DỊCH VỤ LUẬT SƯ DOANH NGHIỆP

Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh là cơ sở pháp lý quan trọng để hộ kinh doanh được hoạt động hợp pháp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, cơ quan có thẩm quyền sẽ thu hồi giấy chứng nhận này. Vậy những trường hợp nào dẫn đến việc thu hồi? Dưới đây là quy định chi tiết: Các trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh được quy định tại Nghị định 168/2025/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp. 1. Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký thành lập hộ kinh doanh là giả mạo. 2. Hộ kinh doanh do những người không được quyền thành lập hộ kinh doanh thành lập. 3. Hộ kinh doanh không gửi báo cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 22 Nghị định này đến Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn gửi báo cáo. 4. Ngừng hoạt động kinh doanh tại địa chỉ đăng ký quá 06 tháng mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã, Cơ quan thuế quản lý trực tiếp. 5. Theo yêu cầu của Tòa án. 6. Theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của luật. Xác định nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh là giả mạo (Điều 106) 1. Trường hợp có căn cứ xác định nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh là giả mạo, tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh, thành viên hộ gia đình có quyền đề nghị Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã thu hồi theo quy định. Tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh, thành viên hộ gia đình có trách nhiệm cung cấp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã một trong các giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Văn bản xác định nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh là giả mạo bao gồm: + Bản sao văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bản trả lời văn bản do cơ quan đó cấp bị giả mạo; + Bản sao văn bản trả lời của cơ quan công an về việc nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh là giả mạo. 3. Trường hợp cần xác định nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh là giả mạo, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã gửi văn bản kèm theo hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh đến cơ quan quy định tại khoản 2 Điều này theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp. Các cơ quan có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về kết quả xác định theo đề nghị của Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Từ ngày 01/07/2025, quy định mới về địa điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh chính thức có hiệu lực theo Nghị định 168/2025/NĐ-CP. Đây là nội dung quan trọng, liên quan trực tiếp đến thủ tục chuyển đổi loại hình kinh doanh, giúp hộ kinh doanh có cơ hội phát triển thành doanh nghiệp với tư cách pháp nhân đầy đủ. Trong bài viết này, Công ty Luật Phương Bình sẽ cùng bạn đọc tìm hiểu rõ hơn về quy định pháp luật mới để việc chuyển đổi được thực hiện thuận lợi, đúng trình tự. 1. Địa điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh theo quy định mới từ ngày 01/7 là gì? Căn cứ khoản 1 Điều 27 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định về Đăng ký thành lập doanh nghiệp trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh như sau: 1. Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh thực hiện tại Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở chính. 2. Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh bao gồm bản sao giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh và các giấy tờ quy định tại Điều 24 Nghị định này tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp, trong đó không bao gồm bản sao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Trường hợp doanh nghiệp được chuyển đổi từ hộ kinh doanh có nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp theo quy định của Luật Đầu tư thì hồ sơ phải có bản sao văn bản của Cơ quan đăng ký đầu tư chấp thuận về việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. ... Theo quy định trên, việc đăng ký thành lập doanh nghiệp trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh thực hiện tại Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở chính. Bên cạnh đó, căn cứ khoản 1 Điều 20 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh gồm những địa điểm sau đây: (1) Cơ quan đăng ký kinh doanh thuộc Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh có địa chỉ tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi địa phương quản lý trừ trường hợp quy định tại (2). Cơ quan đăng ký kinh doanh có thể tổ chức các điểm để tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Cơ quan đăng ký kinh doanh tại các địa điểm khác nhau trên địa bàn cấp tỉnh; (2) Ban quản lý khu công nghệ cao cấp đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh có địa chỉ đặt trong khu công nghệ cao. 2. Đăng ký thành lập doanh nghiệp trực tuyến được quy định như thế nào? Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định từ ngày 01/7/2025, đăng ký thành lập doanh nghiệp trực tuyến được quy định như sau: - Đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử là việc người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp sử dụng tài khoản định danh điện tử để thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. - Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tìm hiểu thông tin, thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Tôi có một mảnh đất rộng 400m2 với giá trị 10 tỷ đồng. Hiện tại, tôi muốn dùng sổ đỏ của mảnh đất này để góp vốn thành lập công ty cổ phần. Vậy, xin hỏi tôi muốn dùng sổ đỏ để góp vốn thành lập công ty cổ phần có được không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Điều 34. Tài sản góp vốn 1. Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. 2. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều này mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật.” Theo quy định trên, quyền sử dụng đất là một trong những tài sản góp vốn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chỉ có cá nhân, tố chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật. Điều kiện để góp vốn bằng quyền sử dụng đất, Luật đất đai năm 2024 được quy định như sau:  Khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất: 1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này; b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật; c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự; d) Trong thời hạn sử dụng đất; đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai 2024 ông được sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để góp vốn thành lập công ty nhưng phải đảm bảo về chủ sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản là mảnh đất trên. Ngoài ra còn đảm bảo về các quy định điều kiện góp vốn bằng quyền sử dụng đất.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Khi nào công ty TNHH một thành viên nên chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên hay công ty cổ phần? Việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tổ chức, hoạt động quản lý và định hướng phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, công ty TNHH một thành viên có thể phát sinh nhu cầu huy động thêm vốn hoặc thay đổi cơ cấu thành viên, từ đó đặt ra vấn đề chuyển đổi sang công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần. Vậy doanh nghiệp nên lựa chọn mô hình nào? 1. Chuyển thành công ty TNHH 2 thành viên trở lên Huy động thêm vốn góp từ người khácTheo khoản 2 Điều 87 Luật Doanh nghiệp, công ty TNHH một thành viên có thể tăng vốn điều lệ bằng cách chủ sở hữu góp thêm vốn. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp muốn huy động thêm vốn góp từ người khác để mở rộng hoạt động thì không thể tiếp tục duy trì mô hình công ty TNHH một thành viên.Cụ thể, khi tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của cá nhân, tổ chức khác, công ty phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần.Như vậy, nếu chủ sở hữu muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp bằng cách tiếp nhận thêm vốn từ người khác, doanh nghiệp cần lựa chọn một trong hai mô hình trên và thực hiện thủ tục chuyển đổi tương ứng.Thay đổi cơ cấu sở hữu thông qua chuyển nhượng, tặng cho hoặc kết nạp thành viênTheo khoản 1 điều 78 của Luật Doanh nghiệp trường hợp chủ sở hữu công ty chuyển nhượng, tặng cho một phần vốn điều lệ cho một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân khác hoặc công ty kết nạp thêm thành viên mới thì công ty phải tổ chức quản lý theo loại hình doanh nghiệp tương ứng thì doanh nghiệp không còn đáp ứng điều kiện của mô hình công ty TNHH một thành viên.Khi đó, công ty phải chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp tương ứng với số lượng và cơ cấu thành viên mới. Cụ thể, nếu sau khi chuyển nhượng, tặng cho hoặc kết nạp thành viên mới, công ty có từ 02 thành viên trở lên thì có thể chuyển đổi sang công ty TNHH hai thành viên trở lên.Thay đổi chủ sở hữu do thừa kế, giải thể hoặc phá sản của chủ sở hữu ban đầuTheo khoản 2, 3 Điều 78 Luật Doanh nghiệp, trong trường hợp chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên là cá nhân chết, phần vốn góp sẽ được xử lý theo quy định về thừa kế. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu hoặc thành viên của công ty. Nếu có nhiều người cùng nhận thừa kế và trở thành thành viên, công ty phải chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp phù hợp và thực hiện đăng ký thay đổi theo quy định.Trường hợp chủ sở hữu là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản, người nhận chuyển nhượng phần vốn góp của tổ chức đó sẽ trở thành chủ sở hữu mới hoặc thành viên công ty. Nếu việc chuyển nhượng làm phát sinh từ hai thành viên trở lên, công ty phải chuyển đổi sang loại hình phù hợp, đồng thời thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi theo quy định pháp luật. 2. Chuyển thành công ty cổ phần Theo khoản 2 điều 202 của Luật Doanh nghiệp 2. Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần theo phương thức sau đây:a) Chuyển đổi thành công ty cổ phần mà không huy động thêm tổ chức, cá nhân khác cùng góp vốn, không bán phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khácKhông huy động thêm vốn b) Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân khác góp vốn;c) Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho một hoặc một số tổ chức, cá nhân khácNhìn chung, công ty TNHH một thành viên có thể chuyển đổi sang công ty cổ phần theo ba phương thức: chuyển đổi mà không huy động thêm vốn hoặc chuyển nhượng phần vốn góp; chuyển đổi bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân cùng góp vốn, làm tăng vốn và phát sinh thêm cổ đông; hoặc chuyển đổi bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khác, qua đó thay đổi cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp. Tùy vào mục đích huy động vốn, mở rộng quy mô hay thay đổi cơ cấu sở hữu, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức chuyển đổi phù hợp. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Thành lập công ty nhưng không hoạt động: Nghĩa vụ pháp lý vẫn còn nguyên. Nhiều chủ doanh nghiệp lầm tưởng rằng sau khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nếu không triển khai kinh doanh thì không cần làm gì thêm. Đây là quan niệm sai lầm có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng. 1.    Thực trạng pháp nhân "nằm im" Thành lập công ty nhưng không hoạt động được hiểu là trường hợp doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục đăng ký, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và có tư cách pháp nhân hợp pháp, nhưng trên thực tế không phát sinh bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào. Doanh nghiệp được "lập ra trên giấy" nhưng không triển khai hoạt động, không tạo ra doanh thu, không ký kết hợp đồng.Thực tế tại nhiều đơn vị tư vấn doanh nghiệp cho thấy, lượng khách muốn làm thủ tục giải thể công ty tăng khoảng 30% so với cùng kỳ, trong đó chiếm tới một nửa là các công ty được thành lập nhưng không hoạt động, chỉ duy trì pháp nhân và thực hiện các nghĩa vụ báo cáo. Đây cũng là nhóm pháp nhân nằm trong diện rà soát khi ngành thuế triển khai chiến dịch làm sạch dữ liệu người nộp thuế.  2.    Quy định pháp luật Pháp luật Việt Nam hiện hành không cấm việc thành lập doanh nghiệp rồi không hoạt động. Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) không có quy định xử phạt riêng đối với hành vi này.Tuy nhiên, khoản 1 Điều 212 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định doanh nghiệp có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu: ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm liên tục mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế; hoặc không thực hiện nghĩa vụ báo cáo theo quy định. Đồng thời Điều 22 Nghị định 122/2021/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư quy định mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo tạm ngừng kinh doanh khi doanh nghiệp thực tế không hoạt động.Hơn nữa, theo quy định tại Điều 37 Luật Quản lý thuế 2019, doanh nghiệp phải nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng định kỳ, kể cả khi không phát sinh giao dịch. Cục Thuế đã nhấn mạnh: "Không có doanh thu không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được phép bỏ qua nghĩa vụ khai thuế. Ngược lại, khai thuế cũng không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có số thuế phải nộp".Người nộp thuế cần phân biệt rõ giữa "không phát sinh số thuế phải nộp" và "không phải nộp hồ sơ khai thuế". Các trường hợp được miễn nộp hồ sơ khai thuế được quy định cụ thể, bao gồm: doanh nghiệp đang tạm ngừng hoạt động và đáp ứng đủ điều kiện, hoặc đã nộp hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Về nghĩa vụ tài chính tối thiểu. Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân quy định chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày 1/1/2026. Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp đang xử lý nghĩa vụ thuế để hoàn tất thủ tục chấm dứt hoạt động. 3.    Giải pháp pháp lý Để tránh rủi ro pháp lý, doanh nghiệp không hoạt động có hai lựa chọn chính. Thứ nhất, làm thủ tục tạm ngừng hoạt động. Đây là cách xử lý an toàn và phổ biến nhất. Khi tạm ngừng đúng quy định, doanh nghiệp không phải kê khai thuế định kỳ và không bị phạt do không hoạt động, nhưng vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân. Thứ hai, giải thể doanh nghiệp. Phương án này phù hợp khi doanh nghiệp không có nhu cầu tiếp tục duy trì pháp nhân. Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, doanh nghiệp chỉ được giải thể sau khi thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản. Thực tế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi giải thể do phải xử lý các khoản phạt chậm nộp tờ khai, nợ lệ phí môn bài và các nghĩa vụ thuế tồn đọng. 4.    Khuyến nghị  TS Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội, cho rằng thủ tục đóng mã số thuế, tạm ngừng kinh doanh và giải thể cần được đơn giản hóa hơn, đặc biệt với nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Nhiều hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ chưa phân biệt rõ giữa "nghỉ bán hàng", "tạm ngừng kinh doanh", "chấm dứt hoạt động" và "đóng mã số thuế".Về phía cơ quan quản lý, chuyên gia đề xuất nghiên cứu không truy thu lệ phí môn bài với thời gian thực tế doanh nghiệp không hoạt động, đồng thời cân nhắc miễn hoặc giảm mức phạt chậm nộp với các hồ sơ khai thuế không phát sinh doanh thu, nghĩa vụ thuế. 5.    Kết luận Thành lập công ty nhưng không hoạt động không phải là hành vi bị pháp luật cấm, nhưng doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý tối thiểu. Việc không tuân thủ có thể dẫn đến xử phạt hành chính, khóa mã số thuế, thậm chí thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp cần chủ động lựa chọn phương án phù hợp – tạm ngừng kinh doanh hoặc giải thể – để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và tránh những rủi ro không đáng có. Các bạn có nhu cầu tư vấn về thành lập, giải thể hay phá sản doanh nghiệp hãy gọi ngay cho chúng tôi theo số điện thoại 0936.645.695 để được tư vấn trực tiếp. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong hoạt động kinh doanh, bên cạnh việc tặng sản phẩm, phiếu mua hàng hoặc áp dụng chương trình giảm giá, nhiều doanh nghiệp lựa chọn hình thức tặng tiền, hoàn tiền hoặc trao thưởng bằng tiền mặt để thu hút khách hàng. Tuy nhiên, không phải trong mọi chương trình khuyến mại doanh nghiệp đều được phép sử dụng tiền làm quà tặng hoặc giải thưởng. Vậy theo quy định hiện hành, tiền có được sử dụng như hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại hay không và doanh nghiệp cần lưu ý những trường hợp nào? 1. Hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại được hiểu như thế nào? - Theo Khoản 1 Điều 94 Luật Thương mại 2005, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là: Hàng hóa, dịch vụ được thương nhân sử dụng để tặng, thưởng hoặc cung ứng không thu tiền cho khách hàng. Hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại có thể là hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc một loại hàng hóa, dịch vụ khác. Hàng hóa, dịch vụ được sử dụng để khuyến mại phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp. Ví dụ, khi khách hàng mua một sản phẩm và được tặng thêm một sản phẩm khác, sản phẩm được tặng chính là hàng hóa dùng để khuyến mại. Tương tự, nếu doanh nghiệp tổ chức chương trình có giải thưởng cho khách hàng thì phần thưởng được trao cũng được xác định là giá trị dùng để khuyến mại. --> Vấn đề đặt ra là tiền không phải là một loại hàng hóa thông thường mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, pháp luật về khuyến mại có quy định riêng cho phép sử dụng tiền trong một số trường hợp. 2. Tiền có được sử dụng như hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại không? - Căn cứ tại Điều 5 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 239/2026/NĐ-CP. Theo đó: “Tiền có thể được sử dụng như hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại trừ các trường hợp khuyến mại theo quy định tại các Điều 8, Điều 10, Điều 11 Nghị định này.” --> Như vậy, doanh nghiệp có thể sử dụng tiền làm quà tặng hoặc giải thưởng trong chương trình khuyến mại nếu chương trình thuộc hình thức pháp luật cho phép.  - Những trường hợp có thể sử dụng tiền để khuyến mại:  Trường hợp 1: Tặng tiền cho khách hàng.  - Điều 9 Nghị định 81/2018/NĐ-CP cho phép thương nhân tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền có hoặc không kèm theo việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Ví dụ: Công ty A triển khai chương trình “Mua sản phẩm X, tặng 200.000 đồng”. Trong thời gian khuyến mại, khách hàng mua sản phẩm X với giá niêm yết 2.000.000 đồng và được Công ty A tặng thêm 200.000 đồng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Trường hợp này, 200.000 đồng được sử dụng như hàng hóa dùng để khuyến mại theo hình thức tặng hàng hóa không thu tiền.  Trường hợp 2: Thông qua các hình thức tổ chức thi và trao thưởng, chương trình khuyến mại mang tính chất may rủi - Theo Điều 12, Điều 13 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, tiền cũng có thể được sử dụng làm giải thưởng của chương trình thi hoặc chương trình khuyến mại mang tính may rủi.  Ví dụ:  doanh nghiệp có thể tổ chức cuộc thi và công bố giải thưởng bằng tiền, chẳng hạn “Giải nhất 20 triệu đồng” hoặc “khách hàng may mắn nhận giải thưởng 10 triệu đồng”, miễn là chương trình được tổ chức đúng hình thức và thủ tục tương ứng. 3. Những trường hợp không được sử dụng tiền để khuyến mại Trường hợp 1: Đưa hàng mẫu hoặc cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền - Đối với hình thức này, hàng mẫu hoặc dịch vụ mẫu phải chính là hàng hóa, dịch vụ hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽ đưa ra thị trường. Khách hàng nhận mẫu để trực tiếp trải nghiệm sản phẩm hoặc dịch vụ và không phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Do đó, doanh nghiệp không thể thay hàng mẫu hoặc dịch vụ mẫu bằng tiền mặt. Ví dụ, một doanh nghiệp kinh doanh mỹ phẩm tổ chức chương trình phát miễn phí sản phẩm dùng thử cho khách hàng. Doanh nghiệp có thể phát mẫu mỹ phẩm nhưng không thể coi việc đưa cho mỗi khách hàng 50.000 đồng là hình thức “đưa hàng mẫu”. Trường hợp 2: Khuyến mại bằng hình thức giảm giá - Quyền lợi mà khách hàng nhận được thể hiện trực tiếp thông qua việc giảm giá của hàng hóa, dịch vụ, chứ không phải nhận một khoản tiền với tư cách là hàng hóa dùng để khuyến mại. Ví dụ, sản phẩm có giá bán thông thường là 1.000.000 đồng, trong thời gian khuyến mại doanh nghiệp bán với giá 800.000 đồng thì đây là chương trình giảm giá. Khoản chênh lệch 200.000 đồng không phải là “tiền dùng để khuyến mại” mà là phần giá được giảm theo chương trình. Trường hợp 3:  Bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ có kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ - Trong trường hợp này, đối tượng khách hàng được nhận là phiếu mua hàng hoặc phiếu sử dụng dịch vụ, vì vậy doanh nghiệp không thể thay phiếu bằng một khoản tiền và vẫn coi chương trình đó là khuyến mại theo Điều 11. Ví dụ, chương trình “mua sản phẩm A được tặng voucher mua hàng trị giá 200.000 đồng” khác về hình thức pháp lý với chương trình “mua sản phẩm A được tặng 200.000 đồng tiền mặt”. 4. Doanh nghiệp tặng tiền khuyến mại có được tùy ý xác định số tiền không? - Hiện nay, hạn mức tối đa về giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại được quy định tại Điều 3 Thông tư 39/2025/TT-BCT. Theo nguyên tắc chung: Giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá bán ngay trước thời gian khuyến mại; Tổng giá trị dùng để khuyến mại trong một chương trình cũng không được vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, trừ những hình thức và trường hợp được pháp luật quy định ngoại lệ. --> Do đó, nếu doanh nghiệp áp dụng chương trình “mua hàng được tặng tiền mặt”, ngoài việc xác định hình thức khuyến mại phù hợp còn phải kiểm tra xem chương trình có thuộc trường hợp chịu hạn mức về giá trị khuyến mại hay không. 5. Có phải mọi chương trình khuyến mại bằng tiền đều phải thông báo với Sở Công Thương? Không. - Theo Nghị định 239/2026/NĐ-CP, việc thông báo sẽ tùy thuộc vào hình thức khuyến mại: Hình thức tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền theo Điều 9 không thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại. Chương trình có phiếu dự thi theo Điều 12 được miễn nếu tổng giá trị giải thưởng dưới 100 triệu đồng Chương trình khuyến mại mang tính may rủi theo Điều 13 phải thực hiện thủ tục đăng ký và được xác nhận trước khi triển khai.   ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695