Trong đời sống hôn nhân, việc vợ chồng quản lý, sử dụng chung tiền bạc là điều phổ biến. Tuy nhiên, không phải mọi khoản tiền do một bên đang quản lý đều đương nhiên là tài sản chung của vợ chồng. Vậy chồng tự ý lấy tiền của vợ có bị xử lý về Tội trộm cắp tài sản hay không? Câu trả lời phụ thuộc trước hết vào việc khoản tiền đó là tài sản riêng hay tài sản chung để từ đó xác định trách nhiệm pháp lý. Dưới đây là những phân tích chi tiết về vấn đề này.

1. Chồng lấy tiền là tài sản riêng của vợ có thể phạm tội trộm cắp tài sản?
- Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản riêng của vợ, chồng gồm:
+ Tài sản có trước khi kết hôn;
+ Tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng;
+ Tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân và các tài sản khác thuộc sở hữu riêng theo quy định pháp luật.
- Nếu khoản tiền là tài sản riêng của vợ mà người chồng tự ý lấy, lén lút chiếm đoạt để sử dụng cho mục đích cá nhân thì có thể bị xem xét về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự khi đủ các dấu hiệu truy cứu TNHS cụ thể:
+ Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định
=> Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
+ Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 quy định tại Điều luật này
=> Bị phạt tù từ 2 năm đến 20 năm.
- Pháp luật hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự chỉ vì người thực hiện hành vi là vợ hoặc chồng của người bị mất tài sản.
Ví dụ: Chị A có 200 triệu đồng được tặng cho riêng và có căn cứ chứng minh đây là tài sản riêng. Anh B là chồng tự ý chuyển 100 triệu đồng từ tài khoản của chị A sang tài khoản của mình để sử dụng. Nếu chứng minh được hành vi lén lút chiếm đoạt, anh B có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.
2. Nếu tiền là tài sản chung của vợ chồng thì sao?
- Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản chung gồm:
+ Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh
+ Hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân
+ Tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung hoặc được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
- Theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.”
- Vì vậy, nếu tiền là tài sản chung, việc người chồng tự ý lấy tiền do vợ đang quản lý không cấu thành Tội trộm cắp tài sản, bởi người chồng cũng có quyền đối với tài sản chung.
=> Trường hợp này có thể phát sinh tranh chấp về việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung và cần xem xét theo quy định của pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình.
3. Chồng chiếm đoạt tiền của vợ có thể bị xử phạt hành chính về bạo lực kinh tế?
- Ngoài trách nhiệm hình sự, hành vi chiếm đoạt tài sản của thành viên gia đình còn có thể bị xử phạt như sau: Theo Điểm a khoản 1 Điều 44 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định:
“Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Chiếm đoạt tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình.”
=> Như vậy, nếu chồng chiếm đoạt tài sản riêng của vợ, hành vi có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng về hành vi bạo lực về kinh tế, nếu thuộc trường hợp xử phạt hành chính.
⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
