HỎI ĐÁP: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong thực tế, nhiều trường hợp cho mượn Chứng minh nhân dân hay căn cước công dân để thực hiện giao kết hợp đồng lao động, hậu quả phát sinh nhiều vấn đề pháp lý trong tương lai. Vậy việc mượn hoặc cho mượn Căn cước công dân để ký kết hợp đồng lao động có vi phạm quy định của pháp luật hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động 2019 quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động phải bảo đảm: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Đây là nguyên tắc nền tảng điều chỉnh toàn bộ quá trình xác lập quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động 2019 quy định người lao động có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và các thông tin khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động. Từ các quy định nêu trên có thể xác định rằng, việc sử dụng Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân của người khác để đứng tên giao kết hợp đồng lao động là hành vi cung cấp thông tin không trung thực trong quá trình xác lập quan hệ lao động. Đồng thời, hành vi cho mượn giấy tờ tùy thân để người khác tham gia quan hệ lao động cũng được xem là tiếp tay cho việc xác lập giao dịch lao động trái với nguyên tắc trung thực theo quy định của Bộ luật Lao động.   Ngoài ra, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động 2019 quy định hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Như vậy, trường hợp sử dụng giấy tờ tùy thân của người khác để ký kết hợp đồng lao động có căn cứ để xác định là vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động và hợp đồng lao động đã được ký kết có thể bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ. Trên thực tế, hậu quả pháp lý của hành vi này không chỉ dừng lại ở việc hợp đồng lao động bị vô hiệu mà còn kéo theo nhiều hệ lụy khác như: ·     Phát sinh tình trạng trùng thông tin tham gia bảo hiểm xã hội; ·     Sai lệch dữ liệu lao động, dữ liệu thuế thu nhập cá nhân; ·     Khó khăn trong việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, tai nạn lao động; ·     Phát sinh tranh chấp về tiền lương, quyền lợi lao động hoặc trách nhiệm bồi thường; ·     Nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hành vi sử dụng giấy tờ của người khác hoặc kê khai thông tin không đúng sự thật; ·     Trong một số trường hợp nghiêm trọng còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu hành vi nhằm mục đích gian dối để trục lợi hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật khác. Do đó, việc cho mượn hoặc sử dụng Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi không phù hợp với quy định pháp luật lao động hiện hành và tiềm ẩn nhiều hậu quả pháp lý nghiêm trọng mà các bên cần đặc biệt lưu ý. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được luật sư tư vấn. 
Trường hợp người vợ sinh con với người khác trong thời kỳ hôn nhân thì ai được xác định là cha của đứa trẻ trong giấy khai sinh? Người cha sinh học (người có quan hệ huyết thống) có được đứng tên trong giấy khai sinh hay người chồng vẫn được xác định là cha theo quy định pháp luật?Đây là tình huống có thể phát sinh nhiều vướng mắc trong việc xác định cha, mẹ, con, đặc biệt khi người cha sinh học khác với người chồng về mặt pháp lý. Dưới đây là những phân tích dựa trên các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Ly thân có làm chấm dứt quan hệ hôn nhân không? - Theo Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.”- Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.” => Như vậy, việc vợ chồng không còn chung sống, sống riêng hoặc ly thân KHÔNG LÀM chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chỉ khi có bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng mới chấm dứt. Do đó, nếu người vợ sinh con trong thời gian đang ly thân nhưng chưa có bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực, thì về mặt pháp lý vẫn được xác định là sinh con trong thời kỳ hôn nhân. 2. Sinh con với người khác trong thời kỳ ly thân, khi khai sinh thì có được khai tên cha ruột đứa trẻ không? Câu trả lời là CÓ THỂ.  - Theo Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.”=>Vì vậy, trường hợp người vợ đang ly thân nhưng chưa ly hôn mà sinh con với một người khác thì đứa con đó mặc định là con chung của vợ chồng hợp pháp. Do đó, khi khai sinh cơ quan hộ tịch sẽ không tự động cho phép đứng tên người cha khác. NHƯNG điều này không có nghĩa trong mọi trường hợp người chồng sẽ là cha sinh học (người có quan hệ huyết thống) của đứa trẻ.Vậy người cha sinh học của đứa trẻ sẽ được ghi tên trên giấy khai sinh của con mình khi nào? Pháp luật vẫn có cơ chế để giải quyết trường hợp người  là cha sinh học của đứa trẻ không phải là chồng khi có yêu cầu xác định mình là cha của đứa trẻ cụ thể: + Theo khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”+ Theo Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Người đang không được nhận là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.”+ Đồng thời, Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền nhận con của cha, mẹ “Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.” => Như vậy, trường hợp người chồng không thừa nhận con hay người khác có yêu cầu xác định quan hệ cha – con KHI có căn cứ pháp lý xác định người này là cha hay không phải là cha của đứa trẻ thì thông tin về người cha có thể được đăng ký, điều chỉnh trong giấy khai sinh khi có quyết định hoặc bản án của toà án. Kết luận: Vì vậy, nếu người mẹ sinh con với người khác trong thời kỳ ly thân, việc ghi nhận người cha sinh học trên giấy khai sinh PHẢI phát sinh thêm thủ tục khởi kiện/yêu cầu toà án công nhận quan hệ cha con và làm đăng ký nhận cha, con tại UBND có thẩm quyền. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695