CHUYÊN GIA CỦA CHÚNG TÔI | LUẬT SƯ CỦA BẠN | LUATPHUONGBINH.VN

Trong thực tế, không ít trường hợp vợ hoặc chồng rời khỏi nơi cư trú, không để lại địa chỉ rõ ràng, khiến bên còn lại lo ngại việc thực hiện thủ tục ly hôn sẽ gặp trở ngại hoặc không thể tiến hành. Trước vướng mắc này, bài viết dưới đây của Luật Phương Bình sẽ phân tích và làm rõ các quy định pháp luật có liên quan. Theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên 1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. 2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. 3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.” Như vậy, trong trường hợp một bên không đồng ý ly hôn, cố tình trốn tránh hoặc không rõ đang cư trú ở đâu, bên còn lại vẫn có quyền nộp đơn ly hôn đơn phương, miễn là chứng minh được tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Về thẩm quyền giải quyết, theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ việc liên quan đến ly hôn là Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc. “Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ 1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; ....." Nơi cư trú của bị đơn có thể là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú theo pháp luật về cư trú. Trong đó, nơi thường trú là nơi sinh sống ổn định, lâu dài; còn nơi tạm trú là nơi sinh sống ngoài nơi thường trú và đã đăng ký tạm trú. Tuy nhiên, trong trường hợp không xác định được nơi cư trú hiện tại của bị đơn, pháp luật tố tụng dân sự vẫn cho phép Tòa án thụ lý vụ án. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu 1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây: a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; ....” Như vậy, việc không biết nơi cư trú của vợ hoặc chồng không làm mất quyền yêu cầu ly hôn của bên còn lại. Người yêu cầu ly hôn chỉ cần trình bày rõ với Tòa án về việc bị đơn đã rời khỏi nơi cư trú, không rõ địa chỉ hiện tại hoặc cố tình che giấu nơi ở thì Tòa án vẫn thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.  
Trong thực tế, nhiều người cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) là một loại tài sản hoặc giấy tờ có giá do gắn với quyền sử dụng đất có giá trị lớn. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác về mặt pháp lý. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể như sau: "Điều 105. Tài sản 1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. 2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai." Theo đó, để được coi là tài sản, một đối tượng phải thuộc một trong bốn nhóm nêu trên. Trong khi đó, tại khoản 21 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định rằng: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Tài sản gắn liền với đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của các luật có liên quan được thực hiện theo quy định của Luật này có giá trị pháp lý tương đương như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại Luật này.” Như vậy, sổ đỏ không phải là tài sản, mà chỉ là hình thức pháp lý để ghi nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Ngoài ra, tại Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011, Tòa án nhân dân tối cao nêu rõ: các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, trong đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không phải là giấy tờ có giá theo quy định của pháp luật dân sự. Do đó, việc chiếm giữ sổ đỏ không được xem là tranh chấp về tài sản theo nghĩa thông thường, và Tòa án không thụ lý yêu cầu buộc trả lại các giấy tờ này như đối với tài sản. Tóm lại, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) không phải là tài sản, cũng không phải là giấy tờ có giá. Nó chỉ là chứng thư pháp lý do Nhà nước cấp để xác nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
PHÂN BIỆT TỘI ĐÁNH BẠC VÀ TỘI TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT Đánh bạc là hành vi vi phạm pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay, diễn ra dưới nhiều hình thức như đánh bài, cá độ, lô đề, cá cược qua mạng. Trên thực tế, nhiều người còn nhầm lẫn giữa tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc, dẫn đến hiểu sai về trách nhiệm pháp lý phải chịu.Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. 1. Tội đánh bạc KN: Tội đánh bạc là hành vi tham gia các trò chơi được thua bằng tiền hoặc hiện vật trái phép, dưới bất kỳ hình thức nào, khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Căn cứ pháp lý: Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). - Dấu hiệu pháp lý cơ bản: + Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự; + Hành vi: Trực tiếp tham gia đánh bạc trái phép; + Giá trị: Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc từ 5 triệu đồng trở lên, hoặc dưới 5 triệu nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc có tiền án về hành vi này; + Mặt chủ quan: Lỗi cố ý. *) Hình phạtNgười phạm tội đánh bạc có thể bị: Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng; Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; Hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc Khái niệm : Tội tổ chức đánh bạc là hành vi chủ mưu, cầm đầu, điều hành hoặc tạo điều kiện cho người khác đánh bạc trái phép, nhằm thu lợi bất chính hoặc duy trì hoạt động đánh bạc. Căn cứ pháp lý :Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). *) Dấu hiệu pháp lý cơ bản Chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi: Rủ rê, lôi kéo người khác; chuẩn bị địa điểm, phương tiện; thu tiền xâu; quản lý, điều hành hoạt động đánh bạc; Tính chất: Có tổ chức, mang tính chuyên nghiệp, quy mô lớn; Mục đích: Thu lợi bất chính. *) Hình phạt: Người phạm tội tổ chức đánh bạc có thể bị: + Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng; + Hoặc phạt tù từ 01 năm đến 10 năm, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. 3. Phân biệt tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc Tiêu chí Tội đánh bạc Tội tổ chức đánh bạc Hành vi Trực tiếp tham gia đánh bạc Điều hành, tổ chức, tạo điều kiện Vai trò Người chơi Chủ mưu, cầm đầu, quản lý Mức độ nguy hiểm Thấp hơn Cao hơn Điều luật áp dụng Điều 321 BLHS Điều 322 BLHS Mức hình phạt Nhẹ hơn Nghiêm khắc hơn 4. Tình huống thực tế A cùng một số người tham gia đánh bài ăn tiền tại nhà riêng, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 10 triệu đồng. Trường hợp này, A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo Điều 321 BLHS. Trong khi đó, B là người đứng ra chuẩn bị địa điểm, rủ rê người chơi, thu tiền xâu sau mỗi ván bài. Hành vi của B có dấu hiệu của tội tổ chức đánh bạc theo Điều 322 BLHS, với mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với A. Kết luận: Tội tổ chức đánh bạc có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn tội đánh bạc do tạo điều kiện cho nhiều người tham gia, gây mất trật tự xã hội và phát sinh nhiều hệ lụy tiêu cực. Việc phân biệt rõ hai tội danh này giúp bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tóm lại tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc đều là hành vi bị pháp luật hình sự nghiêm cấm. Tuy nhiên, hai tội danh này khác nhau về bản chất hành vi, vai trò của người phạm tội và mức hình phạt áp dụng. Việc hiểu rõ sự khác biệt này không chỉ giúp nâng cao ý thức pháp luật của người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
KINH NGHIỆM ÔN THI KỲ KIỂM TRA TẬP SỰ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư không phải là một kỳ thi đánh đố kiến thức hàn lâm, mà là một bài kiểm tra toàn diện về tư duy hành nghề, kỹ năng áp dụng pháp luật và thái độ nghề nghiệp. Người vượt qua kỳ thi không hẳn là người học nhiều nhất, mà là người chuẩn bị đúng trọng tâm và biết cách làm bài. Dưới đây là những kinh nghiệm được hệ thống lại theo từng môn thi. 1. MÔN KỸ NĂNG LUẬT SƯ Đây là môn khiến nhiều thí sinh lo lắng nhất vì yêu cầu vận dụng tổng hợp kiến thức tố tụng và kỹ năng thực tiễn. 1.1. Phương pháp ôn tập hiệu quả Cấu trúc đề thi gồm: Phần bắt buộc: Dân sự (thường 4 câu) Phần tự chọn: Hình sự hoặc Thương mại (thường 4 câu) → Đa số thí sinh lựa chọn Hình sự vì quen thuộc hơn. Điều quan trọng cần ghi nhớ: Đề thi không lặp lại nội dung, nhưng gần như giữ nguyên cấu trúc. Vì vậy, chiến lược hiệu quả nhất không phải đọc luật tràn lan, mà là: Sưu tầm đề thi các năm gần đây. Giải đề trong điều kiện như thi thật. Sau mỗi câu, tra cứu căn cứ pháp lý chính xác. Ghi chú lại vị trí điều luật để hình thành phản xạ. Khi luyện nhiều đề, bạn sẽ nhận ra đề thường xoay quanh các nhóm vấn đề như: Thẩm quyền giải quyết Thời hiệu Hoãn phiên tòa Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Hướng bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi Soạn luận cứ Môn này tuyệt đối không thể học vẹt. Nếu nền tảng tố tụng còn yếu, cần củng cố trước khi bước vào giai đoạn luyện đề chuyên sâu. 1.2. Có nên tham gia lớp ôn thi? Nếu có điều kiện, việc tham gia lớp ôn luyện sẽ giúp bạn: Được cung cấp tài liệu trước buổi học. Tự làm đề ở nhà trước khi nghe phân tích. Hiểu cách giám khảo chấm điểm. Học kỹ thuật trình bày theo đúng barem. Lớp học không thay thế quá trình tự học, nhưng giúp bạn hiểu cách làm bài đúng hướng, tránh mất điểm oan. 1.3. Cách trình bày trong bài thi Giám khảo chấm theo từng ý. Vì vậy, hình thức trình bày ảnh hưởng trực tiếp đến điểm số. Nên: Gạch đầu dòng từng ý rõ ràng. Mỗi ý xuống dòng, thụt vào đầu dòng. Có căn cứ pháp luật cụ thể. Lập luận đầy đủ, không trả lời một dòng cho xong. Nhiều thí sinh viết rất nhiều nhưng không trúng trọng tâm. Viết dài không quan trọng. Viết đúng và đủ ý mới quyết định điểm số. 2. MÔN ĐẠO ĐỨC LUẬT SƯ (Môn có thể “giữ điểm” nếu chuẩn bị đúng cách) Nội dung thi căn cứ theo quy định của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, xoay quanh Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam. 2.1. Cấu trúc đề thi 15 câu trắc nghiệm – 30 điểm Lý thuyết (nêu và phân tích quy tắc, lấy ví dụ) – 40 điểm Tình huống – 30 điểm Chỉ cần học thuộc 32 quy tắc, bạn đã có nền tảng vững chắc để đạt từ 50–60 điểm. 2.2. Cách học thuộc 32 quy tắc Thời gian khuyến nghị: 1–1,5 tháng trước kỳ thi. Phương pháp hiệu quả: Nhẩm lại mỗi ngày. Nghe audio lặp lại nhiều lần. Ôn liên tục để tránh “học trước quên sau”. Thực tế đề thi từng ra thẳng nội dung một quy tắc cụ thể (ví dụ Quy tắc 4 – Tham gia hoạt động cộng đồng). Ai học thuộc gần như nắm chắc điểm phần này. 2.3. Câu hỏi phân tích quy tắc Muốn đạt điểm cao, không chỉ dừng ở việc chép lại quy tắc mà cần: Giải thích ý nghĩa của quy tắc. Phân tích mục đích bảo vệ khách hàng và uy tín nghề. Đưa ví dụ thực tiễn minh họa. Nhận diện hậu quả nếu vi phạm. Nếu mục tiêu chỉ là đạt 50 điểm → tập trung học thuộc. Nếu mục tiêu 70–80 điểm → phải phân tích sâu và có lập luận. 2.4. Câu hỏi tình huống Dạng phổ biến: “Luật sư X có vi phạm không? Phân tích.” Để làm tốt phần này cần: Thuộc 32 quy tắc. Biết thêm các quy định tại Điều 5, Điều 9 Luật Luật sư. Tham khảo các quyết định xử lý kỷ luật luật sư để học cách viện dẫn. Khi đã nắm chắc quy tắc, phần tình huống trở nên khá dễ vì chỉ là thao tác đối chiếu hành vi với quy định. 3. MÔN HỒ SƠ THỰC HÀNH (VẤN ĐÁP) (Môn có tỷ lệ rớt thấp nếu chuẩn bị nghiêm túc) 3.1. Cách chấm điểm Hình thức hồ sơ: 30 điểm Tóm tắt vụ việc: 20 điểm Trả lời vấn đáp: 50 điểm Điểm số phụ thuộc nhiều vào mức độ bạn thực sự hiểu hồ sơ. 3.2. Chuẩn bị hồ sơ Nên chọn vụ việc: Đã có bản án. Thuộc lĩnh vực bạn làm nhiều. Bạn đã từng tham gia nghiên cứu. Hồ sơ phải tuân thủ quy định của Liên đoàn Luật sư Việt Nam: Font Times New Roman, size 14. Khổ A4, căn lề chuẩn. Tối thiểu 8 trang (phần nội dung chính). Đóng bìa cứng gọn gàng. Chỉ đưa tài liệu có giá trị chứng minh. Không làm hồ sơ quá dày gây rối. 3.3. Tóm tắt trước giám khảo Thời gian chỉ 4–5 phút. Cách luyện: Tóm tắt theo trình tự thời gian. Nhấn mạnh vấn đề pháp lý trọng tâm. Tập nói và bấm giờ trước khi thi. Không nên đọc lại nguyên văn hồ sơ. 3.4. Trả lời câu hỏi vấn đáp Giám khảo thường hỏi: Quan điểm về khởi tố/khởi kiện Hướng bào chữa hoặc bảo vệ. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Thời hiệu khởi kiện. Yêu cầu của đương sự. Cách trả lời chuẩn: Căn cứ pháp luật → Phân tích áp dụng → Kết luận rõ ràng. Giám khảo không hỏi để đánh đố, mà để kiểm tra bạn có thực sự nghiên cứu hồ sơ hay không. 4. NHỮNG SAI LẦM CẦN TRÁNH 4.1. Bỏ sót câu hỏi Do tâm lý hoặc phân bổ thời gian kém. Giải pháp: Đọc kỹ toàn bộ đề. Ghi nháp số lượng câu. Soát lại trước khi nộp bài. 4.2. Ghi tên thật vào bài thi Vi phạm quy chế → bị trừ 50% điểm. Trong luận cứ chỉ nên ghi: Luật sư X Luật sư A/B Tuyệt đối không ghi tên thật. 4.3. Overthinking khi đọc đề Suy diễn ngoài dữ kiện đề bài khiến trả lời lệch hướng. Nguyên tắc vàng: Bám sát câu hỏi. Không thêm thắt. Không tự đặt giả định. KẾT LUẬN Kỳ kiểm tra tập sự không đánh đố. Người đậu thường là người: Nắm chắc cấu trúc đề. Ôn đúng trọng tâm. Trình bày rõ ràng, có căn cứ. Không vi phạm quy chế. Chuẩn bị hồ sơ nghiêm túc và trung thực. 5 TỪ KHÓA VƯỢT KỲ THI Cấu trúc – Luyện đề – Thuộc quy tắc – Hiểu hồ sơ – Bám đề Giữ được 5 nguyên tắc này, bạn không chỉ vượt qua kỳ thi, mà còn xây dựng được nền tảng vững vàng cho hành trình hành nghề luật sư phía trước. Trên đây là một số chia sẻ của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn
Công ty ngừng hoạt động nhưng chưa giải thể, chủ doanh nghiệp còn nghĩa vụ gì? Trong thực tế, không ít doanh nghiệp sau một thời gian kinh doanh thua lỗ hoặc gặp khó khăn đã “đóng cửa” ngừng hoạt động nhưng lại chưa thực hiện thủ tục giải thể theo quy định pháp luật. Nhiều chủ doanh nghiệp cho rằng chỉ cần ngừng kinh doanh là không còn nghĩa vụ gì. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, việc ngừng hoạt động không đồng nghĩa với việc chấm dứt tư cách pháp lý. Vậy trong trường hợp công ty ngừng hoạt động nhưng chưa giải thể, chủ doanh nghiệp còn phải thực hiện những nghĩa vụ nào? Trước vướng mắc này, bài viết dưới đây của Luật Phương Bình sẽ phân tích và làm rõ các quy định pháp luật có liên quan. 1. Cơ sở pháp lý Luật Doanh nghiệp 2020 Luật Quản lý thuế 2019 Bộ luật Lao động 2019 2. Ngừng hoạt động có làm chấm dứt nghĩa vụ pháp lý không? Theo Điều 206 và Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp chỉ chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý khi hoàn tất thủ tục giải thể hoặc bị Tòa án tuyên bố phá sản. Việc “ngừng hoạt động” trên thực tế (không kinh doanh, đóng cửa trụ sở) nhưng chưa làm thủ tục giải thể thì doanh nghiệp vẫn đang tồn tại trên hệ thống đăng ký kinh doanh. Do đó, các nghĩa vụ pháp lý vẫn tiếp tục phát sinh. 3. Nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp khi công ty chưa giải thể 3.1. Nghĩa vụ về thuế Theo Luật Quản lý thuế 2019, doanh nghiệp vẫn phải: Kê khai thuế định kỳ (kể cả khi không phát sinh doanh thu vẫn phải nộp tờ khai). Nộp các khoản thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp (nếu có). Thực hiện quyết toán thuế khi chấm dứt hoạt động. Nếu không thực hiện, cơ quan thuế có thể: Xử phạt vi phạm hành chính; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra nếu có dấu hiệu trốn thuế. 3.2. Nghĩa vụ đối với người lao động Theo Bộ luật Lao động 2019, nếu doanh nghiệp ngừng hoạt động: Phải thanh toán đầy đủ tiền lương, trợ cấp thôi việc (nếu có); Hoàn tất thủ tục chốt sổ bảo hiểm xã hội; Thanh toán các quyền lợi khác theo hợp đồng lao động. Việc tự ý ngừng hoạt động mà không giải quyết quyền lợi cho người lao động có thể bị xử phạt hành chính và buộc khắc phục hậu quả. 3.3. Nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ Theo Điều 208 Luật Doanh nghiệp 2020, khi giải thể doanh nghiệp phải thanh toán các khoản nợ theo thứ tự ưu tiên. Nếu chưa giải thể thì: Doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ với đối tác; Không được tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ; Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ chưa thanh toán. 3.4. Nghĩa vụ về đăng ký kinh doanh Trường hợp doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, theo Luật Doanh nghiệp 2020, phải thông báo bằng văn bản đến Phòng Đăng ký kinh doanh. Nếu không thông báo mà tự ý ngừng hoạt động có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Nếu doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, cơ quan đăng ký kinh doanh có thể đưa vào diện “không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký” và xử lý theo quy định. 4. Trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong từng loại hình Doanh nghiệp tư nhân: Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình. Công ty TNHH, công ty cổ phần: Chủ sở hữu/cổ đông chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp, trừ trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật như trốn thuế, tẩu tán tài sản. *) Nhận xét: Trong trường hợp doanh nghiệp không còn khả năng tiếp tục hoạt động, chủ doanh nghiệp nên: Thực hiện thủ tục tạm ngừng kinh doanh đúng quy định nếu muốn duy trì pháp nhân. Tiến hành thủ tục giải thể theo đúng trình tự pháp luật nếu chấm dứt hoạt động hoàn toàn. Hoàn tất nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ với người lao động trước khi nộp hồ sơ giải thể. Việc để doanh nghiệp “treo” nhiều năm không giải thể có thể dẫn đến nợ thuế, tiền phạt tăng dần và phát sinh trách nhiệm pháp lý nghiêm trọng. Kết luận: Công ty ngừng hoạt động nhưng chưa giải thể không đồng nghĩa với việc chấm dứt mọi nghĩa vụ. Doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, lao động, thanh toán nợ và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp cần chủ động hoàn tất thủ tục pháp lý để tránh rủi ro về sau. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong hoạt động kinh doanh, việc xác định nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là vấn đề mà nhiều cá nhân, hộ kinh doanh quan tâm. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều phải nộp thuế, mà phụ thuộc vào mức doanh thu theo quy định của pháp luật. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. 1. Ngưỡng doanh thu được miễn thuế TNCN Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định: ”Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cả cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm người đại diện hộ kinh doanh (sau đây gọi là cá nhân kinh doanh) có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.” Như vậy, nếu có doanh thu trong năm từ 500 triệu đồng trở xuống thì không phải nộp thuế TNCN. Tuy nhiên hộ, cá nhân kinh doanh vẫn phải tiến hành kê khai thuế,  thông báo doanh thu thực tế cho cơ quan thuế theo quy định. Lưu ý: Không phải nộp thuế không đồng nghĩa với việc không thực hiện thủ tục thuế. 2. Trường hợp phải nộp thuế TNCN Khi doanh thu trong năm vượt trên 500 triệu đồng, cá nhân kinh doanh bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định tại Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân. Công thức: 👉 Thuế TNCN = Thu nhập tính thuế × Thuế suất Trong đó: - Thu nhập tính thuế = Doanh thu – Chi phí hợp lý; - Chi phí hợp lý là các khoản chi phục vụ hoạt động kinh doanh, có đầy đủ chứng từ hợp lệ. - Mức thuế suất áp dụng theo doanh thu (1) Doanh thu trên 500 triệu đến 3 tỷ đồng: 15% (2) Doanh thu trên 3 tỷ đến 50 tỷ đồng: 17% (3) Doanh thu trên 50 tỷ đồng: 20% Lưu ý: Cá nhân cho thuê bất động sản, trừ hoạt động kinh doanh lưu trú, nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định = (Doanh thu - 500 triệu) x 5%) Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp tại Thông tư số 60/2025/TT-BYT đã quy định thêm tiêu chí để xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ quy định tại Điều 5 Thông tư số 60/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp. Việc xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây: 1. Xác định được mối liên hệ giữa việc tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động với một bệnh cụ thể. Một số bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc lần đầu với yếu tố có hại trong quá trình lao động, người lao động có thể đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. 2. Bệnh xảy ra trong nhóm người lao động tiếp xúc với yếu tố có hại thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với nhóm người lao động không tiếp xúc. 3. Bệnh xảy ra ở người lao động do tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động nhưng chưa có điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam mà đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội thì bổ sung vào danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội Như vậy, so với quy định cũ Thông tư số 60/2025/TT-BYT đã quy định tiêu chí để xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội đáp ứng các tiêu chí trên trong tương lai.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Chào Luật sư, tháng 5/2025 tôi có cho bạn là H vay số tiền 10.000.000 đồng khi vay thì hai bên có làm hợp đồng vay tiền, có chữ ký tên và ghi họ tên của H, không có ai chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có thời hạn trả nợ, không lãi suất. Đến tháng 01/2026, H đã trả lại đầy đủ số tiền này cho tôi. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026, H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và qua quá trình điều tra, xác minh xác định rằng số tiền H dùng để trả cho tôi là tiền do phạm tội mà có. Hiện nay, tôi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự nêu trên. Tôi hoàn toàn không biết và cũng không có căn cứ để biết số tiền H trả cho tôi là tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Vậy, xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết các quy định của pháp luật liên quan đến vụ án. Trả lời: Trong vụ việc trên, hành vi cho anh H vay số tiền 10.000.000 đồng là giao dịch dân sự được thể hiện qua hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hai bên đã thỏa thuận cho vay tài sản, Bên A đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng số lượng với số tiền 10.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nợ, tuy nhiên tháng 1/2026 anh H đã thanh toán khoản vay cho anh bên A số tiền 10.000.000 đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 1 Điều 466 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Như vây, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với giao dịch vay tài sản giữa bên A và anh H. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026 anh H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản, đối với số tiền anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A cũng được xác định là số tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của anh H. Anh A mong muốn được tư vấn 02 vấn đề sau: 1. Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi 1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. 2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Theo quy định, đối với hành vi của anh H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ quan chức năng sẽ điều tra, xác minh về các số tiền mà anh H đã lừa đảo để trả lại tài sản cho chủ ở hữu (bị hại). Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm trên đều phải được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, dù bạn nhận được tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không thể biết nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền, theo nguyên tắc, bạn sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để phục vụ trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để xem xét việc anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A trong trường hợp này có làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, việc anh H thanh toán khoản vay trên là hợp pháp và bên A cũng không biết được nguồn gốc số tiền trên thì không có căn cứ để cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ cho rằng số tiền anh H thanh toán khoản trên có nguồn gốc về hành vi phạm tội của anh H, như vậy số tiền 10.000.000 đồng sẽ được cơ quan chức năng thu hồi. Đối với việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi số tiền anh H đã thực hiện việc thanh toán khoản nợ với số tiền 10.000.000 đồng cho bên A, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên A. Căn cứ khoản 11 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ xác định bên A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bạn có quyền yêu cầu độc lập buộc anh H (bị cáo) hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bạn đã co anh H vay. Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:   “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù bạn là người cho vay hợp pháp và đã nhận lại tiền từ anh H, nhưng do số tiền này được xác định là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thu hồi nhằm trả lại cho người bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, việc nhận tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không có căn cứ để biết về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản không làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với bạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn cần chủ động thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay là có thật và hợp pháp, đồng thời gửi yêu cầu bồi thường thiệt hại đến Tòa án. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bản án sẽ buộc bị cáo có nghĩa vụ thanh toán lại khoản tiền tương ứng cho bạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ chung cư, người mua có quyền yêu cầu bồi thường không? Việc mua căn hộ chung cư hình thành trong tương lai thường gắn liền với kế hoạch tài chính, chỗ ở và sinh hoạt của người mua. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ so với thời hạn đã cam kết trong hợp đồng, khiến người mua phải tiếp tục thuê nhà, phát sinh chi phí sinh hoạt hoặc gặp khó khăn trong việc ổn định cuộc sống. Vậy khi chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ chung cư, người mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại hay không, và cần căn cứ vào những quy định pháp luật nào để bảo vệ quyền lợi của mình? 1. Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ có phải là hành vi vi phạm hợp đồng không? - Bàn giao căn hộ đúng thời hạn là nghĩa vụ của chủ đầu tư. + Căn cứ theo điểm đ khoản 2 Điều 23 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định nghĩa vụ của bên bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng hình thành trong tương lai được “thực hiện theo quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, h, i, k, l, m, n, o, p, q khoản 1 và khoản 2 Điều 19 của Luật này;”.  + Mà căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 19 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định: “Giao nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng cho bên mua, thuê, thuê mua theo đúng thời hạn, chất lượng và điều kiện khác đã thỏa thuận trong hợp đồng;” => Các quy định trên đã cho thấy việc bàn giao căn hộ đúng thời hạn là nghĩa vụ của chủ đầu tư, bên bán công trình xây dựng hình thành trong tương lai. - Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ là hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hay vi phạm hợp đồng và phải chịu trách nhiệm. + Căn cứ theo khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ như sau: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.” =>Quy định này là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm của chủ đầu tư khi không bàn giao căn hộ đúng thời hạn đã cam kết. Nếu hợp đồng xác định rõ ngày bàn giao mà chủ đầu tư không thực hiện đúng, người mua có quyền yêu cầu chủ đầu tư giải thích nguyên nhân, thực hiện nghĩa vụ bàn giao và chịu trách nhiệm theo thỏa thuận trong hợp đồng cũng như quy định pháp luật. Kết luận: Như vậy về nguyên tắc, thời hạn bàn giao căn hộ là một trong những nội dung quan trọng mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư. Khi đã đến thời hạn bàn giao nhưng chủ đầu tư không thực hiện nghĩa vụ mà không có căn cứ miễn trách nhiệm theo pháp luật hoặc hợp đồng, hành vi này có thể bị xác định là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm còn phụ thuộc vào nguyên nhân chậm bàn giao, điều khoản hợp đồng, căn cứ miễn trách nhiệm (nếu có) và các quy định pháp luật áp dụng đối với giao dịch cụ thể. 2. Người mua có quyền yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại không? - Người mua có quyền yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng. + Trước hết, khoản 2 Điều 46 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định các nội dung chính của hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, trong đó có:  “e) Thời hạn giao, nhận bất động sản và hồ sơ kèm theo; …. i) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; k) Phạt vi phạm hợp đồng;” => Đây là cơ sở để các bên xác định trách nhiệm khi chủ đầu tư không bàn giao căn hộ đúng thời hạn và cơ chế phạt vi phạm hợp đồng nếu đáp ứng điều kiện, thoả thuận hợp đồng và pháp luật. - Người mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại + Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm nghĩa vụ như sau: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.” + Đồng thời, khoản 2 Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:  “Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại”. => Từ những quy định trên, nếu việc chậm bàn giao căn hộ khiến người mua phải tiếp tục thuê nhà, phát sinh chi phí lưu trú hoặc chịu những tổn thất tài chính khác có thể chứng minh được, người mua có thể yêu cầu chủ đầu tư bồi thường theo căn cứ pháp luật và hợp đồng. Các tài liệu như hợp đồng thuê nhà, chứng từ thanh toán, thông báo bàn giao và văn bản trao đổi với chủ đầu tư sẽ giúp chứng minh yêu cầu. Lưu ý: Phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại là hai khoản khác nhau. Theo Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc áp dụng phạt vi phạm căn cứ vào thỏa thuận của các bên, trừ trường hợp luật có quy định khác; việc đồng thời yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cũng cần xem xét nội dung thỏa thuận và quy định pháp luật tương ứng. 3. Người mua cần làm gì khi chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ? - Khi phát sinh tình trạng chậm bàn giao, người mua nên chủ động thực hiện các bước cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, thay vì chỉ trao đổi bằng lời nói hoặc chờ chủ đầu tư thông báo thời điểm bàn giao mới. 1. Người mua cần rà soát hợp đồng mua bán căn hộ, đặc biệt là thời hạn bàn giao, thời gian gia hạn (nếu có), điều khoản phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các trường hợp miễn trách nhiệm. Đồng thời, cần lưu giữ chứng từ thanh toán, thông báo tiến độ dự án, văn bản giải thích việc chậm bàn giao và các tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế. 2. Người mua nên gửi văn bản yêu cầu chủ đầu tư giải trình nguyên nhân chậm bàn giao, xác định thời điểm bàn giao cụ thể và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng. Trong văn bản, người mua có thể yêu cầu thanh toán tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc đề xuất phương án xử lý hợp đồng phù hợp với thỏa thuận và pháp luật. Trường hợp chủ đầu tư không giải quyết hoặc các bên không thống nhất được phương án xử lý, người mua có thể cân nhắc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, thanh toán khoản tiền còn nợ hoặc bồi thường thiệt hại nếu có đủ căn cứ. Việc đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng cần được xem xét thận trọng theo điều kiện luật định và thỏa thuận giữa các bên, tránh tự ý ngừng thực hiện nghĩa vụ khi chưa có căn cứ phù hợp. Kết luận Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ chung cư không chỉ ảnh hưởng đến kế hoạch sinh hoạt, chỗ ở mà còn có thể gây thiệt hại về tài chính cho người mua. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023, người mua có cơ sở yêu cầu chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ bàn giao, phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại khi đáp ứng các điều kiện tương ứng. Tuy nhiên, quyền yêu cầu và mức tiền được chấp nhận còn phụ thuộc vào nội dung hợp đồng, nguyên nhân chậm bàn giao, căn cứ miễn trách nhiệm và chứng cứ về thiệt hại. Vì vậy, người mua cần kiểm tra kỹ hợp đồng, lưu giữ hồ sơ và thực hiện yêu cầu bằng văn bản để bảo vệ quyền lợi của mình theo đúng quy định pháp luật hiện hành. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.   
Ký giấy cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”: Tòa án có công nhận không? Nhiều cặp đôi trước khi kết hôn lập giấy cam kết với nội dung: nếu một trong hai người ngoại tình, người có lỗi sẽ phải ra đi tay trắng, không được chia tài sản khi ly hôn. Không ít người cho rằng chỉ cần hai bên tự nguyện ký tên thì cam kết này đương nhiên có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, không phải cứ ký cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng” thì khi ly hôn, người ngoại tình sẽ mất toàn bộ tài sản. Việc cam kết có được công nhận hay không còn phụ thuộc vào nội dung, hình thức văn bản, thời điểm lập và các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng. 1. Cam kết trước hôn nhân có giá trị pháp lý không? - Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:  "Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn." => Như vậy, nếu hai bên lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, pháp luật Việt Nam công nhận việc vợ chồng thỏa thuận về chế độ tài sản trước hôn nhân, nhưng phải tuân thủ đúng hình thức và nội dung pháp luật quy định. Do đó, việc hai bên tự nguyện ký giấy không đồng nghĩa với việc mọi nội dung ghi trong giấy đều đương nhiên được Tòa án công nhận. Ví dụ: Trước khi đăng ký kết hôn, A và B chỉ viết một tờ giấy có nội dung “nếu ai ngoại tình thì người đó không được nhận bất kỳ tài sản nào khi ly hôn”, rồi cả hai ký tên. Nếu văn bản này được dùng như một thỏa thuận xác lập chế độ tài sản trước hôn nhân nhưng không được công chứng hoặc chứng thực theo Điều 47, thì không đáp ứng yêu cầu về hình thức của thỏa thuận này và văn bản này không có giá trị pháp lý. 2. Nếu có cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”, Tòa án có bắt buộc áp dụng không? - Nguyên tắc giải quyết tài sản  Khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau: "Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết." => Pháp luật quy định nếu vợ chồng áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được thực hiện theo thỏa thuận đó. Tuy nhiên, nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng các quy định pháp luật tương ứng để giải quyết.  - Các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vô hiệu. Khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: "a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan; b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này; c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình." => Vì vậy, nếu điều khoản “ra đi tay trắng” được ghi trong một văn bản không đáp ứng yêu cầu về hình thức, hoặc nội dung thuộc trường hợp bị vô hiệu theo Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì không thể chỉ dựa vào chữ ký của hai bên để yêu cầu Tòa án tước toàn bộ quyền tài sản của người ngoại tình. Tuy nhiên, cũng không nên kết luận rằng mọi thỏa thuận phân chia tài sản bất lợi cho người ngoại tình đều mặc nhiên vô hiệu. Tòa án cần xem xét cụ thể nội dung, hình thức và hiệu lực của thỏa thuận, cũng như các quy định pháp luật có liên quan. 3. Không có thỏa thuận tài sản hợp lệ thì người ngoại tình có được chia tài sản khi ly hôn không? - Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: "a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng." => Quy định này có nghĩa là hành vi ngoại tình có thể được xem xét như một yếu tố khi giải quyết việc chia tài sản, nếu có căn cứ xác định đó là lỗi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, pháp luật không quy định cứ ngoại tình thì người đó đương nhiên mất toàn bộ phần tài sản chung của mình. Ví dụ: A và B kết hôn, tạo lập được căn nhà là tài sản chung. Khi ly hôn, B có chứng cứ cho thấy A ngoại tình. Tòa án có thể xem xét lỗi của A cùng các yếu tố khác theo khoản 2 Điều 59 khi quyết định việc chia tài sản. Nhưng chỉ riêng việc A ngoại tình không đồng nghĩa với việc B đương nhiên được nhận toàn bộ căn nhà. Kết luận Cam kết trước hôn nhân với nội dung “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng” không tự động có hiệu lực chỉ vì hai bên đã ký tên. Muốn thỏa thuận về chế độ tài sản trước hôn nhân được công nhận, các bên phải tuân thủ yêu cầu về hình thức tại Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời bảo đảm nội dung không thuộc trường hợp bị vô hiệu theo Điều 50. Nếu không có thỏa thuận tài sản hợp lệ, việc chia tài sản khi ly hôn sẽ được giải quyết theo Điều 59 của Luật này. Hành vi ngoại tình có thể được xem xét khi chia tài sản, nhưng không đồng nghĩa với việc người có lỗi đương nhiên mất tất cả tài sản. Vì vậy, nếu muốn lập thỏa thuận tài sản trước hôn nhân, hai bên nên xác định rõ nguyên tắc phân chia khi ly hôn, đồng thời thực hiện đúng thủ tục pháp luật quy định thay vì chỉ lập một giấy cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng
 
hotline 0936 645 695