TRẢ LỜI: LUẬT DOANH NGHIỆP

Khi nào công ty TNHH một thành viên nên chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên hay công ty cổ phần? Việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tổ chức, hoạt động quản lý và định hướng phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, công ty TNHH một thành viên có thể phát sinh nhu cầu huy động thêm vốn hoặc thay đổi cơ cấu thành viên, từ đó đặt ra vấn đề chuyển đổi sang công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần. Vậy doanh nghiệp nên lựa chọn mô hình nào? 1. Chuyển thành công ty TNHH 2 thành viên trở lên Huy động thêm vốn góp từ người khácTheo khoản 2 Điều 87 Luật Doanh nghiệp, công ty TNHH một thành viên có thể tăng vốn điều lệ bằng cách chủ sở hữu góp thêm vốn. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp muốn huy động thêm vốn góp từ người khác để mở rộng hoạt động thì không thể tiếp tục duy trì mô hình công ty TNHH một thành viên.Cụ thể, khi tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của cá nhân, tổ chức khác, công ty phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần.Như vậy, nếu chủ sở hữu muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp bằng cách tiếp nhận thêm vốn từ người khác, doanh nghiệp cần lựa chọn một trong hai mô hình trên và thực hiện thủ tục chuyển đổi tương ứng.Thay đổi cơ cấu sở hữu thông qua chuyển nhượng, tặng cho hoặc kết nạp thành viênTheo khoản 1 điều 78 của Luật Doanh nghiệp trường hợp chủ sở hữu công ty chuyển nhượng, tặng cho một phần vốn điều lệ cho một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân khác hoặc công ty kết nạp thêm thành viên mới thì công ty phải tổ chức quản lý theo loại hình doanh nghiệp tương ứng thì doanh nghiệp không còn đáp ứng điều kiện của mô hình công ty TNHH một thành viên.Khi đó, công ty phải chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp tương ứng với số lượng và cơ cấu thành viên mới. Cụ thể, nếu sau khi chuyển nhượng, tặng cho hoặc kết nạp thành viên mới, công ty có từ 02 thành viên trở lên thì có thể chuyển đổi sang công ty TNHH hai thành viên trở lên.Thay đổi chủ sở hữu do thừa kế, giải thể hoặc phá sản của chủ sở hữu ban đầuTheo khoản 2, 3 Điều 78 Luật Doanh nghiệp, trong trường hợp chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên là cá nhân chết, phần vốn góp sẽ được xử lý theo quy định về thừa kế. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu hoặc thành viên của công ty. Nếu có nhiều người cùng nhận thừa kế và trở thành thành viên, công ty phải chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp phù hợp và thực hiện đăng ký thay đổi theo quy định.Trường hợp chủ sở hữu là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản, người nhận chuyển nhượng phần vốn góp của tổ chức đó sẽ trở thành chủ sở hữu mới hoặc thành viên công ty. Nếu việc chuyển nhượng làm phát sinh từ hai thành viên trở lên, công ty phải chuyển đổi sang loại hình phù hợp, đồng thời thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi theo quy định pháp luật. 2. Chuyển thành công ty cổ phần Theo khoản 2 điều 202 của Luật Doanh nghiệp 2. Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần theo phương thức sau đây:a) Chuyển đổi thành công ty cổ phần mà không huy động thêm tổ chức, cá nhân khác cùng góp vốn, không bán phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khácKhông huy động thêm vốn b) Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân khác góp vốn;c) Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho một hoặc một số tổ chức, cá nhân khácNhìn chung, công ty TNHH một thành viên có thể chuyển đổi sang công ty cổ phần theo ba phương thức: chuyển đổi mà không huy động thêm vốn hoặc chuyển nhượng phần vốn góp; chuyển đổi bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân cùng góp vốn, làm tăng vốn và phát sinh thêm cổ đông; hoặc chuyển đổi bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khác, qua đó thay đổi cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp. Tùy vào mục đích huy động vốn, mở rộng quy mô hay thay đổi cơ cấu sở hữu, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức chuyển đổi phù hợp. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Thành lập công ty nhưng không hoạt động: Nghĩa vụ pháp lý vẫn còn nguyên. Nhiều chủ doanh nghiệp lầm tưởng rằng sau khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nếu không triển khai kinh doanh thì không cần làm gì thêm. Đây là quan niệm sai lầm có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng. 1.    Thực trạng pháp nhân "nằm im" Thành lập công ty nhưng không hoạt động được hiểu là trường hợp doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục đăng ký, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và có tư cách pháp nhân hợp pháp, nhưng trên thực tế không phát sinh bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào. Doanh nghiệp được "lập ra trên giấy" nhưng không triển khai hoạt động, không tạo ra doanh thu, không ký kết hợp đồng.Thực tế tại nhiều đơn vị tư vấn doanh nghiệp cho thấy, lượng khách muốn làm thủ tục giải thể công ty tăng khoảng 30% so với cùng kỳ, trong đó chiếm tới một nửa là các công ty được thành lập nhưng không hoạt động, chỉ duy trì pháp nhân và thực hiện các nghĩa vụ báo cáo. Đây cũng là nhóm pháp nhân nằm trong diện rà soát khi ngành thuế triển khai chiến dịch làm sạch dữ liệu người nộp thuế.  2.    Quy định pháp luật Pháp luật Việt Nam hiện hành không cấm việc thành lập doanh nghiệp rồi không hoạt động. Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) không có quy định xử phạt riêng đối với hành vi này.Tuy nhiên, khoản 1 Điều 212 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định doanh nghiệp có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu: ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm liên tục mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế; hoặc không thực hiện nghĩa vụ báo cáo theo quy định. Đồng thời Điều 22 Nghị định 122/2021/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư quy định mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo tạm ngừng kinh doanh khi doanh nghiệp thực tế không hoạt động.Hơn nữa, theo quy định tại Điều 37 Luật Quản lý thuế 2019, doanh nghiệp phải nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng định kỳ, kể cả khi không phát sinh giao dịch. Cục Thuế đã nhấn mạnh: "Không có doanh thu không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được phép bỏ qua nghĩa vụ khai thuế. Ngược lại, khai thuế cũng không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có số thuế phải nộp".Người nộp thuế cần phân biệt rõ giữa "không phát sinh số thuế phải nộp" và "không phải nộp hồ sơ khai thuế". Các trường hợp được miễn nộp hồ sơ khai thuế được quy định cụ thể, bao gồm: doanh nghiệp đang tạm ngừng hoạt động và đáp ứng đủ điều kiện, hoặc đã nộp hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Về nghĩa vụ tài chính tối thiểu. Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân quy định chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày 1/1/2026. Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp đang xử lý nghĩa vụ thuế để hoàn tất thủ tục chấm dứt hoạt động. 3.    Giải pháp pháp lý Để tránh rủi ro pháp lý, doanh nghiệp không hoạt động có hai lựa chọn chính. Thứ nhất, làm thủ tục tạm ngừng hoạt động. Đây là cách xử lý an toàn và phổ biến nhất. Khi tạm ngừng đúng quy định, doanh nghiệp không phải kê khai thuế định kỳ và không bị phạt do không hoạt động, nhưng vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân. Thứ hai, giải thể doanh nghiệp. Phương án này phù hợp khi doanh nghiệp không có nhu cầu tiếp tục duy trì pháp nhân. Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, doanh nghiệp chỉ được giải thể sau khi thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản. Thực tế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi giải thể do phải xử lý các khoản phạt chậm nộp tờ khai, nợ lệ phí môn bài và các nghĩa vụ thuế tồn đọng. 4.    Khuyến nghị  TS Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội, cho rằng thủ tục đóng mã số thuế, tạm ngừng kinh doanh và giải thể cần được đơn giản hóa hơn, đặc biệt với nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Nhiều hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ chưa phân biệt rõ giữa "nghỉ bán hàng", "tạm ngừng kinh doanh", "chấm dứt hoạt động" và "đóng mã số thuế".Về phía cơ quan quản lý, chuyên gia đề xuất nghiên cứu không truy thu lệ phí môn bài với thời gian thực tế doanh nghiệp không hoạt động, đồng thời cân nhắc miễn hoặc giảm mức phạt chậm nộp với các hồ sơ khai thuế không phát sinh doanh thu, nghĩa vụ thuế. 5.    Kết luận Thành lập công ty nhưng không hoạt động không phải là hành vi bị pháp luật cấm, nhưng doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý tối thiểu. Việc không tuân thủ có thể dẫn đến xử phạt hành chính, khóa mã số thuế, thậm chí thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp cần chủ động lựa chọn phương án phù hợp – tạm ngừng kinh doanh hoặc giải thể – để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và tránh những rủi ro không đáng có. Các bạn có nhu cầu tư vấn về thành lập, giải thể hay phá sản doanh nghiệp hãy gọi ngay cho chúng tôi theo số điện thoại 0936.645.695 để được tư vấn trực tiếp. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695