu tiên bảo đảm an toàn cho bản thân và những người xung quanh, không nên một mình truy đuổi hoặc khống chế đối tượng vì có thể bị chống trả nguy hiểm. Trong trường hợp an toàn, cần nhanh chóng báo cho Công an địa phương, đồng thời hô hoán, huy động sự hỗ trợ của những người xung quanh để ngăn chặn, bắt giữ đối tượng. Bên cạnh đó, nên cố gắng ghi nhớ đặc điểm, phương tiện, hướng di chuyển của đối tượng để hỗ trợ cơ quan chức năng truy xét, xử lý. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Nhiều người cho rằng tài sản là của mình thì có quyền tự ý lấy lại bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trên thực tế không phải trường hợp nào cũng vậy. Trong một số trường hợp, mặc dù tài sản thuộc quyền sở hữu của mình nhưng nếu tài sản đang do người khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý hợp pháp, việc lén lút lấy lại tài sản vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Dưới đây là những phân tích về các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này. 1. Trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự - Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định: Người nào lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác đủ điều kiện luật định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản. - Trên thực tế, cụm từ "tài sản của người khác" không chỉ được hiểu là tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác mà còn bao gồm trường hợp tài sản đang thuộc sự quản lý hợp pháp của người khác hoặc của cơ quan có thẩm quyền.=> Vì vậy, nếu chủ sở hữu hoặc người cho rằng mình có quyền đối với tài sản tự ý lén lút lấy lại tài sản khi tài sản đang do người khác quản lý hợp pháp thì vẫn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. - Quan điểm này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khẳng định tại Án lệ số 74/2025/AL khái quát như sau: Cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông và tạm giữ phương tiện vi phạm của bị cáo để xử lý. Sau đó, bị cáo lén lút vào khu vực tạm giữ phương tiện vi  phạm của cơ quan có thẩm  quyền, lấy phương tiện của mình mang đi cất giấu. Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). - Mức hình phạt đối với hành vi này:+ Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu chiếm đoạt tài sản trị giá từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.+ Phạt tù từ 02 năm đến 20 năm tùy thuộc vào các trường hợp quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. 2. Trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự - Không phải mọi trường hợp lấy lại tài sản của mình đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu việc nhận lại tài sản được thực hiện công khai, được người đang quản lý tài sản đồng ý, hoặc thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền, thì đây là việc thực hiện quyền theo đúng quy định của pháp luật và không phải là hành vi phạm tội. - Trường hợp giữa các bên phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản thì các bên nên yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo trình tự pháp luật. Việc tự ý lén lút lấy lại tài sản để giải quyết tranh chấp có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự nếu đủ căn cứ theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Xe cấp cứu là phương tiện được pháp luật ưu tiên khi tham gia giao thông trong lúc thực hiện nhiệm vụ cấp cứu nhằm đưa người bệnh đến cơ sở y tế trong thời gian nhanh nhất. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra nhiều trường hợp người tham gia giao thông không nhường đường hoặc cố tình cản trở xe cấp cứu, làm chậm quá trình đưa người bệnh đi cấp cứu. Nếu hành vi này là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời và tử vong thì người vi phạm không chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Dưới đây là các quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Xe cấp cứu có được quyền ưu tiên khi tham gia giao thông không? - Theo Khoản 1 Điều 27 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: Xe ưu tiên gồm có xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu. Và Theo Khoản 4 và Khoản 5 Điều 27 Luật này quy định “ Xe ưu tiên không bị hạn chế tốc độ; được phép đi không phụ thuộc vào tín hiệu đèn giao thông, đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được; riêng đối với đường cao tốc, chỉ được đi ngược chiều trên làn dừng xe khẩn cấp; phải tuân theo hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, biển báo hiệu tạm thời.” Và “Khi có tín hiệu của xe ưu tiên, người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường, trạm thu phí phải ưu tiên cho xe ưu tiên qua trạm trong mọi tình huống, không được gây cản trở.”Vì vậy, khi xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu phát tín hiệu ưu tiên theo quy định, người tham gia giao thông có trách nhiệm nhanh chóng giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường và không được có hành vi cản trở xe ưu tiên. 2. Xử phạt vi phạm hành chính - Theo tại Điểm b Khoản 6 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng- Theo tại Điểm đ Khoản 7 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng. 3. Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? - Trường hợp người điều khiển phương tiện vi phạm quy định về nhường đường cho xe cấp cứu và hành vi đó được xác định là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời dẫn đến tử vong trên đường đi thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).- Theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng một trong các hình phạt sau:+ Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; + Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì mức hình phạt có thể lên đến 15 năm tù tùy thuộc vào tính chất, mức độ lỗi và hậu quả thực tế. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về ma túy, không ít trường hợp người bị bắt cho rằng mình chỉ nhận "giao hàng", "vận chuyển hộ" hoặc "cầm giúp" ma túy nên nếu bị xử lý thì chỉ có thể bị truy cứu về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Trong một số trường hợp, người trực tiếp vận chuyển ma túy vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm nếu đáp ứng các điều kiện luật định.Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào? Khi nào hành vi vận chuyển bị xem là tham gia vào hoạt động mua bán ma túy? Người không biết mình đang vận chuyển ma túy có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây. 1. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy ? Theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) - Tội vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi chuyển dịch trái phép chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào khi đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Hành vi vận chuyển có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như:+ Mang theo người;+ Cất giấu trong hành lý, túi xách hoặc phương tiện;+ Vận chuyển bằng xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy hoặc máy bay;+ Gửi qua dịch vụ vận chuyển hoặc các hình thức khác.Và không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác.- Hình phạt:+ Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: nếu thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này+ Tùy thuộc vào loại, khối lượng chất ma túy và các tình tiết định khung, mức hình phạt có thể lên đến tù chung thân. 2. Tội mua bán trái phép chất ma túy ? - Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy.+ Mua bán trái phép chất ma túy không chỉ giới hạn ở hành vi trực tiếp mua hoặc bán ma túy mà còn có thể bao gồm những hành vi tham gia vào quá trình mua bán nếu người thực hiện có sự thống nhất ý chí và cùng thực hiện hành vi phạm tội theo quy định về đồng phạm tại Điều 17 Bộ luật Hình sự. - Có thể bao gồm thuộc 1 trong các hành vi sau đây: ++ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;++ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);++ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;++ Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. - Hình phạt:+ Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt cơ bản của tội danh này là 03 năm đến 07 năm tù. + Đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình. 3. Khi nào người vận chuyển trái phép chất ma túy có thể bị truy cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy? - Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 quy định "đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm."- Nếu người vận chuyển biết rõ việc mình đang tham gia vào hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và có hành vi giúp sức hoặc cùng thực hiện việc mua bán thì tùy từng trường hợp, họ có thể bị TRUY CỨU TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.- Việc xác định người vận chuyển có phải là đồng phạm hay không sẽ căn cứ vào toàn bộ chứng cứ của vụ án, như:+ Có biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Có sự bàn bạc, thống nhất với các đối tượng khác hay không;+ Có tham gia giao nhận ma túy, giao nhận tiền hoặc hỗ trợ việc mua bán hay không;+ Có được hưởng lợi từ hoạt động mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Vai trò của người đó trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: một người biết rõ ma túy sẽ được giao cho khách mua, đồng ý nhận vận chuyển theo sự phân công của các đối tượng trong đường dây và thực hiện việc giao ma túy đúng theo kế hoạch đã thống nhất thì hành vi của người này có thể được xem xét với vai trò đồng phạm trong tội mua bán trái phép chất ma túy nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. 4. Nếu người vận chuyển không biết bên trong gói hàng là ma túy thì có phải chịu trách nhiệm hình sự không? - Theo nguyên tắc của pháp luật hình sự, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có yếu tố lỗi.=> Do đó, nếu một người thực sự không biết bên trong kiện hàng, vali hoặc gói đồ mà mình nhận vận chuyển là chất ma túy và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được điều đó thì không đủ căn cứ để xác định họ đã cố ý thực hiện tội phạm về ma túy. - Tuy nhiên, việc người vận chuyển có biết hay không biết không chỉ được xác định dựa trên lời khai mà sẽ được cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá thông qua toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ án, bao gồm:+ Mối quan hệ giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển;+ Cách thức giao nhận hàng hóa;+ Tiền công có bất thường hay không;+ Nội dung tin nhắn, cuộc gọi hoặc dữ liệu điện tử;+ Các chứng cứ khác chứng minh nhận thức và ý chí của người vận chuyển.=> Nếu các chứng cứ chứng minh người vận chuyển thực sự không biết mình đang vận chuyển ma túy thì họ có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định họ biết hoặc cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống:Chị Tú hỏi: Anh trai tôi hiện đang bị tạm giam để phục vụ quá trình điều tra. Gia đình muốn gửi đồ ăn, đồ uống, một số đồ dùng sinh hoạt và tiền cho anh nhưng không biết pháp luật quy định người bị tạm giam được nhận những loại quà gì, một tháng được nhận bao nhiêu lần và những ai được phép gửi quà. Vậy trường hợp này được quy định như thế nào? Trả lời: Theo quy định mới nhất tại Điều 3 Thông tư 63/2026/TT-BCA cụ thể như sau: 1. Người bị tạm giam được nhận những loại quà gì? Người bị tạm giam được nhận một số loại quà từ người thân thích gồm: tiền Việt Nam đồng, đồ ăn, đồ uống và đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, trừ những đồ vật thuộc danh mục cấm.+ Đối với đồ ăn, đồ uống, người thân gửi quà phải mua tại căng tin của cơ sở giam giữ. + Đối với đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, có thể bao gồm: áo, quần, băng vệ sinh phụ nữ, bàn chải đánh răng bằng nhựa, bát nhựa, cốc nhựa, chăn, chiếu, chậu nhựa, dung dịch vệ sinh phụ nữ, dép nhựa, dầu gội đầu, sữa tắm, gối, khăn mặt, kem đánh răng, màn, xà phòng, nước rửa chén bát, tất, thìa nhựa và các vật dụng khác theo quy định. 2. Một tháng người bị tạm giam được nhận quà mấy lần? - Người bị tạm giam được nhận quà của người thân thích không quá 03 lần/01 tháng, mỗi lần không quá 05 kg.- HOẶC Người bị tạm giam có thể được nhận quà 01 lần/01 tháng nhưng không quá 07 kg.Riêng đối với đồ ăn, đồ uống, mỗi lần gửi không được vượt quá 10 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường của 01 người bị tạm giam. 3. Người thân thích được gửi quà là những ai? - Theo khoản 10 Điều 2 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025, người thân thích của người bị tạm giữ, người bị tạm giam bao gồm:+ Vợ, chồng; + Bố đẻ, mẹ đẻ; bố chồng, mẹ chồng; bố vợ, mẹ vợ; + Bố nuôi, mẹ nuôi; + Con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; + Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; + Anh ruột, chị ruột, em ruột; + Cụ nội, cụ ngoại; + Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột; + Cháu ruột, chắt ruột. => Người đến cơ sở giam giữ gửi quà phải thuộc nhóm người thân thích nêu trên và thực hiện thủ tục theo quy định và khi đến cơ sở giam giữ làm thủ tục gửi quà phải là người có tên trong Sổ thăm gặp và gửi quà do cơ sở giam giữ cấp.- Nếu người thân thích đến gửi quà lần đầu hoặc chưa có tên trong Sổ thăm gặp và gửi quà  THÌ phải có giấy tờ chứng minh mình là người thân thích của người bị tạm giam.(Việc chứng minh quan hệ thân thích có thể được thực hiện thông qua ứng dụng VNeID nếu các bên cùng là thành viên trong hộ gia đình hoặc bằng đơn đề nghị xác nhận là người thân thích có dán ảnh và được xác nhận theo quy định.) 4. Có trường hợp nào bị tạm dừng nhận quà không? - Trong trường hợp bất khả kháng nhằm phòng, chống thiên tai, dịch bệnh Thủ trưởng cơ sở giam giữ có thể quyết định tạm dừng việc nhận quà.- Việc tạm dừng phải nêu rõ thời gian và được niêm yết công khai tại địa điểm tiếp công dân trong cơ sở giam giữ. Kết luận:   + Người bị tạm giam được nhận tiền, đồ ăn, đồ uống và một số đồ dùng sinh hoạt thiết yếu từ người thân thích. + Về số lần, người bị tạm giam được nhận quà không quá 03 lần/tháng, mỗi lần không quá 05 kg hoặc 01 lần/tháng không quá 07 kg. + Người thân muốn gửi quà cũng cần thực hiện đúng thủ tục và chứng minh quan hệ theo quy định. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.  
Bùi Xuân Huấn được biết đến với biệt danh là "Huấn hoa hồng" thường tập trung hoạt động chủ yếu trên không gian mạng, trên mạng xã hội Facebook, ứng dụng TikTok và thông qua đó để tạo dựng hình ảnh gây ảnh hưởng với cộng đồng mạng, thu hút hàng triệu lượt người theo dõi bằng những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật; phát ngôn, truyền bá các nội dung phản cảm, tạo ra những tranh cãi, mâu thuẫn với những cá nhân khác có ảnh hưởng trên không gian mạng... Trước đó, ngày 6/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của Bùi Xuân Huấn và các đối tượng liên quan. Đồng thời, triệu tập các đối tượng để lấy lời khai, làm rõ các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Ngày 10/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với 5 bị can gồm: Bùi Xuân Huấn, Hoàng Ngọc Cường, Trương Thị Thương, Phạm Thị Ngọc Linh và Kiều Thị Hồng về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Mở rộng điều tra, ngày 14/8, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Bùi Xuân Huấn về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Với những hành vi này, Bùi Xuân Huấn có thể bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. Đối tượng Bùi Xuân Huấn (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Chiếm đoạt hơn 3 tỷ đồng và trách nhiệm về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Theo thông tin ban đầu xác định, thông qua sức ảnh hưởng trên mạng xã hội từ hoạt động bán hàng online, kêu gọi từ thiện Bùi Xuân Huấn đã chiếm đoạt tiền của nhiều người khác với tổng số tiền hơn 3 tỷ đồng. Để xác định trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ phương thức mà Huấn sử dụng để có được tài sản của người khác.  - Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Người nào có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối làm cho người khác tin tưởng và giao tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Mức hình phạt: + Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân.=> Như vậy, nếu số tiền hơn 3 tỷ đồng được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là số tiền Huấn thực tế chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Điều 174 thì sẽ phải đối mặt với mức hình phạt như trên. 2. Doanh thu hơn 300 tỷ đồng không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để ngoài sổ sách kế toán và trách nhiệm hình sự - Theo thông tin được công bố, hoạt động kinh doanh này có tổng doanh thu hơn 300 tỷ đồng nhưng Bùi Xuân Huấn cùng các đồng phạm không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để doanh thu ngoài sổ sách kế toán và gây thiệt hại nhiều tỷ đồng cho Ngân sách Nhà nước. - Vì vậy, Theo Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định hành vi trên đã thuộc vào trường hợp quy định tại Khoản 3 vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên. => Mức hình phạt: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của Bùi Xuân Huấn cùng đồng phạm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tối 18/8/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với 4 bị can gồm: Lê Văn Phú (tức Phú Lê), Lã Thúy Kiều, Phùng Thị Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan về các tội danh: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Theo thông tin điều tra ban đầu, trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023, Lã Thúy Kiều và Lê Văn Phú đã tham gia thành lập Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Xuất nhập khẩu Thiên Phú, Công ty TNHH Thanh Quang Đăng, Công ty TNHH Thương mại Thiên Phú Group. Thông qua 03 công ty nêu trên, Lã Thúy Kiều đã thuê gia công, buôn bán nhiều sản phẩm hàng hóa, quảng cáo trên nhiều nền tảng mạng xã hội với nội dung thổi phồng công dụng để thu hút khách hàng.  Riêng giai đoạn 2021-2025, Công ty Thiên Phú được xác định bán hàng nhưng không lập hóa đơn, không kê khai đầy đủ doanh thu. Hơn 107 tỷ đồng tiền bán hàng được chuyển vào nhiều tài khoản cá nhân của Kiều, Phú và người thân nhưng không được hạch toán vào sổ sách kế toán. Vậy các đối tượng có thể phải đối mặt với những chế tài nào? Đối tượng Lê Văn Phú (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Hơn 107 tỷ đồng doanh thu không hạch toán có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Khoản 3 Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định:+ Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trách nhiệm trong việc lập, cập nhật, kiểm tra sổ sách, báo cáo tài chính hoặc tài liệu kế toán mà vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán, gây thiệt hại thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.- Mức hình phạt: Trường hợp phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.  2. Không xuất hóa đơn, lập hóa đơn khống có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Điều 203 Bộ luật hình sự 2015 quy định phụ thuộc vào số lượng hóa đơn, số tiền thu lợi bất chính, mức thiệt hại đối với ngân sách nhà nướcTrường hợp 1: Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng:+ Phôi: từ 50 số - dưới 100 số+ Đã ghi nội dung: từ 10 số - dưới 30 số + Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng - dưới 100.000.000 đồng=> Phạt tiền từ 50.000.000 đồng - 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.Trường hợp 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên;g) Tái phạm nguy hiểm.=> Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của các đối tượng. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695