DỊCH VỤ LUẬT SƯ HÌNH SỰ

Dao là vật dụng quen thuộc trong đời sống và được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, không phải mọi loại dao đều được  định là vũ khí quân dụng. Đặc biệt, pháp luật hiện hành có quy định riêng đối với dao có tính sát thương cao khi loại dao này được sử dụng nhằm xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Vậy dao được coi là vũ khí quân dụng khi nào và sử dụng dao trong trường hợp nào có thể bị xử lý hình sự? Dưới đây là những phân tích các quy định pháp luật về vấn đề này. Nguồn: Ảnh Phụ lục 5 Thông tư số 75/2024/TT-BCA 1. Vũ khí quân dụng là gì? Trường hợp nào dao được xác định là vũ khí quân dụng? - Theo khoản 1 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024:“Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những thiết bị, phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, súng săn.” - Dao được xác định là vũ khí quân dụng khi đáp ứng các điều kiện như sau: + Theo Khoản 6 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.” => Phải là dao có tính sát thương cao + Theo Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Vũ khí quân dụng bao gồm: Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5 và dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật;....”=> Sử dụng dao có tính sát thương cao với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật - Có thể hiểu đơn giản:+ Dao có tính sát thương cao + sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật =>  Là vũ khí quân dụng. 2. Dao có tính sát thương cao là những loại dao nào? - Theo Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư 75/2024/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an đã quy định Danh mục dao có tính sát thương cao như sau: + Dao sắc, nhọn: Lưỡi sắc và nhọn, hình dạng thẳng hoặc cong, có chiều dài từ 12cm trở lên, chiều rộng từ 2cm trở lên.+ Dao sắc: Lưỡi sắc không có đầu nhọn, hình dạng thẳng hoặc cong, chiều dài từ 20cm trở lên, chiều rộng từ 05cm trở lên.+ Dao gấp, dao bấm: Lưỡi có một hoặc nhiều cạnh sắc, nhọn, gấp hoặc bấm lại được, chiều dài từ 07cm trở lên.+ Dao tự chế hoặc hoán cải: Tay cầm dài từ 30cm trở lên; lưỡi có chiều dài từ 05cm trở lên, sắc nhọn hoặc sắc hoặc nhọn. 3. Hậu quả pháp lý của việc sử dụng dao để xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác? Tùy vào các trường hợp cụ thể có thể bị xử lý về hình sự phụ thuộc vào hành vi cụ thể, hậu quả xảy ra, mục đích của người sử dụng dao và các tình tiết khác của vụ việc. Tình huống 1: Dùng dao để xâm phạm đến sức khỏe của người khác - Nếu sử dụng dao để cố ý gây thương tích cho người khác, hành vi thỏa mãn đủ các yếu tố cấu thành tội phạm VÀ dao được xác định là vũ khí quân dụng thì => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời hoặc tùy nghi theo 2 tội danh khác nhau:  + Truy cứu về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015  + Truy cứu về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015. Tình huống 2: Dùng dao để xâm phạm đến tính mạng của người khác - Nếu người sử dụng dao thực hiện hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của người khác và hành vi thỏa mãn đủ các yếu tố cấu thành tội phạm VÀ dao được xác định là vũ khí quân dụng thì => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời hoặc tùy nghi theo 2 tội danh khác nhau: + Truy cứu về Tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015. + Truy cứu  về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Tóm tắt vụ việc Nguyễn Thị Bình Trường hợp của bà Bình xuất phát từ việc chỉ đạo thu tiền dạy thêm vượt trần so với Quyết định 22/2013 của UBND TP.Hà Nội. Quy định hiện hành áp dụng mức thu từ 6.000 đến 26.000 đồng/học sinh/tiết tùy theo sĩ số lớp (lớp càng đông, mức thu càng giảm). Tuy nhiên, cựu hiệu trưởng đã cào bằng mức thu 15.000 đồng/tiết/học sinh cho toàn bộ 24 lớp.Tổng số tiền thu về đạt hơn 2,1 tỷ đồng, trong đó phần chênh lệch cao hơn quy định là hơn 1 tỷ đồng, gây thiệt hại trực tiếp cho phụ huynh. Số tiền chênh lệch này được phân bổ 70% cho giáo viên trực tiếp giảng dạy và 30% phục vụ công tác quản lý, cơ sở vật chất.Tại phiên tòa sơ thẩm tháng 3, bà Bình bác bỏ cáo buộc sai phạm và đưa ra lập luận đã thỏa thuận: Việc thu chi nhận được sự đồng thuận từ phía phụ huynh. Căn cứ Thông tư 17/2012 của Bộ GD-ĐT, UBND cấp tỉnh chỉ được giao quyền quy định việc "thu, quản lý, sử dụng" chứ không có thẩm quyền áp mức trần tiền thu. do đó, bà cho rằng việc quy kết vi phạm là không đủ căn cứ. 2. Khi hai văn bản trái nhau, thì văn bản nào được ưu tiên áp dụng Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định việc áp dụng văn bản QPPL như sau:“1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.”Từ những quy định vừa trích dẫn, có thể rút ra hai nguyên tắc cốt lõi trong kỹ thuật áp dụng pháp luật. Thứ nhất, mọi hành vi phải được đánh giá dựa trên các văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm hành vi đó xảy ra. Thứ hai, và quan trọng nhất, là nguyên tắc "lựa chọn văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn". Khi một vấn đề được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau, nếu có sự xung đột hoặc mâu thuẫn, cơ quan thực thi pháp luật không được phép tùy tiện lựa chọn văn bản, mà bắt buộc phải gạt bỏ văn bản cấp dưới để áp dụng văn bản của cơ quan cấp trên. Theo Điều 4 của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 đã xác định thứ tự các bậc văn bản.  Một văn bản do địa phương ban hành mang tính chất hướng dẫn thi hành thì tuyệt đối phải tuân thủ giới hạn ủy quyền và không được phép thêm các quy định làm sai lệch tinh thần của văn bản gốc do cơ quan Trung ương (cấp Bộ) ban hành.Thực tế vụ án cho thấy sự xung đột giữa Thông tư 17/2012/TT-BGDĐT và Quyết định 22/2013/QĐ-UBND. Là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, Thông tư 17 chỉ ủy quyền cho địa phương quy định việc "thu, quản lý, sử dụng" mà không cho phép áp mức trần thu phí. Việc Quyết định 22 tự ấn định trần 6.000 – 26.000 đồng/tiết là vượt quá thẩm quyền ủy quyền và mâu thuẫn với văn bản cấp trên.Theo khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, việc ưu tiên áp dụng Thông tư 17 (vốn không khống chế mức trần 15.000 đồng/tiết) hay Quyết định 22 là vấn đề pháp lý mấu chốt. Do đó, tính hợp pháp trong căn cứ buộc tội bà Bình cần được Hội đồng xét xử xem xét và kết luận chính thức tại phiên tòa. 3. Văn bản bị vô hiệu: Hậu quả pháp lý đối với các quan hệ đã phát sinh Luật chưa quy định chi tiết cơ chế giải quyết hoặc khôi phục hậu quả pháp lý đối với từng quan hệ cụ thể đã phát sinh trước khi văn bản bị bãi bỏ hoặc xử lý. Luật chỉ quy định nguyên tắc chung là việc xử lý văn bản trái pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, việc giải quyết các quyền lợi, tranh chấp hoặc thiệt hại phát sinh từ việc áp dụng văn bản mâu thuẫn này sẽ phải dựa vào quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan (như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hoặc pháp luật tố tụng)Vụ án thu tiền học thêm tại Trường THCS Ba Đình là minh chứng rõ nhất cho yêu cầu thượng tôn pháp luật trong việc áp dụng văn bản quy phạm. Khi xảy ra xung đột giữa các quy định, nguyên tắc áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn là bắt buộc và duy nhất đồng thời, văn bản trái pháp luật phải bị thu hồi, bãi bỏ và bị xử lý trách nhiệm ban hành. Nhận thức đúng đắn nguyên tắc này không chỉ giúp các nhà quản lý tránh được những rủi ro pháp lý đáng tiếc, mà còn góp phần xây dựng một môi trường pháp lý thống nhất, công bằng và minh bạch. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tế, khi bị người khác dùng vũ lực tấn công, người bị tấn công thường buộc phải chống trả để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình hoặc của người khác. Tuy nhiên, trong quá trình chống trả có thể xảy ra hậu quả nghiêm trọng, thậm chí làm người tấn công tử vong. Vậy nếu chống trả để tự vệ nhưng vô tình hoặc buộc phải làm chết người đang tấn công mình thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? 1. Phòng vệ chính đáng là gì? - Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: " Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo quyền, lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên"  Ví dụ, A cầm dao lao vào đâm B. Trong lúc bị tấn công, B giằng được con dao và chống trả nhằm ngăn A tiếp tục đâm mình. Nếu việc chống trả của B là cần thiết trong tình huống đó thì có thể được xem xét là phòng vệ chính đáng.  2. Phòng vệ chính đáng nhưng làm chết người có phạm tội không?  - Cũng theo Khoản 1 Điều 22, pháp luật khẳng định phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.  - Theo đó, nếu hành vi chống trả đáp ứng đầy đủ điều kiện của phòng vệ chính đáng, thì dù hậu quả khiến người đang thực hiện hành vi xâm phạm tử vong, người phòng vệ vẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ vì hậu quả chết người xảy ra.  Ví dụ, A dùng dao liên tục tấn công B vào những vùng nguy hiểm trên cơ thể. B không thể bỏ chạy và phải chống trả để bảo vệ tính mạng. Trong quá trình giằng co, B vô tình hướng con dao về lại phía của A, khiến con dao đâm vào A và A tử vong. Khi xem xét trách nhiệm của B, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá toàn bộ diễn biến vụ việc, đặc biệt là mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công và sự cần thiết của hành vi chống trả.  3. Khi nào phòng vệ làm chết người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?  - Khoản 2 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:  " Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.  Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự"  Ví dụ, A dùng gậy đánh B . Sau đó, B giằng được cây gậy đó đuổi theo A và đánh A nhiều nhát dẫn A bị tử vong. Tại thời điểm B dùng gậy đánh A, hành vi xâm hại của A đã chấm dứt thì không thể coi hành vi của B là chống trả cần thiết nhằm phòng vệ chính đáng. Trường hợp này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo tính chất thực tế của hành vi.  --> Như vậy, nếu phòng vệ chính đáng không tương xứng với hành vi tấn công, thì người có hành vi vượt giới hạn phòng vệ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.  4. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng làm chết người bị xử lý như thế nào?  Nếu cơ quan có thẩm quyền xác định người phòng vệ đã chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, và hành vi đó làm người tấn công tử vong thì có thể bị truy cứu về Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Điều 126 Bộ luật Hình sự.       - Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.         -  Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm. - Lưu ý: Điều 126 chỉ được áp dụng khi hành vi xảy ra trong hoàn cảnh có quyền phòng vệ nhưng người phòng vệ đã chống trả quá mức cần thiết  Nếu hành vi tấn công của phía bên kia đã kết thúc nhưng người được xác định là đang bị xâm hại vẫn chủ động đuổi theo, tấn công nhằm trả thù và cố ý tước đoạt tính mạng của người đó thì không đương nhiên được áp dụng Điều 126. Trách nhiệm hình sự phải được xác định dựa trên hành vi và các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể.  5. Phòng vệ chính đáng làm chết người có phải bồi thường không?  - Điều 594 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:  " Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.  Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại."  --> Do đó, nếu một người được xác định thực hiện hành vi phòng vệ hoàn toàn chính đáng thì họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại gây ra cho người thực hiện hành vi xâm phạm.  Nếu hành vi chống trả vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì ngoài việc có thể chịu trách nhiệm hình sự, người gây thiệt hại còn có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật.  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Vụ án Nguyễn Đức Anh và khoản bồi thường hơn 1,1 tỷ đồng. Ngày 6/10, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai đưa vụ án Nguyễn Đức Anh ra xét xử. Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ và toàn bộ diễn biến vụ án, Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của các nạn nhân. Theo nội dung vụ án, Nguyễn Đức Anh đã sử dụng vũ khí quân dụng để thực hiện hành vi sát hại 3 mẹ con. Sau khi gây án, bị cáo bị cơ quan chức năng bắt giữ và tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.Kết thúc phiên tòa, Hội đồng xét xử tuyên Nguyễn Đức Anh tử hình về tội Giết người và 6 năm tù về tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (Theo Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Vũ khí quân dụng bao gồm: Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5 và dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật;....” -->Dao có tính sát thương cao + sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật  =>  Là vũ khí quân dụng.). Do hình phạt cao nhất được áp dụng là tử hình nên tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo là tử hình.Bên cạnh hình phạt hình sự, Tòa án cũng giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án. Theo đó, Nguyễn Đức Anh bị buộc bồi thường cho các bị hại và gia đình tổng số tiền hơn 1,1 tỷ đồng. 2. Bị cáo bị tử hình ai là người chịu trách nhiệm thi hành khoản bồi thường? Theo khoản 1 điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: “Trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án”.Khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án trong thời hạn quy định, chấp hành viên phải ra các quyết định thi hành án và tống đạt đến trại giam cho người phải thi hành án. Chấp hành viên phải xác minh xem người phải thi hành án có tài sản như nhà, đất… để kê biên đảm bảo thi hành án.Người bị thi hành án bị tử hình thì trách nghiệm bồi thường được giải quyết theo nguyên tắc sau:Căn cứ khoản 2 điều 41 Luật thi hành án dân sự, người thừa kế chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi thường trong phạm vi di sản do người bị tử hình để lại, không bắt buộc dùng tài sản riêng của mình để trả thay. Trong trường hợp người phải thi hành án có tài sản để lại cơ quan thì hành án dân sự sẽ xử lý tài sản đó để thi hành án. Việc xử lý tài sản di sản thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp có bản án, quyết định của Tòa án về phân chia di sản thừa kế hoặc những người thừa kế có thỏa thuận khác về việc thực hiện nghĩa vụ.Trường hợp người thân của người bị tử hình tự nguyện thi hành hoặc tự nguyện chuyển giao nghĩa vụ thi hành án căn cứ Điều 36 của Luật Thi hành án dân sựTheo điều 48 của Luật Thi hành án dân sự nếu người bị tử hình không có di sản để lại hoặc nghĩa vụ đó không được chuyển giao cho người thừa kế, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự sẽ ra quyết định đình chỉ thi hành án với khoản bồi thường đó.Như vậy, người bị kết án tử hình vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự, và chính người đó (tù nhân mang án tử) là người có nghĩa vụ thi hành án bằng tài sản của mình, người thân không có nghĩa vụ bồi thường thay. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, ngày 19/10/2026, nam sinh L.H.V., học sinh lớp 12 Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, xã Nội Bài, Hà Nội, cùng một số học sinh khác bị cô giáo L.T.H. yêu cầu đứng góc lớp do không hoàn thành bài tập về nhà. Trong lúc cô giáo đang giảng bài, nam sinh đã dùng tay đánh vào vùng đầu, mặt của cô, khiến cô bị thương và gãy xương cánh mũi phải. Theo thông tin nhà trường công bố ngày 21/10/2026, kết quả giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của cô giáo là 12%. Vậy với hành vi này, nam sinh có thể phải chịu hình phạt nào theo quy định pháp luật? 1. Nam sinh hành hung cô giáo có thể phải chịu hình phạt nào? + Theo  Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định: “Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:....d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:...đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.” --> Trong vụ việc này, nam sinh có thể bị khởi tố theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù. + Tuy nhiên, nam sinh mới 17 tuổi tại thời điểm xảy ra vụ việc nên việc quyết định hình phạt phải tuân thủ các quy định riêng về người chưa thành niên phạm tội. Theo Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội phải chú trọng mục đích giáo dục và tạo điều kiện để họ sửa chữa sai lầm. Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xem xét độ tuổi, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cùng điều kiện áp dụng những biện pháp xử lý theo quy định. --> Vì vậy, khung hình phạt 02– 06 năm tù là khung hình phạt của tội danh đang bị điều tra, không đồng nghĩa với việc nam sinh chắc chắn phải chịu mức án này. Mức hình phạt cụ thể, nếu bị kết tội, sẽ do Tòa án quyết định trên cơ sở quy định dành cho người chưa thành niên. 2. Nam sinh và gia đình có phải bồi thường thiệt hại cho cô giáo không? Ngoài trách nhiệm hình sự, hành vi gây thương tích còn có thể làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự. + Theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, người bị xâm phạm sức khỏe có quyền yêu cầu bồi thường các khoản thiệt hại hợp lý, bao gồm: Chi phí khám, chữa bệnh, điều trị và phục hồi sức khỏe. Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút trong thời gian điều trị. Chi phí hợp lý và thu nhập bị mất của người chăm sóc, nếu có. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần theo quy định pháp luật. +  Đối với trách nhiệm bồi thường của người chưa thành niên, khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. --> Do đó, nếu xác định nam sinh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, việc thực hiện nghĩa vụ này sẽ được xem xét theo quy định trên, căn cứ vào thiệt hại thực tế và các chứng cứ liên quan. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng. 
Nguồn ảnh: Công an tỉnh Khánh Hòa Vụ việc 4 phạm nhân trốn khỏi Trại giam A2 (Bộ Công an, đóng tại xã Diên Lâm, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa) vào chiều ngày 21/10/2026 đang thu hút sự quan tâm đặc biệt từ dư luận. Hành vi trốn chạy này không chỉ thể hiện sự bốc đồng, liều lĩnh nhất thời mà còn tự đẩy bản thân vào một cái giá pháp lý vô cùng đắt: "Án chồng án"  1. Cái giá pháp lý: án mới chồng án cũ Nhiều phạm nhân lầm tưởng rằng trốn chạy thành công là sẽ có tự do. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, hành vi này lập tức kích hoạt một tội danh mới độc lập là: Tội trốn khỏi nơi giam, giữ (Điều 386 Bộ luật Hình sự 2015). + Khung hình phạt tăng thêm: Hình phạt nhẹ nhất cho tội này là 6 tháng tù và cao nhất lên đến 10 năm tù nếu có các tình trạng định khung như: Trốn trại có tổ chức, dùng vũ lực với người canh gác.+ Nguyên tắc tổng hợp hình phạt: Theo luật định, khi một phạm nhân phạm tội mới trong quá trình chấp hành án, tòa án sẽ xét xử tội mới, sau đó cộng toàn bộ hoặc một phần hình phạt chưa chấp hành của bản án cũ với hình phạt của bản án mới. Các phạm nhân trốn khỏi Trại giam A2 đều là những tội phạm nguy hiểm đang thụ án rất dài từ 10 đến 20 năm tù về các tội danh nghiêm trọng như Giết người, Mua bán ma túy, Trộm cắp tài sản. Chỉ vì một phút bốc đồng rủ nhau trốn trại mà thời gian phải chấp hành án của cả 4 đối tượng sẽ bị kéo dài thêm một khoảng rất dài. 2. Cơ hội duy nhất để được hưởng khoan hồng  Khi lệnh truy nã đã được ban hành trên toàn quốc, mọi ngả đường lẩn trốn của 4 phạm nhân đều bị siết chặt. Trong bối cảnh này, việc phạm nhân chủ động ra trình diện cơ quan chức năng sẽ được pháp luật ghi nhận là hành vi Đầu thú. => Đây là một chiếc phao cứu sinh có giá trị pháp lý rất lớn đối với các phạm nhân tại thời điểm này. => Việc ra đầu thú + thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải sẽ được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt (Theo Khoản 1 và  Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015) Tòa án có thể áp dụng Điều 54 để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695