CHUYÊN GIA CỦA CHÚNG TÔI | LUẬT SƯ CỦA BẠN | LUATPHUONGBINH.VN

Trong thực tế kinh doanh, không ít trường hợp hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng các bên vẫn tiếp tục giao nhận hàng hóa như trước. Vậy khi phát sinh tranh chấp, liệu bên nhận hàng có phải tiếp tục thanh toán hay không? Căn cứ khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự 1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản." Đồng thời, Điều 24 Luật Thương mại 2005 cũng quy định: "Điều 24. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá 1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. 2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó." Như vậy, pháp luật hiện hành không bắt buộc mọi giao dịch mua bán đều phải được lập thành hợp đồng giấy có ký tên, đóng dấu thì mới có giá trị. Trong nhiều trường hợp, việc các bên tiếp tục thực hiện giao dịch trên thực tế vẫn có thể được xem là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồng. Ví dụ: Sau khi hợp đồng hết thời hạn hiệu lực nhưng bên bán vẫn tiếp tục giao hàng, bên mua vẫn nhận hàng, đối chiếu công nợ, thanh toán hoặc trao đổi qua email, tin nhắn về việc giao dịch thì những hành vi này có thể được xem là sự tiếp tục thực hiện quan hệ thương mại giữa các bên. Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án không chỉ căn cứ vào hợp đồng cũ mà còn xem xét toàn bộ quá trình giao dịch thực tế để xác định có phát sinh quyền và nghĩa vụ hay không?  Ngoài ra, pháp luật thương mại còn ghi nhận: "Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại." Đây là cách thức giao dịch được các bên lặp đi lặp lại trong thời gian dài và mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền, nghĩa vụ của nhau. Chẳng hạn, trước đây các bên thường thực hiện việc giao hàng trước, đối chiếu công nợ sau; hoặc đặt hàng qua email, xác nhận qua bảng kê mà không ký trực tiếp. Nếu phương thức này đã được duy trì ổn định trong quá trình hợp tác thì dù hợp đồng cũ đã hết hiệu lực, Tòa án vẫn có thể xem xét đây là căn cứ xác định quan hệ giao dịch tiếp tục tồn tại. Lưu ý: Để được công nhận trách nhiệm thanh toán, bên yêu cầu phải chứng minh được việc giao dịch thực tế vẫn tiếp tục diễn ra theo thông lệ trước đó. Nếu trước đây các bên có thỏa thuận hoặc duy trì thông lệ bắt buộc phải có xác nhận, chữ ký, đóng dấu trên bảng kê, biên bản hoặc chứng từ vận chuyển thì các tài liệu phát sinh sau khi hợp đồng hết hiệu lực cũng cần đáp ứng hình thức này hoặc có chứng cứ tương đương chứng minh bên còn lại đã chấp nhận giao dịch. Ngược lại, nếu chứng từ do một bên tự lập, không có xác nhận của bên còn lại và cũng không có căn cứ thể hiện việc tiếp tục thuê dịch vụ, nhận hàng hoặc thanh toán thì rất khó xác định trách nhiệm thanh toán phát sinh sau khi hợp đồng hết hiệu lực. Do đó, trong hoạt động thương mại, dù hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng các bên vẫn tiếp tục giao nhận hàng hóa hoặc thực hiện dịch vụ theo thông lệ cũ thì trách nhiệm thanh toán vẫn có thể phát sinh. Việc có được pháp luật công nhận hay không sẽ phụ thuộc vào hành vi thực tế của các bên và các chứng cứ chứng minh quá trình giao dịch liên tục sau khi hợp đồng hết hạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
  Hành vi phá cửa vào nhà người khác để trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Vậy người thực hiện hành vi này sẽ bị xử lý như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Tùy vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả xảy ra, người thực hiện hành vi này có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về một hoặc nhiều tội danh khác nhau theo quy định của Bộ luật Hình sự. (1) Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự Hành vi trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhằm thực hiện việc chiếm đoạt một cách trái pháp luật. Trong trường hợp này, nếu người thực hiện hành vi chuẩn bị sẵn công cụ để cạy phá cửa, khóa hoặc két sắt rồi đột nhập vào nhà nhằm lấy tài sản thì cho thấy ý thức cố ý phạm tội rất rõ ràng, có sự chuẩn bị từ trước và quyết tâm thực hiện hành vi chiếm đoạt đến cùng. Và hành vi phá cửa là phương thức để thực hiện hành vi trộm cắp (2) Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 178 Bộ luật Hình sự Nếu trong quá trình trộm cắp, người phạm tội có hành vi phá cửa, cạy khóa, phá két sắt hoặc làm hư hỏng tài sản khác thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xem xét về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Mặc dù mục đích chính là trộm cắp tài sản, nhưng người thực hiện hành vi phải nhận thức rõ việc dùng công cụ cạy phá sẽ làm tài sản bị hư hỏng hoặc mất giá trị sử dụng mà vẫn cố ý thực hiện để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Hành vi tác động trực tiếp vào tài sản nhằm phá vỡ kết cấu, làm biến dạng hoặc làm tài sản không còn nguyên trạng đã thể hiện dấu hiệu của hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. (3) Tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo Điều 158 Bộ luật Hình sự Trường hợp người phạm tội có hành vi phá cửa, cạy khóa, đột nhập trái phép vào nơi ở hợp pháp của người khác nhằm thực hiện việc trộm cắp tài sản thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xem xét về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Người thực hiện hành vi nhận thức rõ việc tự ý xâm nhập vào chỗ ở của người khác khi chưa được đồng ý là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân nhưng vẫn cố ý thực hiện để đạt được mục đích trộm cắp tài sản. Do đó, trong trường hợp có căn cứ xác định người thực hiện hành vi cố ý đột nhập trái phép vào nơi ở của người khác thì ngoài trách nhiệm đối với hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xử lý thêm về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Như vậy, hành vi phá cửa vào nhà người khác để trộm cắp tài sản không chỉ đơn thuần là hành vi trộm cắp mà trong nhiều trường hợp còn có thể bị xử lý về nhiều tội danh tương ứng với từng hành vi vi phạm đã thực hiện. Lưu ý: Khi phát hiện kẻ trộm, người dân cần giữ bình tĩnh, ưu tiên bảo đảm an toàn cho bản thân và những người xung quanh, không nên một mình truy đuổi hoặc khống chế đối tượng vì có thể bị chống trả nguy hiểm. Trong trường hợp an toàn, cần nhanh chóng báo cho Công an địa phương, đồng thời hô hoán, huy động sự hỗ trợ của những người xung quanh để ngăn chặn, bắt giữ đối tượng. Bên cạnh đó, nên cố gắng ghi nhớ đặc điểm, phương tiện, hướng di chuyển của đối tượng để hỗ trợ cơ quan chức năng truy xét, xử lý. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
 
hotline 0936 645 695