HỎI ĐÁP: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong quan hệ hôn nhân, việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt khi xảy ra ly hôn. Một trong những vấn đề thường gây tranh cãi là tài sản do bố mẹ tặng cho có được chia khi ly hôn hay không. Dựa trên Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Bộ luật Dân sự 2015, bài viết này sẽ làm rõ vấn đề này. 1. Quy định về tài sản chung và riêng của vợ chồng *Tài sản chung Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, như thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, và các thu nhập hợp pháp khác (trừ trường hợp quy định tại Điều 43). Tài sản được tặng cho chung hoặc thừa kế chung, ví dụ: nhà ở, quyền sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận đứng tên cả hai vợ chồng. Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất, được sử dụng để đảm bảo nhu cầu của gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng, tài sản đó được coi là tài sản chung (theo Điều 33). Lưu ý: Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. *Tài sản riêng Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm: Tài sản có trước khi kết hôn. Tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản được chia riêng theo quy định pháp luật. Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ hoặc chồng. Tài sản khác mà pháp luật quy định là tài sản riêng. Tài sản hình thành từ tài sản riêng (ví dụ: hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng) cũng thuộc về tài sản riêng, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc quy định pháp luật khác (theo Điều 43). 2. Trường hợp được chia tài sản bố mẹ cho khi ly hôn Tài sản do bố mẹ tặng cho có được chia khi ly hôn hay không phụ thuộc vào bản chất pháp lý của tài sản (chung hay riêng) và các thỏa thuận giữa vợ chồng. Dưới đây là hai trường hợp phổ biến: Trường hợp 1: Tài sản được tặng cho chung Nếu bố mẹ tặng tài sản cho cả hai vợ chồng (ví dụ: nhà ở, đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên cả hai), tài sản này được coi là tài sản chung theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Khi ly hôn: Tài sản chung sẽ được chia theo thỏa thuận của vợ chồng. Nếu không thỏa thuận được, tòa án sẽ phân chia theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thường dựa trên nguyên tắc chia đôi nhưng có xem xét các yếu tố như: Công sức đóng góp của mỗi bên vào việc duy trì, phát triển tài sản. Hoàn cảnh của mỗi bên, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của vợ hoặc con nhỏ (nếu có). Yêu cầu pháp lý: Việc tặng cho tài sản như bất động sản cần được công chứng hoặc chứng thực theo Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 để đảm bảo tính hợp pháp của giao dịch. Ví dụ: Nếu bố mẹ chồng tặng một căn nhà và giấy chứng nhận quyền sở hữu ghi tên cả hai vợ chồng, căn nhà này là tài sản chung và sẽ được chia khi ly hôn. Trường hợp 2: Tài sản tặng riêng nhưng được nhập vào tài sản chung Nếu bố mẹ tặng tài sản riêng cho con trai hoặc con gái (ví dụ: chỉ đứng tên người chồng trên giấy chứng nhận), tài sản này là tài sản riêng theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, nếu người được tặng tự nguyện nhập tài sản riêng vào tài sản chung (theo Điều 46 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014), tài sản đó sẽ trở thành tài sản chung. Thủ tục nhập tài sản riêng vào tài sản chung: Cần có thỏa thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, nêu rõ việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Đối với bất động sản, thỏa thuận này thường phải được công chứng hoặc chứng thực để đảm bảo tính pháp lý. Khi ly hôn: Nếu tài sản đã được nhập hợp pháp vào tài sản chung, nó sẽ được chia như tài sản chung (theo nguyên tắc nêu ở trường hợp 1). Nếu không có thỏa thuận hoặc giấy tờ chứng minh việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung, tài sản vẫn là tài sản riêng và bên còn lại không có quyền yêu cầu chia. Ví dụ: Nếu bố mẹ chồng tặng riêng cho con trai một mảnh đất, nhưng người chồng đồng ý nhập mảnh đất này vào tài sản chung thông qua thỏa thuận công chứng, thì khi ly hôn, người vợ có quyền yêu cầu chia phần tài sản đó. Lưu ý: Chứng minh tài sản chung hay riêng: Nếu không có căn cứ chứng minh tài sản là tài sản riêng, pháp luật sẽ coi đó là tài sản chung (Điều 33). Do đó, việc lưu giữ giấy tờ như hợp đồng tặng cho, thỏa thuận nhập tài sản, hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu là rất quan trọng. Công chứng/chứng thực: Các giao dịch liên quan đến bất động sản (tặng cho, nhập tài sản riêng vào tài sản chung) phải tuân thủ quy định về công chứng/chứng thực theo Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 để tránh tranh chấp. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Việc xác định tài sản thừa kế là tài sản chung hay riêng trong hôn nhân là một vấn đề pháp lý quan trọng, đặc biệt trong các trường hợp ly hôn hoặc tranh chấp tài sản. Dưới đây là những quy định pháp luật cần biết để phân biệt rõ ràng và chính xác. 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm những gì? Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, tài sản chung của vợ chồng bao gồm: – Tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; – Thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh của vợ chồng; – Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng; – Các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân như tiền thưởng, trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp (trừ trợ cấp ưu đãi người có công), tài sản xác lập quyền sở hữu từ vật vô chủ, vật bị bỏ quên, vật chìm đắm, vật nuôi thất lạc,... – Tài sản vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung; – Tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; – Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (trừ trường hợp thuộc tài sản riêng như thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc mua bằng tài sản riêng). 2. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm những gì? Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm: – Tài sản có trước khi kết hôn; – Tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; – Tài sản được chia riêng từ tài sản chung; – Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu cá nhân; – Tài sản hình thành từ tài sản riêng; – Một số tài sản được pháp luật xác định là tài sản riêng, bao gồm: quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ; tài sản theo phán quyết của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền; khoản trợ cấp, ưu đãi người có công; quyền tài sản gắn liền với nhân thân. 3. Tài sản thừa kế là tài sản chung hay riêng – Nếu tài sản được thừa kế theo di chúc: Trường hợp di chúc để lại cho cả hai vợ chồng thì tài sản đó là tài sản chung Trường hợp di chúc chỉ để lại cho một người (vợ hoặc chồng), thì tài sản đó là tài sản riêng của người được thừa kế. – Nếu tài sản được thừa kế theo pháp luật (không có di chúc): Phần tài sản được chia cho vợ hoặc chồng sẽ được coi là tài sản riêngcủa người được thừa kế. Ngoài ra, tài sản thừa kế dù là tài sản riêng vẫn có thể trở thành tài sản chung nếu vợ chồng có thỏa thuận nhập vào tài sản chung, hoặc nếu tài sản được sử dụng chung mà không phân định rõ ràng. Như vậy, để xác định tài sản thừa kế là tài sản chung hay riêng cần xem xét: người thừa kế là ai, thừa kế theo di chúc hay pháp luật, và có thỏa thuận nào giữa vợ chồng hay không. Việc xác định rõ ràng ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế rủi ro tranh chấp về sau và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mỗi bên. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Từ ngày 01/01/2025, đã có mức xử phạt mới áp dụng đối với hành vi sử dụng điện thoại khi đi xe máy. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thông tin chi tiết về mức xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật này:  Căn cứ điểm đ, khoản 4 và điểm b, khoản 10, Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe có quy định về lỗi sử dụng điện thoại khi đi xe máy 2025 như sau: "4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: ...  đ) Người đang điều khiển xe sử dụng ô (dù), thiết bị âm thanh (trừ thiết bị trợ thính), dùng tay cầm và sử dụng điện thoại hoặc các thiết bị điện tử khác. 10. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: ... Vi phạm quy định tại một trong các điểm, khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông: điểm a, điểm d, điểm đ, điểm g, điểm h, điểm i, điểm k khoản 1; điểm c, điểm đ, điểm g khoản 2; điểm b, điểm e, điểm g, điểm h, điểm k khoản 3; điểm đ khoản 4; điểm c, điểm d khoản 6; điểm c, điểm d, điểm đ khoản 7; điểm a, điểm b, điểm h, điểm k khoản 9 Điều này.  ..." Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Theo kết quả rà soát kỹ lưỡng được thực hiện bởi Cục Bổ trợ tư pháp cùng với sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan, Bộ Tư pháp đã đăng tải “Danh mục các giao dịch bắt buộc phải công chứng, chứng thực theo quy định của Luật và Nghị định”. Danh mục này bao gồm loại văn bản được liệt kê chi tiết, nhằm đảm bảo các giao dịch tuân thủ đúng quy định pháp luật, đồng thời tăng cường tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.   CĂN CỨ PHÁP LÝ 1. Văn bản lựa chọn người giám hộ Khoản 2 Điều 48 Bộ luật Dân sự 2015 2. Văn bản tặng cho bất động sản Khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 3. Di chúc người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ Khoản 3 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 4. Văn bản ủy quyền đại diện kháng cáo bản án, quyết định  tòa án trong vụ việc dân sự Khoản 6 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 5. Hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng mà các bên tham gia giao dịch là cá nhân Khoản 5 Điều 44 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 6. Hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở trừ trường hợp sau: tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết; mua bán, thuê mua nhà ở thuộc tài sản công; mua bán, thuê mua nhà ở mà một bên là tổ chức, bao gồm: nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; thuê, mượn, ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở Khoản 1 Điều 164 Luật Nhà ở 2023 7. Văn bản thừa kế nhà ở Khoản 3 Điều 164 Luật Nhà ở 2023 8. Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trừ hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản. Điểm a khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024 9. Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Điểm c khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024 10. Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho hoặc đổi hoặc nhận thừa kế nhà ở đối với trường hợp giao dịch trước ngày 01/7/2006. Điểm đ khoản 1 Điều 148 Luật Đất đai 2024 11. Hợp đồng thuê đất hoặc hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc văn bản chấp thuận  người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng nhà ở trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở theo quy định  pháp luật về nhà ở mà không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 5 Điều 148  Luật Đất đai 2024 Điểm b khoản 5 Điều 148 Luật Đất đai 2024 12. Hợp đồng thuê đất hoặc hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc văn bản chấp thuận  người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng công trình Khoản 5 Điều 149 Luật Đất đai 2024 13. Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản  vợ chồng trước khi kết hôn Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 14. Văn bản thỏa thuận về việc mang thai hộ Khoản 2 Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 15. Văn bản sửa đổi, bổ sung nội dung  thỏa thuận về chế độ tài sản  vợ chồng Điều 49 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 16. Hợp đồng cho thuê doanh nghiệp tư nhân Điều 191 Luật Doanh nghiệp 2020 17. Văn bản ủy quyền đại diện kháng cáo bản án, quyết định  tòa án cấp sơ thẩm trong vụ việc hành chính Khoản 6 Điều 205 Luật Tố tụng hành chính 2015 18. Văn bản ủy quyền  người có tên trong hợp đồng thuê nhà ở đã xuất cảnh ra nước ngoài cho các thành viên khác đứng tên mua nhà ở trong Hồ sơ đề nghị bán nhà ở cũ thuộc tài sản công Khoản 1 Điều 75 Nghị định 95/2024/NĐ-CP  19. Hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản Các điểm a, b, c khoản 2 Điều 13  Nghị định 96/2024/NĐ-CP  20. Văn bản thỏa thuận các thành viên có chung quyền sử dụng đất đồng ý đưa quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp Điểm b khoản 7 Điều 30  Nghị định 101/2024/NĐ-CP 21. Văn bản ủy quyền giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản khi người phải thi hành án xuất cảnh Điểm a, điểm b khoản 2 Điều 51 Nghị định 62/2015/NĐ-CP  22. Văn bản ủy quyền thực hiện quyền khiếu nại Khoản 3 Điều 5 Nghị định 124/2020/NĐ-CP; khoản 6 Điều 8 Thông tư 13/2021/TT-BTP  23. Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại Điểm b khoản 3 Điều 28 Nghị định 08/2020/NĐ-CP  24. Các giao dịch khác theo quy định  luật và nghị định Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Hiện nay, hành vi mở phòng khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép ngày càng tràn lan. Cụ thể, hàng loạt phòng khám, cơ sở nha khoa ở Đắk Lắk hoạt động không có giấy phép hoạt động bị xử phạt, đình chỉ hoạt động. Vậy các hành vi có bị xử phạt hay truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi sai phạm này không?.Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.  Theo quy định tại khoản 15 Điều 7 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2023, một trong những hành vi bị cấm là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa khi “không có giấy phép hoạt động, đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động, không đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép,…”. I. Quy định về mức xử phạt hành chính (cảnh cáo, phạt tiền): Căn cứ khoản 6 Điều 39 Nghị định 117/2020 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế. Đối với hành vi vi phạm điều cấm trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh mức xử phạt từ phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành không có giấy phép hoạt động vẫn cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Ngoài ra, cơ sở vi phạm có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là đình chỉ cơ sở hoạt động trong thời hạn 12 tháng đến 24 tháng đối với hành vi  cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh .   II. Quy định về xử lý hình sự Căn cứ quy định tại Điều 315 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Điều 315. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác 1. Người nào vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 259 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”. Như vậy, tùy vào mức độ, hậu quả tổn thất mà các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không có giấy phép hoạt động gây ra để truy cứu trách nhiệm.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
Sau khi ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là trách nhiệm của cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con nhằm bảo đảm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Tuy nhiên, trên thực tế, chi phí nuôi con có thể thay đổi theo thời gian do con lớn lên, học tập ở cấp học cao hơn, phát sinh chi phí khám chữa bệnh hoặc giá cả sinh hoạt tăng. Vậy trong trường hợp này, mức cấp dưỡng đã thỏa thuận hoặc đã được Tòa án quyết định có thể được thay đổi hay không? 1. Mức cấp dưỡng sau ly hôn được xác định như thế nào? - Theo Khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định mức cấp dưỡng được xác định căn cứ vào:+ Thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;+ Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.Cha, mẹ có thể tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng và thời điểm cấp dưỡng. Trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, mức cấp dưỡng không phải là một con số cố định cho mọi trường hợp mà được xác định dựa trên điều kiện thực tế của các bên tại thời điểm giải quyết. 2. Chi phí nuôi con tăng thì có được thay đổi mức cấp dưỡng không? - Theo Khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."- Như vậy, mức cấp dưỡng có thể thay đổi khi có lí do chính đáng ví dụ như: + Chi phí học tập của con tăng; + Con bị bệnh, cần điều trị hoặc chăm sóc y tế thường xuyên; + Giá cả hàng hóa, chi phí sinh hoạt tăng đáng kể khiến mức cấp dưỡng hiện tại không còn đáp ứng nhu cầu thiết yếu;+ Người trực tiếp nuôi con gặp khó khăn về kinh tế ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền lợi của con; ....=>Việc có được điều chỉnh mức cấp dưỡng hay không sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và các tài liệu, chứng cứ chứng minh sự thay đổi về nhu cầu của con hoặc khả năng thực tế của người cấp dưỡng. 3. Cần chuẩn bị những tài liệu gì khi yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng? - Để yêu cầu Tòa xem xét, người yêu cầu nên chuẩn bị các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình chẳng hạn:+ Bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án;+ Giấy khai sinh của con;+ Tài liệu chứng minh liên quan đến chi phí học tập, khám chữa bệnh, sinh hoạt của con hoặc các tài liệu khác chứng minh hoàn cảnh thực tế đã thay đổi;+ Tài liệu chứng minh thu nhập hoặc sự thay đổi về điều kiện kinh tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;+ Tài liệu chứng minh liên quan đến chi phí học tập, khám chữa bệnh, sinh hoạt của con hoặc các tài liệu khác chứng minh hoàn cảnh thực tế đã thay đổi. 4. Kết luận - Mức cấp dưỡng sau ly hôn không phải là cố định. Khi có lý do chính đáng, chẳng hạn chi phí nuôi con tăng hoặc khả năng tài chính của cha, mẹ thay đổi, các bên có quyền thỏa thuận điều chỉnh mức cấp dưỡng. Nếu không thể thống nhất, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định mức cấp dưỡng phù hợp nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của con. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chị Ngân hỏi: Trước đây khi ly hôn, do tôi không có công việc ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Tòa án đã giao con gái cho chồng cũ trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay tôi đã có công việc ổn định, có điều kiện tốt hơn để chăm sóc, nuôi dưỡng con. Tôi muốn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao con cho tôi chăm sóc thì có được không? Ngoài ra, thời gian gần đây con gái thường xuyên nói nhớ mẹ và muốn được ở với tôi. Chồng cũ biết việc này nên đã hạn chế, thậm chí có lúc không cho tôi gặp và đón con. Tôi phải làm thế nào để bảo vệ quyền thăm nom, chăm sóc con của mình? Trả lời: 1. Có được thay đổi người trực tiếp nuôi con không? - Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc chủ thể có quyền yêu cầu theo quy định pháp luật KHI:+ Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; hoặc+ Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. - Và Theo Khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khi giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. => Vì vậy, nếu con gái của chị hiện nay đã từ đủ 7 tuổi trở lên thì việc cháu thường xuyên thể hiện mong muốn được ở với mẹ là yếu tố Tòa án có thể xem xét. Tuy nhiên, nguyện vọng của con không phải là yếu tố duy nhất quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tòa án vẫn phải đánh giá toàn diện điều kiện của cả cha và mẹ và đặt lợi ích của con lên hàng đầu. 2. Chồng cũ có quyền hạn chế việc chị thăm con không? Không. Bởi: - Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.  - Khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha, mẹ trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.  => Do đó, việc chồng cũ chỉ vì biết con gái nhớ mẹ mà tự ý ngăn cản chị gặp con, hạn chế việc thăm nom của chị là trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc trường hợp Tòa án có quyết định hạn chế quyền thăm nom. Mức xử phạt với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con (Điều 42 Nghị định 282/2025/NĐ-CP):+ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, trừ trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án.   Chồng cũ chị ngăn cản việc chị thăm nom con đồng thời con có nguyện vọng ở với mẹ và chị có điều kiện nuôi, dạy con tốt hơn thì đây là những điều kiện cần thiết để chị có thể được toà đồng ý yêu cầu thay đổi quyền nuôi con. Nên chị hãy làm đơn yêu cầu thay thổi quyền nuôi con đến toà án nhé. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trường hợp người vợ sinh con với người khác trong thời kỳ hôn nhân thì ai được xác định là cha của đứa trẻ trong giấy khai sinh? Người cha sinh học (người có quan hệ huyết thống) có được đứng tên trong giấy khai sinh hay người chồng vẫn được xác định là cha theo quy định pháp luật?Đây là tình huống có thể phát sinh nhiều vướng mắc trong việc xác định cha, mẹ, con, đặc biệt khi người cha sinh học khác với người chồng về mặt pháp lý. Dưới đây là những phân tích dựa trên các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Ly thân có làm chấm dứt quan hệ hôn nhân không? - Theo Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.”- Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.” => Như vậy, việc vợ chồng không còn chung sống, sống riêng hoặc ly thân KHÔNG LÀM chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chỉ khi có bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng mới chấm dứt. Do đó, nếu người vợ sinh con trong thời gian đang ly thân nhưng chưa có bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực, thì về mặt pháp lý vẫn được xác định là sinh con trong thời kỳ hôn nhân. 2. Sinh con với người khác trong thời kỳ ly thân, khi khai sinh thì có được khai tên cha ruột đứa trẻ không? Câu trả lời là CÓ THỂ.  - Theo Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.”=>Vì vậy, trường hợp người vợ đang ly thân nhưng chưa ly hôn mà sinh con với một người khác thì đứa con đó mặc định là con chung của vợ chồng hợp pháp. Do đó, khi khai sinh cơ quan hộ tịch sẽ không tự động cho phép đứng tên người cha khác. NHƯNG điều này không có nghĩa trong mọi trường hợp người chồng sẽ là cha sinh học (người có quan hệ huyết thống) của đứa trẻ.Vậy người cha sinh học của đứa trẻ sẽ được ghi tên trên giấy khai sinh của con mình khi nào? Pháp luật vẫn có cơ chế để giải quyết trường hợp người  là cha sinh học của đứa trẻ không phải là chồng khi có yêu cầu xác định mình là cha của đứa trẻ cụ thể: + Theo khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”+ Theo Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Người đang không được nhận là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.”+ Đồng thời, Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền nhận con của cha, mẹ “Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.” => Như vậy, trường hợp người chồng không thừa nhận con hay người khác có yêu cầu xác định quan hệ cha – con KHI có căn cứ pháp lý xác định người này là cha hay không phải là cha của đứa trẻ thì thông tin về người cha có thể được đăng ký, điều chỉnh trong giấy khai sinh khi có quyết định hoặc bản án của toà án. Kết luận: Vì vậy, nếu người mẹ sinh con với người khác trong thời kỳ ly thân, việc ghi nhận người cha sinh học trên giấy khai sinh PHẢI phát sinh thêm thủ tục khởi kiện/yêu cầu toà án công nhận quan hệ cha con và làm đăng ký nhận cha, con tại UBND có thẩm quyền. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Ký giấy cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”: Tòa án có công nhận không? Nhiều cặp đôi trước khi kết hôn lập giấy cam kết với nội dung: nếu một trong hai người ngoại tình, người có lỗi sẽ phải ra đi tay trắng, không được chia tài sản khi ly hôn. Không ít người cho rằng chỉ cần hai bên tự nguyện ký tên thì cam kết này đương nhiên có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, không phải cứ ký cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng” thì khi ly hôn, người ngoại tình sẽ mất toàn bộ tài sản. Việc cam kết có được công nhận hay không còn phụ thuộc vào nội dung, hình thức văn bản, thời điểm lập và các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng. 1. Cam kết trước hôn nhân có giá trị pháp lý không? - Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:  "Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn." => Như vậy, nếu hai bên lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, pháp luật Việt Nam công nhận việc vợ chồng thỏa thuận về chế độ tài sản trước hôn nhân, nhưng phải tuân thủ đúng hình thức và nội dung pháp luật quy định. Do đó, việc hai bên tự nguyện ký giấy không đồng nghĩa với việc mọi nội dung ghi trong giấy đều đương nhiên được Tòa án công nhận. Ví dụ: Trước khi đăng ký kết hôn, A và B chỉ viết một tờ giấy có nội dung “nếu ai ngoại tình thì người đó không được nhận bất kỳ tài sản nào khi ly hôn”, rồi cả hai ký tên. Nếu văn bản này được dùng như một thỏa thuận xác lập chế độ tài sản trước hôn nhân nhưng không được công chứng hoặc chứng thực theo Điều 47, thì không đáp ứng yêu cầu về hình thức của thỏa thuận này và văn bản này không có giá trị pháp lý. 2. Nếu có cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”, Tòa án có bắt buộc áp dụng không? - Nguyên tắc giải quyết tài sản  Khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau: "Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết." => Pháp luật quy định nếu vợ chồng áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được thực hiện theo thỏa thuận đó. Tuy nhiên, nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng các quy định pháp luật tương ứng để giải quyết.  - Các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vô hiệu. Khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: "a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan; b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này; c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình." => Vì vậy, nếu điều khoản “ra đi tay trắng” được ghi trong một văn bản không đáp ứng yêu cầu về hình thức, hoặc nội dung thuộc trường hợp bị vô hiệu theo Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì không thể chỉ dựa vào chữ ký của hai bên để yêu cầu Tòa án tước toàn bộ quyền tài sản của người ngoại tình. Tuy nhiên, cũng không nên kết luận rằng mọi thỏa thuận phân chia tài sản bất lợi cho người ngoại tình đều mặc nhiên vô hiệu. Tòa án cần xem xét cụ thể nội dung, hình thức và hiệu lực của thỏa thuận, cũng như các quy định pháp luật có liên quan. 3. Không có thỏa thuận tài sản hợp lệ thì người ngoại tình có được chia tài sản khi ly hôn không? - Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: "a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng." => Quy định này có nghĩa là hành vi ngoại tình có thể được xem xét như một yếu tố khi giải quyết việc chia tài sản, nếu có căn cứ xác định đó là lỗi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, pháp luật không quy định cứ ngoại tình thì người đó đương nhiên mất toàn bộ phần tài sản chung của mình. Ví dụ: A và B kết hôn, tạo lập được căn nhà là tài sản chung. Khi ly hôn, B có chứng cứ cho thấy A ngoại tình. Tòa án có thể xem xét lỗi của A cùng các yếu tố khác theo khoản 2 Điều 59 khi quyết định việc chia tài sản. Nhưng chỉ riêng việc A ngoại tình không đồng nghĩa với việc B đương nhiên được nhận toàn bộ căn nhà. Kết luận Cam kết trước hôn nhân với nội dung “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng” không tự động có hiệu lực chỉ vì hai bên đã ký tên. Muốn thỏa thuận về chế độ tài sản trước hôn nhân được công nhận, các bên phải tuân thủ yêu cầu về hình thức tại Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời bảo đảm nội dung không thuộc trường hợp bị vô hiệu theo Điều 50. Nếu không có thỏa thuận tài sản hợp lệ, việc chia tài sản khi ly hôn sẽ được giải quyết theo Điều 59 của Luật này. Hành vi ngoại tình có thể được xem xét khi chia tài sản, nhưng không đồng nghĩa với việc người có lỗi đương nhiên mất tất cả tài sản. Vì vậy, nếu muốn lập thỏa thuận tài sản trước hôn nhân, hai bên nên xác định rõ nguyên tắc phân chia khi ly hôn, đồng thời thực hiện đúng thủ tục pháp luật quy định thay vì chỉ lập một giấy cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng
 
hotline 0936 645 695