DỊCH VỤ CỦA CHÚNG TÔI | LUẬT SƯ VIỆT | LUẬT SƯ CỦA BẠN

Trong bối cảnh hoạt động livestream bán hàng ngày càng phổ biến, pháp luật đã có những điều chỉnh đáng chú ý. Từ 01/07/2026, người kinh doanh qua livestream sẽ phải thực hiện xác thực danh tính khi tham gia trên các nền tảng thương mại điện tử.  Cụ thể, căn cứ Điều 24 Luật Thương mại điện tử 2025: "Điều 24. Trách nhiệm của người livestream bán hàng 1. Cung cấp thông tin cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử để phục vụ việc xác thực danh tính người livestream bán hàng. 2. Thực hiện theo quy chế hoạt động livestream bán hàng đã được công khai trên nền tảng trong quá trình livestream bán hàng. 3. Từ chối hợp tác khi người bán không cung cấp đầy đủ thông tin quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 23 của Luật này. 4. Không cung cấp thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn về công dụng, xuất xứ, chất lượng, giá cả, chính sách khuyến mại, bảo hành và các nội dung khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ. 5. Thực hiện nội dung quảng cáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận đối với hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật phải xác nhận nội dung quảng cáo. 6. Không sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, trang phục, hành vi trái đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục trong quá trình livestream bán hàng. 7. Dừng hợp tác, dừng phát trực tuyến, gỡ bỏ thông tin hiển thị ngay khi phát hiện hoặc theo yêu cầu của người bán hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật." Theo quy định này, người livestream có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho chủ quản nền tảng để phục vụ việc xác thực danh tính. Việc xác thực này là điều kiện để được phép tham gia hoạt động livestream bán hàng trên nền tảng. Điều này đồng nghĩa: - Các cá nhân, KOLs, KOCs, affiliate… khi bán hàng qua livestream đều thuộc diện điều chỉnh. - Nếu không xác thực danh tính, có thể bị hạn chế hoặc không được phép livestream bán hàng. Từ năm 2026, việc xác thực danh tính là nghĩa vụ bắt buộc đối với người kinh doanh qua livestream. Do đó, cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này cần chủ động chuẩn bị hồ sơ, thông tin và nắm rõ quy định pháp luật để đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra hợp pháp, ổn định và bền vững.  
Trong thực tế, không ít trường hợp một bên vợ hoặc chồng tự đứng ra vay tiền mà không có sự tham gia, đồng ý của người còn lại. Khi phát sinh tranh chấp, câu hỏi thường gặp là: người không ký vay có phải cùng chịu trách nhiệm trả nợ hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng như sau: "Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng 1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này. 2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này." Như vậy, pháp luật không yêu cầu bắt buộc cả hai vợ chồng cùng ký thì mới phát sinh nghĩa vụ chung. Trong một số trường hợp, dù chỉ một người vay, cả hai vẫn phải cùng chịu trách nhiệm. Cụ thể: (1) Vay để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Nếu khoản vay được sử dụng cho các nhu cầu như: ăn uống, sinh hoạt, chữa bệnh, học tập… thì đây được coi là nhu cầu thiết yếu của gia đình. → Khi đó, dù chỉ một người đứng ra vay, người còn lại vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ. (2) Vay trong phạm vi đại diện giữa vợ và chồng phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (3) Khoản vay thuộc nghĩa vụ chung về tài sản Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngược lại, nếu khoản vay: - Không phục vụ nhu cầu gia đình - Không có sự ủy quyền hoặc đại diện hợp pháp - Chỉ phục vụ mục đích cá nhân riêng (ví dụ: tiêu xài cá nhân, đầu tư riêng, đánh bạc, vay để cho người khác…) → Thì đây là nghĩa vụ riêng của người vay, người còn lại không phải chịu trách nhiệm liên đới. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thời gian gần đây, hệ thống quy định về xử phạt vi phạm giao thông liên tục được điều chỉnh, thay thế bằng các Nghị định mới. Đáng chú ý, việc bãi bỏ Nghị định 100/2019/NĐ-CP khiến nhiều người đặt ra câu hỏi: mức xử phạt hiện nay có gì thay đổi so với trước? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định 81/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, có hiệu lực từ ngày 15/5/2026. Điểm đáng chú ý, tại Nghị định 81/2026/NĐ-CP quy định bãi bỏ Nghị định 100/2019/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 123/2021/ NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng). Tuy nhiên, về bản chất, các quy định của Nghị định 100 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần trước đó. Cụ thể, tại Nghị định 168/2024/ NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ mà vẫn giữ lại các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt tại Nghị định 100/2019/ NĐ-CP. Đến ngày 22/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 336/2025/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ cũng tiếp tục điều chỉnh và bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt tại Nghị định 100/2019/ NĐ-CP. Như vậy, các quy định trước đây trong Nghị định 100 đã được chuyển sang các nghị định chuyên ngành riêng, áp dụng theo từng lĩnh vực cụ thể. Về mức xử phạt, theo thông tin từ cơ quan chức năng, việc bãi bỏ Nghị định 100 không làm thay đổi mức xử phạt vi phạm giao thông đường bộ hiện hành. Lý do là các quy định về xử phạt thực tế đã được áp dụng theo các nghị định mới từ trước đó, đặc biệt là từ thời điểm Nghị định 168/2024/NĐ-CP có hiệu lực (từ ngày 01/01/2025). Đáng chú ý, quy định pháp luật mới bổ sung cơ chế trừ điểm và phục hồi điểm giấy phép lái xe, thay vì chỉ áp dụng hình thức xử phạt tiền như trước. Sau nhiều lần được sửa đổi, bổ sung và phân tách theo từng lĩnh vực quản lý, Nghị định 100/2019/NĐ-CP đã được thay thế bằng Nghị định Nghị định 168/2024/ NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ và Nghị định 81/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, Nghị định 100/2019/NĐ-CP chính thức hết hiệu lực từ ngày 15/5/2026 . Mức xử phạt về cơ bản không thay đổi, nhưng cơ chế quản lý đã có sự điều chỉnh theo hướng chặt chẽ và phù hợp hơn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn giải đáp.
Trong thời gian vừa qua, xôn sao trên mạng xã hội về hành vi đưa thịt lợn bệnh vào trường học. Vậy hành vi trên có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý liên quan: Theo quy định khoản 4 Điều 5 Luật an toàn thực phẩm 2010 quy định: “Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.” Theo đó hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc không rõ nguyên nhân để sản xuất thuộc hành vi bị cấm theo quy định. Đối với tình huống trên, hành vi đưa thịt lợn bệnh vào trường học vi phạm điều cấm của luật gây ảnh hưởng đến nhiều chủ thể trong đó là các em học sinh, mầm non. Đối với hành vi trên, mức xử lý vi phạm như sau: Căn cứ theo quy định khoản 1, 3 điều 6 Luật an toàn thực phẩm 2010 như sau: “1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật. …. 3. Mức phạt tiền đối với vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt được áp dụng không quá 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm; tiền thu được do vi phạm mà có bị tịch thu theo quy định của pháp luật.” Về hình thức xử phạt: 1. Về xử phạt vi phạm hành chính: Căn cứ khoản 3, 4, 5, 6, 7 Điều 4 Nghị 115/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm: “3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá dưới 10.000.000 đồng. 4. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm; b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 5. Phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 6. Hình thức xử phạt bổ sung: a) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với vi phạm quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này; b) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 tháng đến 12 tháng đối với vi phạm quy định tại khoản 5 Điều này; c) Tước quyền sử dụng Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm từ 20 tháng đến 24 tháng đối với sản phẩm thuộc diện đăng ký bản công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này. 7. Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc tiêu hủy nguyên liệu, thực phẩm vi phạm quy định tại Điều này; b) Buộc thu hồi bản tự công bố sản phẩm đối với sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này.” Như vậy, đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để sản xuất, chế biến thực phẩm tùy theo mức độ vi phạm, cũng như giá trị sản phẩm để xử phạt hành chính. Ngoài ra, còn áp dụng quy định về xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như sau: Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất từ 1 đến 3 tháng đối với việc sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm;Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đỉnh chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 đến 12 tháng đối với hành vi phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài biện pháp xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, còn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. 2. Về trách nhiệm hình sự Căn cứ điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau: “Ðiều 317. Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …..  b.  Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.” Đối chiếu với vụ việc “tuồn thịt lợn bệnh vào trường học”, có thể đưa ra ý kiến tư vấn như sau, về hành vi vi phạm, nếu cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện việc thu mua lợn chết do bệnh, dịch bệnh, sau đó giết mổ, chế biến và cung cấp vào bếp ăn trường học thì hành vi này thuộc trường hợp “sử dụng động vật chết do bệnh để chế biến thực phẩm”. Trường hợp các đơn vị cung cấp suất ăn hoặc thực phẩm cho nhà trường vẫn phân phối thịt lợn khi đã biết rõ nguồn gốc không đảm bảo an toàn thì thuộc hành vi “cung cấp, bán thực phẩm mà biết rõ có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh”. Về yếu tố lỗi, điều luật yêu cầu người thực hiện hành vi phải “biết rõ” nguồn gốc thực phẩm là từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh. Trong thực tiễn, yếu tố này có thể được chứng minh thông qua các tình tiết như: thu mua lợn bệnh với giá rẻ bất thường, không có giấy kiểm dịch, có hành vi che giấu nguồn gốc hoặc hợp thức hóa giấy tờ. Nếu chứng minh được yếu tố nhận thức này thì xác định là lỗi cố ý trực tiếp và đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi chỉ bị xử lý hình sự khi giá trị thực phẩm vi phạm từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, hoặc dưới mức này nhưng người vi phạm đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về cùng hành vi mà chưa được xóa án tích. Đối với bếp ăn trường học, đặc biệt là các trường có tổ chức ăn bán trú, giá trị thực phẩm cung cấp thường lớn, do đó trên thực tế rất dễ vượt ngưỡng định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp, hành vi nêu trên không chỉ xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm mà còn trực tiếp đe dọa đến sức khỏe cộng đồng, trong đó đối tượng bị ảnh hưởng là học sinh – nhóm người chưa phát triển về thể chất và có sức đề kháng yếu. Đây là yếu tố làm gia tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, có thể được xem xét khi lượng hình hoặc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị áp dụng mức hình phạt theo khoản 1 Điều 317, bao gồm phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Trường hợp hành vi gây hậu quả nghiêm trọng như ngộ độc thực phẩm hàng loạt, ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều học sinh thì có thể bị áp dụng các khung hình phạt nặng hơn theo các khoản tiếp theo của điều luật. Căn cứ khoản 2 Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Làm chết người; c) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; h) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” Với vụ việc trên, hiện nay cơ quan điều tra vẫn đang điều tra, xác minh làm rõ về hành vi sai phạm. Tuy nhiên, đánh giá khách quan về vụ việc tuồn thịt lợn bệnh vào trường học thì không chỉ dừng lại ở khoản 1 nêu trên mà có căn cứ chứng minh sẽ áp dụng khoản 2 Điều 317 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 với khung hình phạt từ 3 năm đến 7 năm tù để xử lý và giải quyết.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Chào Luật sư, tháng 5/2025 tôi có cho bạn là H vay số tiền 10.000.000 đồng khi vay thì hai bên có làm hợp đồng vay tiền, có chữ ký tên và ghi họ tên của H, không có ai chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có thời hạn trả nợ, không lãi suất. Đến tháng 01/2026, H đã trả lại đầy đủ số tiền này cho tôi. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026, H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và qua quá trình điều tra, xác minh xác định rằng số tiền H dùng để trả cho tôi là tiền do phạm tội mà có. Hiện nay, tôi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự nêu trên. Tôi hoàn toàn không biết và cũng không có căn cứ để biết số tiền H trả cho tôi là tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Vậy, xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết các quy định của pháp luật liên quan đến vụ án. Trả lời: Trong vụ việc trên, hành vi cho anh H vay số tiền 10.000.000 đồng là giao dịch dân sự được thể hiện qua hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hai bên đã thỏa thuận cho vay tài sản, Bên A đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng số lượng với số tiền 10.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nợ, tuy nhiên tháng 1/2026 anh H đã thanh toán khoản vay cho anh bên A số tiền 10.000.000 đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 1 Điều 466 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Như vây, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với giao dịch vay tài sản giữa bên A và anh H. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026 anh H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản, đối với số tiền anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A cũng được xác định là số tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của anh H. Anh A mong muốn được tư vấn 02 vấn đề sau: 1. Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi 1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. 2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Theo quy định, đối với hành vi của anh H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ quan chức năng sẽ điều tra, xác minh về các số tiền mà anh H đã lừa đảo để trả lại tài sản cho chủ ở hữu (bị hại). Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm trên đều phải được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, dù bạn nhận được tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không thể biết nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền, theo nguyên tắc, bạn sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để phục vụ trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để xem xét việc anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A trong trường hợp này có làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, việc anh H thanh toán khoản vay trên là hợp pháp và bên A cũng không biết được nguồn gốc số tiền trên thì không có căn cứ để cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ cho rằng số tiền anh H thanh toán khoản trên có nguồn gốc về hành vi phạm tội của anh H, như vậy số tiền 10.000.000 đồng sẽ được cơ quan chức năng thu hồi. Đối với việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi số tiền anh H đã thực hiện việc thanh toán khoản nợ với số tiền 10.000.000 đồng cho bên A, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên A. Căn cứ khoản 11 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ xác định bên A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bạn có quyền yêu cầu độc lập buộc anh H (bị cáo) hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bạn đã co anh H vay. Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:   “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù bạn là người cho vay hợp pháp và đã nhận lại tiền từ anh H, nhưng do số tiền này được xác định là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thu hồi nhằm trả lại cho người bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, việc nhận tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không có căn cứ để biết về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản không làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với bạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn cần chủ động thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay là có thật và hợp pháp, đồng thời gửi yêu cầu bồi thường thiệt hại đến Tòa án. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bản án sẽ buộc bị cáo có nghĩa vụ thanh toán lại khoản tiền tương ứng cho bạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
 
hotline 0936 645 695