DỊCH VỤ LUẬT SƯ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Trong xã hội Việt Nam, việc nhận con nuôi không chỉ thể hiện giá trị nhân văn mà còn gắn kết các mối quan hệ gia đình. Tuy nhiên, nhiều người băn khoăn liệu con nuôi có được hưởng quyền thừa kế như con đẻ hay không. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định rõ ràng để đảm bảo quyền lợi của con nuôi trong vấn đề này. 1. Con nuôi có được hưởng thừa kế như con đẻ? Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất, ngang hàng với con đẻ, vợ/chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của người để lại di sản. Điều này có nghĩa là con nuôi hợp pháp có quyền hưởng phần di sản bằng nhau với con đẻ, bất kể theo di chúc hay theo pháp luật. Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015 cũng khẳng định con nuôi và cha mẹ nuôi có quyền thừa kế di sản của nhau, tương tự như quan hệ giữa con đẻ và cha mẹ đẻ. Do đó, khi cha mẹ nuôi qua đời, con nuôi hợp pháp được hưởng thừa kế tài sản như con đẻ. 2. Điều kiện để con nuôi được công nhận hợp pháp Để con nuôi có quyền thừa kế như con đẻ, việc nhận nuôi phải đáp ứng các điều kiện sau: * Điều kiện của người nhận con nuôi Căn cứ theo khoản 1 Điều 14 Luật con nuôi 2010 quy định người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây: - Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; - Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; - Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; - Có tư cách đạo đức tốt. Lưu ý: Tại khoản 3 Điều 14 Luật con nuôi 2010 quy định: Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không cần các điều kiện: - Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; - Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 14 Luật con nuôi 2010 quy định những người sau đây không được nhận con nuôi: - Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; - Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; - Đang chấp hành hình phạt tù; - Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. * Điều kiện của người được nhận làm con nuôi - Trẻ em dưới 16 tuổi - Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: + Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; + Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. - Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. * Đăng ký nhận con nuôi: Căn cứ Điều 9 Luật con nuôi 2010, việc nhận con nuôi phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền như sau: - Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước. - Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. - Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài đăng ký việc nuôi con nuôi của công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài. Như vậy, để được công nhận là con nuôi hợp pháp thì việc nhận con nuôi phải được thực hiện theo đúng quy định. Khi đó, con nuôi mới có quyền thừa kế ngang hàng với con ruột. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Tranh chấp tài sản sau ly hôn có yếu tố nước ngoài thường phức tạp do liên quan đến pháp luật của nhiều quốc gia, tài sản ở nhiều nơi, và sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ. Để bảo vệ quyền lợi và tránh thiệt hại, cần nắm rõ các bước sau theo quy định pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. 1. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài là gì? Hôn nhân có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Khi xảy ra tình huống không mong muốn dẫn đến hôn nhân đổ vỡ, hai vợ chồng ly hôn sẽ cần giải quyết những vấn đề về con chung, cấp dưỡng, đặc biệt là về tài sản. Việc phân chia tài sản sau ly hôn cần phải tuân theo pháp luật Việt Nam bao gồm: Luật hôn nhân và gia đình, Bộ Luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự cùng các hiệp định hỗ trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết với quốc gia khác. 2. Xác định tài sản đang tranh chấp Do sự khác biệt về hệ thống pháp luật của từng quốc gia.  Trước tiên, bạn cần phải xác định được tài sản ở đâu, ở quốc gia nào và Việt Nam có ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với quốc gia đó hay không. Thứ hai, tài sản đó là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, động sản hay bất động sản. Bên cạnh đó cũng cần xác định được ai đứng tên và có được hình thành trong hôn nhân hay không. Quy định của Việt Nam về tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng như sau: Căn cứ vào Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung của hai vợ chồng bao gồm tài sản do vợ và chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng như lợi ích, lợi nhuận phát sinh từ tài sản riêng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân trừ những trường hợp được quy định tại khoản 1 của Điều 40 trong Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản kế thừa hoặc được tặng chung và tài sản mà vợ chồng đã thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất sau hôn nhân cũng được xem xét là tài sản chung, trừ khi có các trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế, tặng riêng, hoặc thông qua giao dịch sử dụng tài sản riêng. Nếu không có bằng chứng để chứng minh rằng tài sản của vợ chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên, thì tài sản đó sẽ được coi là tài sản chung. Căn cứ vào Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng của vợ và chồng bao gồm: tài sản mà mỗi người sở hữu trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế hoặc tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ và chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ và chồng cùng với các tài sản khác thuộc sở hữu riêng của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ và chồng cũng được xem xét là tài sản riêng của họ. Hoa lợi và lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. 3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật để chia tài sản có yếu tố nước ngoài Căn cứ theo Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài: 1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này. 2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam. 3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó. Như vậy, việc áp dụng pháp luật để phân chia tài sản có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam sẽ được giải quyết tuân theo pháp luật của nơi có tài sản hoặc pháp luật Việt Nam phụ thuộc vào tài sản đó ở đâu và chủ thể ly hôn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Thừa kế thế vị là một cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi của con, cháu hoặc chắt trong trường hợp cha/mẹ hoặc ông/bà của họ qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi của các thế hệ sau mà còn thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam trong việc duy trì công bằng trong phân chia di sản. Dưới đây là các điều kiện và thủ tục để thực hiện thừa kế thế vị theo Bộ luật Dân sự 2015. 1. Thừa kế thế vị là gì? Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế thế vị xảy ra khi con của người để lại di sản qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Trong trường hợp này: Cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Ví dụ: Ông A qua đời, để lại di sản. Con trai của ông A là anh B đã mất trước đó, nên con của anh B (cháu của ông A) được hưởng phần di sản của anh B. Nếu cháu cũng đã mất, chắt của ông A sẽ được thế vị. 2. Điều kiện để thực hiện thừa kế thế vị Để được hưởng quyền thừa kế thế vị, cần đáp ứng các điều kiện sau: Người thừa kế còn sống hoặc đã thành thai: Người thừa kế thế vị phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai trước khi người để lại di sản qua đời. Quan hệ huyết thống trực tiếp: Người thế vị phải là cháu (thế vị cho cha/mẹ) hoặc chắt (thế vị cho ông/bà) của người để lại di sản. Cháu được thế vị khi cha/mẹ của cháu đã qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Chắt được thế vị khi ông/bà nội/ngoại của chắt đã qua đời trước hoặc cùng thời điểm. Thừa kế theo pháp luật: Thừa kế thế vị chỉ áp dụng khi không có di chúc hoặc di chúc không chỉ định cụ thể người hưởng di sản. Nếu di chúc hợp pháp quy định rõ người nhận di sản, thừa kế thế vị không được áp dụng. Hàng thừa kế thứ nhất hoặc thứ hai: Thừa kế thế vị chỉ áp dụng cho người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (con, cháu) hoặc thứ hai (cháu, chắt) của người để lại di sản. Không bị truất quyền thừa kế: Người được thế vị (cha/mẹ hoặc ông/bà) khi còn sống phải có quyền hưởng di sản, tức là không thuộc trường hợp bị truất quyền thừa kế theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 (ví dụ: ngược đãi, xâm phạm danh dự người để lại di sản). 3. Thủ tục thực hiện thừa kế thế vị Để thực hiện quyền thừa kế thế vị, cần thực hiện các bước sau: Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ pháp lý Thu thập các giấy tờ cần thiết, bao gồm: Giấy chứng tử của người để lại di sản và người được thế vị (cha/mẹ hoặc ông/bà đã qua đời). Giấy khai sinh hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ huyết thống giữa người thế vị (cháu/chắt) và người để lại di sản. Giấy tờ tài sản thừa kế: Sổ đỏ, hợp đồng, sổ tiết kiệm, hoặc các tài liệu chứng minh quyền sở hữu tài sản. Bước 2: Công chứng văn bản khai nhận di sản Nộp hồ sơ tại văn phòng công chứng hoặc UBND có thẩm quyền tại nơi có tài sản thừa kế. Công chứng viên sẽ kiểm tra hồ sơ, xác minh quyền thừa kế và lập văn bản khai nhận di sản. Nếu các bên thừa kế thỏa thuận được về phân chia di sản, văn bản này cần được công chứng hoặc chứng thực. Bước 3: Sang tên tài sản thừa kế (nếu cần) Đối với bất động sản: Nộp văn bản khai nhận di sản tại văn phòng đăng ký đất đai để sang tên quyền sở hữu. Cần nộp lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan. Đối với tài sản khác (như ô tô, tài khoản ngân hàng): Th收藏 ực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Bước 4: Giải quyết tranh chấp (nếu có) Nếu các bên thừa kế không thống nhất về quyền thừa kế thế vị hoặc phân chia di sản, có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền (thường là nơi cư trú của người để lại di sản hoặc nơi có tài sản). Cung cấp đầy đủ chứng cứ về quan hệ huyết thống và tài sản để tòa án xem xét Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Trong quan hệ hôn nhân, việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt khi xảy ra ly hôn. Một trong những vấn đề thường gây tranh cãi là tài sản do bố mẹ tặng cho có được chia khi ly hôn hay không. Dựa trên Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Bộ luật Dân sự 2015, bài viết này sẽ làm rõ vấn đề này. 1. Quy định về tài sản chung và riêng của vợ chồng *Tài sản chung Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, như thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, và các thu nhập hợp pháp khác (trừ trường hợp quy định tại Điều 43). Tài sản được tặng cho chung hoặc thừa kế chung, ví dụ: nhà ở, quyền sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận đứng tên cả hai vợ chồng. Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất, được sử dụng để đảm bảo nhu cầu của gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng, tài sản đó được coi là tài sản chung (theo Điều 33). Lưu ý: Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. *Tài sản riêng Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm: Tài sản có trước khi kết hôn. Tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản được chia riêng theo quy định pháp luật. Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ hoặc chồng. Tài sản khác mà pháp luật quy định là tài sản riêng. Tài sản hình thành từ tài sản riêng (ví dụ: hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng) cũng thuộc về tài sản riêng, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc quy định pháp luật khác (theo Điều 43). 2. Trường hợp được chia tài sản bố mẹ cho khi ly hôn Tài sản do bố mẹ tặng cho có được chia khi ly hôn hay không phụ thuộc vào bản chất pháp lý của tài sản (chung hay riêng) và các thỏa thuận giữa vợ chồng. Dưới đây là hai trường hợp phổ biến: Trường hợp 1: Tài sản được tặng cho chung Nếu bố mẹ tặng tài sản cho cả hai vợ chồng (ví dụ: nhà ở, đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên cả hai), tài sản này được coi là tài sản chung theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Khi ly hôn: Tài sản chung sẽ được chia theo thỏa thuận của vợ chồng. Nếu không thỏa thuận được, tòa án sẽ phân chia theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thường dựa trên nguyên tắc chia đôi nhưng có xem xét các yếu tố như: Công sức đóng góp của mỗi bên vào việc duy trì, phát triển tài sản. Hoàn cảnh của mỗi bên, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của vợ hoặc con nhỏ (nếu có). Yêu cầu pháp lý: Việc tặng cho tài sản như bất động sản cần được công chứng hoặc chứng thực theo Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 để đảm bảo tính hợp pháp của giao dịch. Ví dụ: Nếu bố mẹ chồng tặng một căn nhà và giấy chứng nhận quyền sở hữu ghi tên cả hai vợ chồng, căn nhà này là tài sản chung và sẽ được chia khi ly hôn. Trường hợp 2: Tài sản tặng riêng nhưng được nhập vào tài sản chung Nếu bố mẹ tặng tài sản riêng cho con trai hoặc con gái (ví dụ: chỉ đứng tên người chồng trên giấy chứng nhận), tài sản này là tài sản riêng theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, nếu người được tặng tự nguyện nhập tài sản riêng vào tài sản chung (theo Điều 46 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014), tài sản đó sẽ trở thành tài sản chung. Thủ tục nhập tài sản riêng vào tài sản chung: Cần có thỏa thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, nêu rõ việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Đối với bất động sản, thỏa thuận này thường phải được công chứng hoặc chứng thực để đảm bảo tính pháp lý. Khi ly hôn: Nếu tài sản đã được nhập hợp pháp vào tài sản chung, nó sẽ được chia như tài sản chung (theo nguyên tắc nêu ở trường hợp 1). Nếu không có thỏa thuận hoặc giấy tờ chứng minh việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung, tài sản vẫn là tài sản riêng và bên còn lại không có quyền yêu cầu chia. Ví dụ: Nếu bố mẹ chồng tặng riêng cho con trai một mảnh đất, nhưng người chồng đồng ý nhập mảnh đất này vào tài sản chung thông qua thỏa thuận công chứng, thì khi ly hôn, người vợ có quyền yêu cầu chia phần tài sản đó. Lưu ý: Chứng minh tài sản chung hay riêng: Nếu không có căn cứ chứng minh tài sản là tài sản riêng, pháp luật sẽ coi đó là tài sản chung (Điều 33). Do đó, việc lưu giữ giấy tờ như hợp đồng tặng cho, thỏa thuận nhập tài sản, hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu là rất quan trọng. Công chứng/chứng thực: Các giao dịch liên quan đến bất động sản (tặng cho, nhập tài sản riêng vào tài sản chung) phải tuân thủ quy định về công chứng/chứng thực theo Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 để tránh tranh chấp. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Việc xác định tài sản thừa kế là tài sản chung hay riêng trong hôn nhân là một vấn đề pháp lý quan trọng, đặc biệt trong các trường hợp ly hôn hoặc tranh chấp tài sản. Dưới đây là những quy định pháp luật cần biết để phân biệt rõ ràng và chính xác. 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm những gì? Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, tài sản chung của vợ chồng bao gồm: – Tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; – Thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh của vợ chồng; – Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng; – Các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân như tiền thưởng, trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp (trừ trợ cấp ưu đãi người có công), tài sản xác lập quyền sở hữu từ vật vô chủ, vật bị bỏ quên, vật chìm đắm, vật nuôi thất lạc,... – Tài sản vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung; – Tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; – Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (trừ trường hợp thuộc tài sản riêng như thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc mua bằng tài sản riêng). 2. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm những gì? Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm: – Tài sản có trước khi kết hôn; – Tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; – Tài sản được chia riêng từ tài sản chung; – Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu cá nhân; – Tài sản hình thành từ tài sản riêng; – Một số tài sản được pháp luật xác định là tài sản riêng, bao gồm: quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ; tài sản theo phán quyết của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền; khoản trợ cấp, ưu đãi người có công; quyền tài sản gắn liền với nhân thân. 3. Tài sản thừa kế là tài sản chung hay riêng – Nếu tài sản được thừa kế theo di chúc: Trường hợp di chúc để lại cho cả hai vợ chồng thì tài sản đó là tài sản chung Trường hợp di chúc chỉ để lại cho một người (vợ hoặc chồng), thì tài sản đó là tài sản riêng của người được thừa kế. – Nếu tài sản được thừa kế theo pháp luật (không có di chúc): Phần tài sản được chia cho vợ hoặc chồng sẽ được coi là tài sản riêngcủa người được thừa kế. Ngoài ra, tài sản thừa kế dù là tài sản riêng vẫn có thể trở thành tài sản chung nếu vợ chồng có thỏa thuận nhập vào tài sản chung, hoặc nếu tài sản được sử dụng chung mà không phân định rõ ràng. Như vậy, để xác định tài sản thừa kế là tài sản chung hay riêng cần xem xét: người thừa kế là ai, thừa kế theo di chúc hay pháp luật, và có thỏa thuận nào giữa vợ chồng hay không. Việc xác định rõ ràng ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế rủi ro tranh chấp về sau và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mỗi bên. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Con từ đủ 07 tuổi trở lên có quyền bày tỏ nguyện vọng muốn sống với bố hoặc mẹ khi cha mẹ ly hôn. Tuy nhiên, việc quyết định ai là người trực tiếp nuôi con không chỉ phụ thuộc vào ý kiến của con mà còn căn cứ vào lợi ích về mọi mặt của trẻ. Bài viết dưới đây, Luật Phương Bình sẽ làm rõ quy định pháp luật hiện hành. 1. Con trên 7 tuổi có quyền lựa chọn ở với bố hoặc mẹ khi ly hôn không? Căn cứ tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Đồng thời, căn cứ tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định về giải quyết việc nuôi con khi ly hôn quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình như sau:  Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi trở lên quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 3 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: a) Bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, độ tuổi, mức độ trưởng thành để con có thể bày tỏ đúng và đầy đủ ý kiến của mình; b) Không lấy ý kiến trước mặt cha, mẹ để tránh gây áp lực tâm lý cho con; c) Không ép buộc, không gây áp lực, căng thẳng cho con. Như vậy, con từ đủ 07 tuổi có quyền bày tỏ nguyện vọng được sống với ai khi cha mẹ ly hôn. Tuy nhiên, Tòa án không bắt buộc phải làm theo nguyện vọng đó nếu xét thấy người được chọn không đảm bảo điều kiện về chăm sóc, nuôi dưỡng. Quyết định cuối cùng vẫn dựa trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích mọi mặt của con. 2. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn? Theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây: – Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; – Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự. Trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con: – Người thân thích; – Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; – Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; – Hội liên hiệp phụ nữ. 3. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn được xác định như thế nào? Căn cứ theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu. Theo đó, căn cứ tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con như sau: 1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. 2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. 3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó Như vậy, có thể xác định nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn thuộc về người không trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng này sẽ kéo dài đến khi người con đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Khi ly hôn, việc xác định quyền nuôi con là một trong những vấn đề quan trọng, đặc biệt đối với con dưới 36 tháng tuổi. Pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho trẻ như sau: 1. Quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi sau khi ly hôn được pháp luật quy định như thế nào? Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khi cha mẹ ly hôn, việc nuôi con được ưu tiên dựa trên lợi ích của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ nuôi, trừ khi người mẹ không có đủ điều kiện nuôi dưỡng (ví dụ: không có thu nhập ổn định, sức khỏe không đảm bảo, hoặc có hành vi bạo lực gia đình) hoặc cha mẹ có thỏa thuận khac phù hợp với lợi ích của con cái. Lợi ích của con được xem là yêu tố quyết định hàng đầu. Tòa án sẽ xem xét các yếu tố như điều kiện kinh tế, môi trường sống, thời gian chăm sóc, và khả năng giáo dục của cha/mẹ. 2. Nghĩ vụ cấp dưới của cha mẹ đối với con Để đảm bảo quyền lợi của người con, mặc dù ly hôn và không nuôi con trực tiếp nhưng cha mẹ vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng được ghi nhận tại Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:  "Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.” Về mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Điều 116, Luật hôn nhân và gia đình 2014. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Trong thực tế, không ít trường hợp một bên vợ hoặc chồng tự đứng ra vay tiền mà không có sự tham gia, đồng ý của người còn lại. Khi phát sinh tranh chấp, câu hỏi thường gặp là: người không ký vay có phải cùng chịu trách nhiệm trả nợ hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng như sau: "Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng 1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này. 2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này." Như vậy, pháp luật không yêu cầu bắt buộc cả hai vợ chồng cùng ký thì mới phát sinh nghĩa vụ chung. Trong một số trường hợp, dù chỉ một người vay, cả hai vẫn phải cùng chịu trách nhiệm. Cụ thể: (1) Vay để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Nếu khoản vay được sử dụng cho các nhu cầu như: ăn uống, sinh hoạt, chữa bệnh, học tập… thì đây được coi là nhu cầu thiết yếu của gia đình. → Khi đó, dù chỉ một người đứng ra vay, người còn lại vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ. (2) Vay trong phạm vi đại diện giữa vợ và chồng phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (3) Khoản vay thuộc nghĩa vụ chung về tài sản Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngược lại, nếu khoản vay: - Không phục vụ nhu cầu gia đình - Không có sự ủy quyền hoặc đại diện hợp pháp - Chỉ phục vụ mục đích cá nhân riêng (ví dụ: tiêu xài cá nhân, đầu tư riêng, đánh bạc, vay để cho người khác…) → Thì đây là nghĩa vụ riêng của người vay, người còn lại không phải chịu trách nhiệm liên đới. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ A và chồng B mua được thửa đất anh trai của B với giá 500.000.000 đồng tuy nhiên chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hình thức tặng cho. Tới nay, giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên A đã khởi kiện yêu cầu ly hôn. Khi giải quyết việc chia tài sản chung, A thắc mắc liệu thửa đất được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân có được chia hay không. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài chung của vợ chồng như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Theo quy định trên, tài sản do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc được hình thành từ tài sản riêng. Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án không chỉ căn cứ vào tên gọi của giao dịch là “tặng cho”, mà còn xem xét bản chất thực tế của việc chuyển nhượng tài sản. Trường hợp có căn cứ chứng minh việc nhận quyền sử dụng đất được thực hiện bằng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn có cơ sở xác định đây là tài sản chung.   Đối với tình huống trên các trường hợp có thể chứng minh, cụ thể: Trường hợp 1: Có chứng từ thanh toán thể hiện việc mua bán Nếu việc giao tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, có sao kê ngân hàng hoặc nội dung chuyển tiền thể hiện mục đích mua đất, đồng thời nguồn tiền là thu nhập của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì đây là căn cứ để chứng minh thửa đất được hình thành từ tài sản chung. Trường hợp 2: Người chồng thừa nhận là tài sản chung Trong quá trình giải quyết ly hôn, nếu B đồng ý xác định thửa đất là tài sản chung và thống nhất việc phân chia cho A thì đây là căn cứ để Tòa án xem xét công nhận theo sự thỏa thuận của các bên. Trường hợp 3: Có chứng cứ khác chứng minh giao dịch thực tế là mua bán Mặc dù hợp đồng thể hiện dưới hình thức tặng cho, nhưng nếu có tin nhắn, ghi âm, lời khai của người anh chồng hoặc người làm chứng xác nhận việc hai vợ chồng đã giao tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất thì đây vẫn có thể được xem là chứng cứ chứng minh tài sản được tạo lập bằng công sức, tài sản chung của vợ chồng. Từ đó có thể thấy, hình thức “tặng cho” không phải là căn cứ duy nhất để xác định tính chất tài sản. Nếu chứng minh được thửa đất được hình thành từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì quyền sử dụng đất này vẫn có thể được xác định là tài sản chung và được xem xét phân chia khi ly hôn. Từ các phân tích trên có thể thấy, việc chuyển quyền sử dụng đất được lập dưới hình thức “tặng cho” không đồng nghĩa thửa đất đương nhiên là tài sản riêng của chồng B. Khi giải quyết tranh chấp ly hôn, Tòa án sẽ xem xét toàn bộ quá trình hình thành tài sản, nguồn tiền thanh toán và bản chất thực tế của giao dịch. Trường hợp A chứng minh được việc nhận chuyển nhượng thửa đất có sử dụng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có căn cứ thể hiện giao dịch thực tế là mua bán chứ không phải tặng cho riêng, thì vẫn có cơ sở để xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng và được xem xét phân chia khi ly hôn. Ngược lại, nếu không có chứng cứ chứng minh việc giao nhận tiền hoặc không chứng minh được giao dịch “tặng cho” chỉ là hình thức thể hiện trên giấy tờ, Tòa án có thể căn cứ vào nội dung hợp đồng công chứng và hồ sơ sang tên để xác định tính chất pháp lý của tài sản theo hình thức giao dịch đã được xác lập. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
 
hotline 0936 645 695