Trao vàng cho cô dâu trong lễ đính hôn nhưng hai bên hủy hôn: Có đòi lại vàng đã trao được không?

Trao vàng cho cô dâu trong lễ đính hôn nhưng hai bên hủy hôn: Có đòi lại vàng đã trao được không?

Trong lễ đính hôn, việc gia đình nhà trai trao vàng, nhẫn hoặc các món nữ trang cho cô dâu là phong tục phổ biến tại Việt Nam. Những món quà này thường mang ý nghĩa chúc phúc, thể hiện sự trân trọng và mong muốn tiến tới hôn nhân giữa hai bên gia đình. Tuy nhiên, nếu sau lễ đính hôn, hai bên quyết định không tổ chức đám cưới hoặc chấm dứt việc tiến tới hôn nhân, một vấn đề thường phát sinh là: Nhà trai có quyền yêu cầu cô dâu trả lại số vàng đã trao hay không?

1. Bản chất việc trao vàng trong lễ đính hôn?

- Trao tặng vàng nhằm mục đích chúc phúc, là tặng cho không có điều kiện.

+ Căn cứ Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tặng cho tài sản được xác định như sau:

“Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.”

+ Đồng thời, khoản 1 Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định

"1. Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

=> Nữ trang trao tại lễ đính hôn là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm giao nhận tài sản theo Điều 458 Bộ luật Dân sự. Việc tặng cho tại lễ hỏi nhằm mục đích chúc phúc không đồng nghĩa là tặng cho có điều kiện bắt buộc phải kết hôn theo Điều 462 BLDS vì các bên không có thỏa thuận cụ thể về nghĩa vụ hoàn trả nếu hủy hôn. Do đó, việc hai bên không tiến tới kết hôn không phải là căn cứ để đòi lại tài sản.

- Trao tặng vàng nhưng có điều kiện.

+ Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tặng cho tài sản có điều kiện:

"1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

.....

3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại."

=> Từ quy định này, có thể xem xét quyền đòi lại vàng trong một số trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: Hai bên có thỏa thuận rõ ràng về điều kiện trao vàng.
Chẳng hạn, khi trao vàng, gia đình nhà trai nói rõ đây là nữ trang trao cho cô dâu để chuẩn bị cho việc kết hôn, nếu hôn lễ không diễn ra thì phải hoàn trả. Nếu thỏa thuận này được xác lập hợp pháp và có đủ căn cứ chứng minh, nhà trai có thể viện dẫn quy định về tặng cho có điều kiện để yêu cầu hoàn trả.

Trường hợp thứ hai: Hai bên đã thỏa thuận hoàn trả sau khi hủy hôn.
Nếu sau khi quyết định không tổ chức đám cưới, hai gia đình thống nhất cô dâu phải trả lại vàng hoặc trả một khoản tiền tương ứng nhưng sau đó không thực hiện, thỏa thuận này có thể là căn cứ để bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ. Khi phát sinh tranh chấp, nội dung và hiệu lực của thỏa thuận cần được xem xét dựa trên chứng cứ cụ thể.

Trường hợp thứ ba: Vàng không phải là tài sản được tặng cho vô điều kiện.
Nếu vàng chỉ được giao để giữ hộ, sử dụng tạm thời hoặc giao cho cô dâu thay mặt gia đình quản lý, thì việc hoàn trả cần được xem xét theo bản chất của quan hệ pháp lý đó, chứ không mặc nhiên áp dụng quy định về quà tặng.

=> Khi đó, nhà trai có cơ sở yêu cầu trả lại vàng khi chứng minh được căn cứ pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả. Ngược lại, nếu vàng đã được tặng cho hoàn tất và không có điều kiện hoàn trả hợp pháp, việc hủy hôn không tự động tạo ra quyền đòi lại tài sản.

2. Nếu nhà trai tự ý hủy hôn hoặc nhà gái là bên hủy hôn thì có ảnh hưởng đến quyền đòi vàng không?

Việc bên nào chủ động hủy hôn không phải là căn cứ duy nhất để xác định nghĩa vụ trả lại vàng. Pháp luật không quy định chung rằng bên hủy hôn phải hoàn trả toàn bộ sính lễ hoặc bên không có lỗi đương nhiên được giữ toàn bộ số vàng đã trao.

Nếu vàng đã được tặng cho vô điều kiện và quyền sở hữu đã chuyển sang người nhận, việc một bên đơn phương chấm dứt kế hoạch kết hôn không đương nhiên làm mất hiệu lực của việc tặng cho trước đó. Ngược lại, nếu có thỏa thuận hợp pháp về điều kiện hoàn trả khi hủy hôn, việc xác định nghĩa vụ phải căn cứ vào nội dung thỏa thuận và chứng cứ chứng minh.

=> Dù nhà trai hay nhà gái là bên chủ động hủy hôn, quyền đòi lại vàng vẫn phải được xác định dựa trên bản chất của việc trao vàng, thỏa thuận giữa các bên và căn cứ pháp luật tương ứng, không thể chỉ dựa vào lỗi của một bên.

3. Nếu cô dâu không trả vàng, nhà trai có thể khởi kiện ra Tòa án không?

Nếu đã thương lượng nhưng không đạt được thỏa thuận, bên cho rằng mình có quyền nhận lại vàng có thể cân nhắc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp dân sự.

Theo Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật." 

=> Nhà trai có thể khởi kiện nếu cho rằng mình có căn cứ pháp luật để đòi lại vàng. Khi yêu cầu Tòa án giải quyết, bên khởi kiện cần trình bày rõ căn cứ đòi lại tài sản và cung cấp những chứng cứ mình có. Các tài liệu có thể hữu ích bao gồm:

- Hình ảnh, video ghi nhận việc trao vàng trong lễ đính hôn.
- Tin nhắn, ghi âm hợp pháp hoặc tài liệu thể hiện thỏa thuận về điều kiện trao vàng và nghĩa vụ hoàn trả.
- Lời khai của những người trực tiếp tham gia, chứng kiến việc trao vàng.
- Hóa đơn mua vàng, giấy giao nhận hoặc tài liệu chứng minh số lượng, loại vàng và người giao, người nhận.
- Tin nhắn hoặc văn bản thể hiện việc hai bên thống nhất trả lại vàng sau khi hủy hôn, nếu có.

Kết luận

Trao nữ trang cho cô dâu trong lễ đính hôn nhưng sau đó hai bên hủy hôn không đồng nghĩa với việc nhà trai đương nhiên được đòi lại vàng. Nếu vàng đã được tặng cho vô điều kiện và việc tặng cho đã hoàn thành, nhà trai thường không thể chỉ dựa vào lý do hủy hôn để yêu cầu hoàn trả.

Ngược lại, nếu có thỏa thuận hợp pháp về điều kiện tặng cho và nghĩa vụ hoàn trả, hoặc có căn cứ pháp lý khác chứng minh người nhận phải trả lại tài sản, nhà trai có thể yêu cầu hoàn trả và đề nghị Tòa án giải quyết nếu phát sinh tranh chấp.

Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp, điều quan trọng nhất không chỉ là xác định ai là người hủy hôn mà còn phải làm rõ: Vàng được trao để tặng riêng cô dâu hay cho mục đích khác? Hai bên có thỏa thuận về điều kiện hoàn trả hay không? Có chứng cứ nào chứng minh thỏa thuận đó? Đây mới là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định quyền đòi lại vàng đã trao trong lễ đính hôn.

⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.

Thân gửi Quý khách hàng

Công ty Luật Phương Bình, về bản chất cũng giống như một công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, vậy nên văn hóa doanh nghiệp có những đặc thù, đặc điểm của nó.

I. Thương hiệu và logo

1. Luật Phương Bình - Luật sư Việt Nam, với mong muốn mà trí tuệ, tinh thần người Việt Nam, hiểu pháp luật, tập quán người Việt Nam.

2. Slogan:

"Luật sư của bạn" một từ đơn giản, gần gũi giản dị, luôn sát cánh, bên cạnh khách hàng, bảo vệ khách hàng, mang đến cho khách hàng sự hài lòng, an tâm và hạnh phúc.

"Luật sư của bạn" còn mang hàm ý rất lớn rằng chúng tôi luôn sẵn sàng phục vụ, đồng hành cùng thân chủ, khách hàng với sự tận tâm, chân thành của mình.

II. Giá trị cốt lõi

1. Chia sẻ

- Chia sẻ nội bộ: Chia sẻ kiến thức, chia sẻ cơ hội cùng nhau hợp tác với các luật sự, các cộng sự, các tổ chức, công ty luật trên toàn quốc.

- Chia sẻ với khách hàng: Chúng tôi luôn đứng trên quan điểm của luật pháp và quan điểm, mong muốn, nguyện vọng của khách hàng thể triển khai các công việc, phục vụ khách hàng.

- Chia sẻ với công đồng: Chúng tôi luôn cho rằng việc công đồng cùng hiểu biết pháp luật sẽ giúp cả công cộng đồng, cả đất nước hiểu biết pháp luật, từ đó tình trạng vi phạm pháp luật cúng thể mà giảm đi. Nên trách nhiệm chia sẻ kiến thức, công sức đến công đồng là việc rất quan trọng.

2. Tận tâm

Tận tâm với công việc, tân tâm với khách hàng, làm việc với "tâm đức" của luật sư bảo vệ chính nghĩa, lẽ phải, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tối đa.

3. Trách nhiệm

Khi có một kết quả không tốt, có lẽ ai cũng tìm cách để đùn đẩy trách nhiệm để nói rằng "lỗi đó không thuộc về tôi", nhưng ở Vietlawyer thì khác chúng tôi luôn thẳng thắn nhìn vào trách nhiệm của từng cá nhân, 

4. Không vi pháp luật

Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn luật, việc đầu tiên mà chúng tôi có thể làm tốt là không bản thân doanh nghiệp của mình, các thành viên của mình cần làm đúng theo quy định của pháp luật.

Từ đó mới có thể tư vấn, định hướng, cùng khách hàng triển khai các vụ việc, dự án, vụ án đúng theo quy định pháp luật, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của khách hàng.

Với những định hướng văn hóa rõ ràng, chúng tôi luôn nỗ lực để bản thân tốt lên mỗi ngày, từ đó hướng đến những thành công cùng khách hàng.

Vậy nên một lần nữa chúng tôi luôn mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của khách hàng.

Trân trọng.

Công ty Luật Phương Bình xin được gửi lời chào trân trọng và lời cảm ơn chân thành đến Quý khách hàng, Quý thân chủ, đã ủng hộ, giúp đỡ và tin tưởng chúng tôi trong những năm qua.

Được thành lập ngày 28 tháng 6 năm 2021, với đội ngũ Luật sư đông đảo, có thâm niên công tác trong ngành đều trên 10 năm, giàu kinh nghiệm.

Bên cạnh đó Công ty Luật Phương Bình còn có đội ngũ cố vấn là các Tiến sĩ, thạc sĩ là giảng viên, giám đốc pháp chế, công an (nghỉ hưu) lâu năm, dày dặn kinh nghiệm thực tiễn.

Ngoài ra với đội ngũ Luật sư tập sự, cử nhân luật, chuyên viên pháp lý trẻ, năng động, tài năng, nhiệt tình, được đào tạo bài bản từ các trường đại học uy tín hàng đầu của Việt Nam.

Chúng tôi, đã chiếm trọn niềm tin của khách hàng và chưa để khách hàng thất vọng trong những năm qua.

Tại Phương Bình, Chúng tôi cung cấp đầy đủ các dịch vụ: Thủ tục hành chính, tư vấn, tranh tụng, trong các lĩnh vực:

- Tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp theo vụ việc và thường xuyên;

- Tư vấn, tham gia bào chữa trong các giai đoạn tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ trong các vụ án hình sự;

- Tư vấn, đại diện theo uỷ quyền, cử luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng trong các vụ việc/vụ án tranh chấp dân sự;

- Tư vấn định hướng luật lao động cho doanh nghiệp và người lao động;

- Tư vấn, đại diện theo quỷ quyền để làm việc với các cơ quan quản lý nhà nước, cử luật sư bảo về quyền và lợi ích hợp pháp tại tòa án liên quan đến tranh chấp đất đai;

- Tư vấn, đại diện cho thân chủ trong các vụ án, vụ việc ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương, ly hôn có yếu tố nước ngoài;

- Và các vụ án, vụ việc về kinh doanh thương mại, hành chính, sở hữu trí tuệ...


Dù là vụ án, vụ việc nào với tâm đức của mình, chúng tôi luôn nỗ lực hoàn thành tốt công việc trách nhiệm của mình, để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng (thân chủ).

Với thế mạnh của mình, chúng tôi sẽ không ngừng phát triển để thu hút nhân tài, mở rộng thị trường, nghiên cứu chuyên sâu những nghiệp vụ pháp luật, nghiệp vụ tố tụng, kỹ năng giải quyết vụ việc... để hoàn thành tốt hơn, chăm sóc tốt hơn khách hàng của mình.

Và luôn hy vọng, sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ, tin tưởng của khách hàng.

Trân trọng.


Banner bài biết

BẠN ĐANG QUAN TÂM

1. Trường hợp phải bồi thường Căn cứ theo điều 604 Bộ Luật Dân sự 2015 bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra: “chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.” Như vậy trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người được giao quản lý cây cối. Trường hợp tài sản gây thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu chiếm giữ tài sản có nghĩa vụ phải chịu bồi thường căn cứ theo khoản 3 điều 584 của Bộ Luật Dân sự 2015 quy định “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh” 2. Các trường hợp không phải bồi thường Và có một số trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu không phải bồi thường căn cứ vào khoản 3 điều 584 Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định như khi có một sự kiện bất khả kháng như thiên tai, bão lũ lớn nằm ngoài tầm kiểm soát mà chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu không thể lường trước được và đã khắc phục mọi biện pháp như cắt tỉa chống đỡ cần thiết trước đó.Lưu ý nếu cây đã mục rỗng có nguy cơ gãy đổ từ lâu mà chủ sở hữu bỏ mặc không xử lý thì vẫn phải bồi thường chứ không được tính là sự kiện bất khả khángTrường hợp tiếp theo mà chủ sở hữu người chiếm hữu không phải bồi thường là hoàn toàn do lỗi bên người bị thiệt hại thì chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu cây sẽ được miễn hoàn toàn trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp chỉ có phần lỗi của chủ cây và phần lỗi người bị hại thì chỉ cần bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Ví dụ hàng xóm cố tình trèo lên cành cây nhà mình để đục đẽo hoặc kéo vật mà không thông báo thỏa thuận gì và cành cây bị gãy làm hỏng mái tôn nhà hàng xóm. Thì trong trường hợp này chủ cây không phải bồi thường cho hàng xóm. 3.    Phạm vi thiệt hại được bồi thường Căn cứ điều 585 luật dân sự 2015 thì thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời căn cứ điều 589 bộ luật dân sự 2015 gồm:-    Giá trị tài sản bị hư hỏng, hỏng học hoặc bị hủy hoại-    Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại -    Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất hoặc giảm sút. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ chung cư, người mua có quyền yêu cầu bồi thường không? Việc mua căn hộ chung cư hình thành trong tương lai thường gắn liền với kế hoạch tài chính, chỗ ở và sinh hoạt của người mua. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ so với thời hạn đã cam kết trong hợp đồng, khiến người mua phải tiếp tục thuê nhà, phát sinh chi phí sinh hoạt hoặc gặp khó khăn trong việc ổn định cuộc sống. Vậy khi chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ chung cư, người mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại hay không, và cần căn cứ vào những quy định pháp luật nào để bảo vệ quyền lợi của mình? 1. Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ có phải là hành vi vi phạm hợp đồng không? - Bàn giao căn hộ đúng thời hạn là nghĩa vụ của chủ đầu tư. + Căn cứ theo điểm đ khoản 2 Điều 23 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định nghĩa vụ của bên bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng hình thành trong tương lai được “thực hiện theo quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, h, i, k, l, m, n, o, p, q khoản 1 và khoản 2 Điều 19 của Luật này;”.  + Mà căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 19 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định: “Giao nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng cho bên mua, thuê, thuê mua theo đúng thời hạn, chất lượng và điều kiện khác đã thỏa thuận trong hợp đồng;” => Các quy định trên đã cho thấy việc bàn giao căn hộ đúng thời hạn là nghĩa vụ của chủ đầu tư, bên bán công trình xây dựng hình thành trong tương lai. - Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ là hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hay vi phạm hợp đồng và phải chịu trách nhiệm. + Căn cứ theo khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ như sau: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.” =>Quy định này là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm của chủ đầu tư khi không bàn giao căn hộ đúng thời hạn đã cam kết. Nếu hợp đồng xác định rõ ngày bàn giao mà chủ đầu tư không thực hiện đúng, người mua có quyền yêu cầu chủ đầu tư giải thích nguyên nhân, thực hiện nghĩa vụ bàn giao và chịu trách nhiệm theo thỏa thuận trong hợp đồng cũng như quy định pháp luật. Kết luận: Như vậy về nguyên tắc, thời hạn bàn giao căn hộ là một trong những nội dung quan trọng mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư. Khi đã đến thời hạn bàn giao nhưng chủ đầu tư không thực hiện nghĩa vụ mà không có căn cứ miễn trách nhiệm theo pháp luật hoặc hợp đồng, hành vi này có thể bị xác định là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm còn phụ thuộc vào nguyên nhân chậm bàn giao, điều khoản hợp đồng, căn cứ miễn trách nhiệm (nếu có) và các quy định pháp luật áp dụng đối với giao dịch cụ thể. 2. Người mua có quyền yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại không? - Người mua có quyền yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng. + Trước hết, khoản 2 Điều 46 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định các nội dung chính của hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, trong đó có:  “e) Thời hạn giao, nhận bất động sản và hồ sơ kèm theo; …. i) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; k) Phạt vi phạm hợp đồng;” => Đây là cơ sở để các bên xác định trách nhiệm khi chủ đầu tư không bàn giao căn hộ đúng thời hạn và cơ chế phạt vi phạm hợp đồng nếu đáp ứng điều kiện, thoả thuận hợp đồng và pháp luật. - Người mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại + Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm nghĩa vụ như sau: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.” + Đồng thời, khoản 2 Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:  “Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại”. => Từ những quy định trên, nếu việc chậm bàn giao căn hộ khiến người mua phải tiếp tục thuê nhà, phát sinh chi phí lưu trú hoặc chịu những tổn thất tài chính khác có thể chứng minh được, người mua có thể yêu cầu chủ đầu tư bồi thường theo căn cứ pháp luật và hợp đồng. Các tài liệu như hợp đồng thuê nhà, chứng từ thanh toán, thông báo bàn giao và văn bản trao đổi với chủ đầu tư sẽ giúp chứng minh yêu cầu. Lưu ý: Phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại là hai khoản khác nhau. Theo Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc áp dụng phạt vi phạm căn cứ vào thỏa thuận của các bên, trừ trường hợp luật có quy định khác; việc đồng thời yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cũng cần xem xét nội dung thỏa thuận và quy định pháp luật tương ứng. 3. Người mua cần làm gì khi chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ? - Khi phát sinh tình trạng chậm bàn giao, người mua nên chủ động thực hiện các bước cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, thay vì chỉ trao đổi bằng lời nói hoặc chờ chủ đầu tư thông báo thời điểm bàn giao mới. 1. Người mua cần rà soát hợp đồng mua bán căn hộ, đặc biệt là thời hạn bàn giao, thời gian gia hạn (nếu có), điều khoản phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các trường hợp miễn trách nhiệm. Đồng thời, cần lưu giữ chứng từ thanh toán, thông báo tiến độ dự án, văn bản giải thích việc chậm bàn giao và các tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế. 2. Người mua nên gửi văn bản yêu cầu chủ đầu tư giải trình nguyên nhân chậm bàn giao, xác định thời điểm bàn giao cụ thể và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng. Trong văn bản, người mua có thể yêu cầu thanh toán tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc đề xuất phương án xử lý hợp đồng phù hợp với thỏa thuận và pháp luật. Trường hợp chủ đầu tư không giải quyết hoặc các bên không thống nhất được phương án xử lý, người mua có thể cân nhắc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, thanh toán khoản tiền còn nợ hoặc bồi thường thiệt hại nếu có đủ căn cứ. Việc đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng cần được xem xét thận trọng theo điều kiện luật định và thỏa thuận giữa các bên, tránh tự ý ngừng thực hiện nghĩa vụ khi chưa có căn cứ phù hợp. Kết luận Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ chung cư không chỉ ảnh hưởng đến kế hoạch sinh hoạt, chỗ ở mà còn có thể gây thiệt hại về tài chính cho người mua. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023, người mua có cơ sở yêu cầu chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ bàn giao, phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại khi đáp ứng các điều kiện tương ứng. Tuy nhiên, quyền yêu cầu và mức tiền được chấp nhận còn phụ thuộc vào nội dung hợp đồng, nguyên nhân chậm bàn giao, căn cứ miễn trách nhiệm và chứng cứ về thiệt hại. Vì vậy, người mua cần kiểm tra kỹ hợp đồng, lưu giữ hồ sơ và thực hiện yêu cầu bằng văn bản để bảo vệ quyền lợi của mình theo đúng quy định pháp luật hiện hành. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.   
Mới đây thì xảy ra vụ mâu thuẫn giữa chủ nhà và người nhận phá dỡ công trình tại phường Tương Mai, Hà Nội được chia sẻ trên mạng xã hội và thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận.  Vụ việc xuất phát từ những bất đồng trong quá trình thực hiện phá dỡ công trình. Vậy thì việc chủ nhà cho rằng KHÔNG có hợp đồng nên KHÔNG phải trả tiền là đúng hay sai? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Ảnh: Báo mới  1. Hợp đồng không nhất thiết phải lập thành văn bản Theo Điều 116 BLDS 2015 quy định:+ Giao dịch dân sự là hợp đồng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định + Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. => Như vậy, nếu chủ nhà và người nhận phá dỡ đã thỏa thuận bằng lời nói, tin nhắn hoặc thể hiện sự thống nhất thông qua hành vi thực tế thì thỏa thuận này vẫn được pháp luật công nhận, mặc dù hai bên không ký kết hợp đồng bằng văn bản. => Do đó, việc chủ nhà cho rằng “không có hợp đồng nên không phải trả tiền” là không đúng Theo Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, còn bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ.=>Do đó, nếu có căn cứ chứng minh chủ nhà đã thuê người phá dỡ công trình và hai bên có thỏa thuận về tiền công thì không thể chỉ dựa vào việc không có “hợp đồng giấy” để phủ nhận nghĩa vụ thanh toán. 2. Nếu đã thực hiện công việc thì nghĩa vụ trả tiền được xác định thế nào? - Theo Điều 515 Bộ luật Dân sự 2015, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ: “Trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận.” - Đồng thời, Điều 519 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả tiền dịch vụ. Theo đó, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận về mức tiền thì tiền dịch vụ được xác định theo giá thị trường hoặc phương thức mà pháp luật quy định. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Thời gian gần đây, các vụ việc gạch, đá, sắt thép từ các công trình xây dựng hoặc tháo dỡ nhà cửa rơi trúng người đi đường vẫn liên tiếp xảy ra, gây thương tích nghiêm trọng, thậm chí mất đi tính mạng. Phía sau mỗi tai nạn đó là câu hỏi pháp lý cấp bách: Khi sự cố xảy ra, ai là người phải gánh chịu trách nhiệm và bồi thường? 1. Về trách nhiệm bồi thường dân sự - Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp luật có quy định khác.+ Trước hết cần xác định ai trực tiếp gây ra việc tấm bê tông rơi xuống người đi đường và nguyên nhân vì sao xảy ra sự cố. Nếu người công nhân thực hiện không đúng quy trình, thiếu biện pháp bảo đảm an toàn dẫn đến tấm bê tông rơi xuống đường thì người trực tiếp thực hiện hành vi có thể phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do mình gây ra. 2. Nếu công nhân là người làm thuê cho đơn vị phá dỡ thì sao? - Theo Điều 597 và Điều 600 BLDS 2015 quy định:+ “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao..." + Sau khi bồi thường, pháp nhân CÓ QUYỀN yêu cầu người có lỗi hoàn trả một khoản tiền theo quy định. => Vì vậy, nếu công nhân là người được đơn vị phá dỡ thuê và đang thực hiện công việc theo sự phân công của đơn vị, trách nhiệm bồi thường về nguyên tắc có thể đặt ra đối với đơn vị sử dụng người lao động/người làm công. Sau đó, đơn vị có thể xem xét trách nhiệm của người trực tiếp gây ra thiệt hại theo quy định pháp luật. 3. Chủ công trình có phải chịu trách nhiệm không? + Nếu chủ nhà chỉ thuê một đơn vị độc lập thực hiện việc phá dỡ và đơn vị này trực tiếp tổ chức, quản lý công việc => trách nhiệm có thể thuộc về đơn vị phá dỡ nếu lỗi phát sinh từ quá trình tổ chức thi công. + Nếu chủ công trình trực tiếp tổ chức việc phá dỡ, chỉ đạo công nhân hoặc có lỗi trong việc bảo đảm an toàn => trách nhiệm có thể thuộc về chủ công trình nếu lỗi phát sinh từ quá trình tổ chức thi công. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Có thể. Sau khi đã khởi kiện, nguyên đơn vẫn có thể sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, nhưng việc bổ sung phải nằm trong giới hạn pháp luật tố tụng cho phép. 1. Có được bổ sung yêu cầu khởi kiện không? Căn cứ Khoản 4 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định về quyền của đương sự như sau:“4. Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này.”Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Các đương sự có quyền bảo lưu toàn bộ nội dung yêu cầu ban đầu đã nộp cho Tòa án. Hoặc đương sự có quyền sửa đổi, điều chình một phần hoặc toàn bộ nội dung yêu cầu. Ngoài ra có quyền bổ sung thêm quyền và nghĩa vụ mới bên cạnh các yêu cầu đã có trước đó. Đương sự có quyền từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu đã đưa ra, làm chấm dứt việc Tòa án xem xét đối với phần yêu cầu bị rút. 2. Thế nào là “không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu”? Phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu không đo lường bằng con số, mà được xác định dựa trên Quan hệ pháp luật (QHPL) tranh chấp được đưa ra giải quyết.Theo quy định của BLTTDS, tại khoản 1 Điều 188 BLTTDS quy định về phạm vi khởi kiện: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều  cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.” BLTTDS 2015 tại khoản 1 Điều 244 quy định: “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi  yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu.”Trường hợp 1: Không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu.•    Cùng QHPL nhưng điều chỉnh về định lượng. VD: Tranh chấp đòi lại đất lấn chiếm (QHPL: Bồi thường/Đòi lại tài sản). Việc điều chỉnh từ 30m² lên 35m² sau khi đo đạc thực tế vẫn thuộc cùng một QHPL đòi lại diện tích đất bị lấn chiếm đó.•    Bổ sung yêu cầu phát sinh từ cùng QHPL hoặc QHPL liên quan. VD: Tranh chấp hợp đồng vay (QHPL: Vay tài sản). Việc bổ sung yêu cầu trả lãi chậm trả là nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ QHPL vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.Trường hợp 2: vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu.Đưa ra một QHPL hoàn toàn mới, không liên quan đến QHPL đã khởi kiện ban đầu. VD: Ban đầu nguyên đơn khởi kiện đòi B trả nợ tiền vay (QHPL hợp đồng vay). Quá trình giải quyết, nguyên đơn bổ sung thêm yêu cầu B phải chia thừa kế một mảnh đất khác không liên quan đến khoản tiền vay. Đây là hai QHPL độc lập, việc bổ sung này bị xem là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Trường hợp này sẽ không được HĐXX giải quyết vì không thể thu thập xác minh thêm chứng cứ. Nhưng đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác để yêu cầu giải quyết quan hệ pháp luật đó Tóm lại, Vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu phải được hiểu là vượt quá phạm vi Quan hệ pháp luật tranh chấp ban đầu, chứ không phải vượt quá về mặt con số, diện tích hay số tiền. 3. Thời điểm bổ sung? Tại khoản 7 Mục IV Văn bản 01/2017/GĐ-TANDTC– Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.– Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tế, có trường hợp người vay không còn tiền hoặc không có tài sản để thanh toán khoản nợ. Từ đó, nhiều người cho rằng “con nợ không có tài sản thì cũng không đòi được, khoản nợ coi như mất”. Tuy nhiên, không có khả năng thanh toán tại một thời điểm không đồng nghĩa với việc nghĩa vụ trả nợ tự động chấm dứt. 1. Không có tài sản không làm mất nghĩa vụ trả nợ - Theo Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.”=>Người vay đến hạn nhưng không có tiền hoặc tài sản để thanh toán thì nghĩa vụ trả nợ vẫn còn. - Ngoài khoản tiền gốc, người vay còn có thể phải chịu lãi, lãi quá hạn hoặc khoản bồi thường nếu có căn cứ theo thỏa thuận và quy định pháp luật. 2. Không có tài sản hiện tại không đồng nghĩa với không thể thi hành án - Nếu chủ nợ khởi kiện => có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật => người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong bản án. - Tại thời điểm thi hành án, người phải thi hành án CHƯA CÓ tài sản hoặc thu nhập để thi hành => cơ quan thi hành án dân sự xác minh điều kiện thi hành án => Sau này phát sinh tài sản, thu nhập hoặc CÓ điều kiện thi hành án => Việc thi hành án được tiếp tục theo quy định pháp luật. 3. Khi nào nghĩa vụ trả nợ mới chấm dứt? - Theo Điều 372 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ có thể chấm dứt trong các trường hợp như:+ Nghĩa vụ được hoàn thành;+ Theo thỏa thuận của các bên;+ Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;+ Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác;+ Nghĩa vụ được bù trừ;+ Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một;+ Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết;+ Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;+ Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác;+ Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác;+ Trường hợp khác do luật quy định. Như vậy, việc người vay không có tài sản để trả nợ chỉ phản ánh tình trạng tài chính tại thời điểm đó, không phải căn cứ để khoản nợ tự động mất đi. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Khi khởi kiện một vụ án dân sự, không phải lúc nào Tòa án cũng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Có trường hợp nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 500 triệu đồng nhưng Tòa án chỉ chấp nhận 300 triệu đồng. Khi đó, có thể nói nguyên đơn "thắng" một phần và "thua" một phần. Vậy án phí trong trường hợp này do ai chịu? Bên nào thua nhiều hơn có phải chịu toàn bộ án phí hay không?  1. Có phải cứ thua kiện thì phải chịu toàn bộ án phí?  - Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: " Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm".  - Quy định này được cụ thể tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Nếu toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận thì Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm Nếu toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận thì Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí  Nếu Tòa án chỉ chấp nhận một phần yêu cầu thì Nguyên đơn và Bị đơn đều có thể phải chịu án phí đối với những phần tương ứng. --> Như vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc ai được coi là "thắng kiện" hoặc "thua kiện" để xác định án phí. Phải xem cụ thể Tòa án chấp nhận bao nhiêu trong tổng số yêu cầu của mỗi bên.  2. Nếu nguyên đơn thắng một phần và thua một phần thì án phí được chia như thế nào?  - Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định: " Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận".  Ví dụ: Anh A khởi kiện yêu cầu anh B trả 500 triệu đồng. Sau khi xét xử, Tòa án xác định anh B chỉ có nghĩa vụ trả cho anh A 300 triệu đồng, còn yêu cầu đối với 200 triệu đồng còn lại không có căn cứ nên không được chấp nhận  Khi đó, xác định:  Phần 300 triệu đồng được Tòa án chấp nhận: anh B phải chịu án phí tương ứng  Phần 200 triệu đồng không được Tòa án chấp nhận: anh A phải chịu án phí tương ứng.  --> Như vậy, trong cùng một vụ án, cả Nguyên đơn và Bị đơn đều có thể phải chịu án phí,  tương ứng đối với những phần tài sản mà mình yêu cầu toà giải quyết nhưng không được chấp nhận. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695