Tất cả sản phẩm

Trong thực tế, nhiều trường hợp cho mượn Chứng minh nhân dân hay căn cước công dân để thực hiện giao kết hợp đồng lao động, hậu quả phát sinh nhiều vấn đề pháp lý trong tương lai. Vậy việc mượn hoặc cho mượn Căn cước công dân để ký kết hợp đồng lao động có vi phạm quy định của pháp luật hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động 2019 quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động phải bảo đảm: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Đây là nguyên tắc nền tảng điều chỉnh toàn bộ quá trình xác lập quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động 2019 quy định người lao động có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và các thông tin khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động. Từ các quy định nêu trên có thể xác định rằng, việc sử dụng Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân của người khác để đứng tên giao kết hợp đồng lao động là hành vi cung cấp thông tin không trung thực trong quá trình xác lập quan hệ lao động. Đồng thời, hành vi cho mượn giấy tờ tùy thân để người khác tham gia quan hệ lao động cũng được xem là tiếp tay cho việc xác lập giao dịch lao động trái với nguyên tắc trung thực theo quy định của Bộ luật Lao động.   Ngoài ra, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động 2019 quy định hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Như vậy, trường hợp sử dụng giấy tờ tùy thân của người khác để ký kết hợp đồng lao động có căn cứ để xác định là vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động và hợp đồng lao động đã được ký kết có thể bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ. Trên thực tế, hậu quả pháp lý của hành vi này không chỉ dừng lại ở việc hợp đồng lao động bị vô hiệu mà còn kéo theo nhiều hệ lụy khác như: ·     Phát sinh tình trạng trùng thông tin tham gia bảo hiểm xã hội; ·     Sai lệch dữ liệu lao động, dữ liệu thuế thu nhập cá nhân; ·     Khó khăn trong việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, tai nạn lao động; ·     Phát sinh tranh chấp về tiền lương, quyền lợi lao động hoặc trách nhiệm bồi thường; ·     Nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hành vi sử dụng giấy tờ của người khác hoặc kê khai thông tin không đúng sự thật; ·     Trong một số trường hợp nghiêm trọng còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu hành vi nhằm mục đích gian dối để trục lợi hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật khác. Do đó, việc cho mượn hoặc sử dụng Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi không phù hợp với quy định pháp luật lao động hiện hành và tiềm ẩn nhiều hậu quả pháp lý nghiêm trọng mà các bên cần đặc biệt lưu ý. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được luật sư tư vấn. 
Chỉ với một chiếc điện thoại, bất kỳ ai cũng có thể quay video hoặc chụp ảnh và đăng tải lên mạng xã hội trong vài phút. Tuy nhiên, việc quay và đăng tải hình ảnh người khác không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách tùy ý. Vậy pháp luật hiện nay quy định thế nào về việc quay và đăng hình ảnh người khác? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ theo khoản 1 Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, cụ thể: "Điều 32. Bảo vệ dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng, hoạt động công cộng 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được ghi âm, ghi hình và xử lý dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng, hoạt động công cộng mà không cần có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân trong các trường hợp sau đây: a) Để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; b) Âm thanh, hình ảnh, các thông tin nhận dạng khác thu được từ các hoạt động công cộng bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể dữ liệu cá nhân; c) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật." Theo đó, trong một số trường hợp, cá nhân có thể ghi hình tại nơi công cộng mà không cần xin phép từng người xuất hiện trong video hoặc hình ảnh. Ví dụ: - Ghi hình tại sự kiện đông người; - Quay video tại hội nghị, chương trình biểu diễn; - Ghi lại hình ảnh phục vụ mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; - Camera an ninh ghi hình tại khu vực công cộng... Tuy nhiên, việc được phép ghi hình không đồng nghĩa với việc được sử dụng hình ảnh đó một cách tùy ý trên mạng xã hội. Khi đăng tải hình ảnh hoặc video của người khác lên Facebook, TikTok hay các nền tảng trực tuyến khác, người đăng tải vẫn phải bảo đảm không xâm phạm quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân xuất hiện trong nội dung đó. Theo Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, dù hình ảnh được ghi nhận tại nơi công cộng, thì việc ghi hình và sử dụng hình ảnh vẫn phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định, cụ thể: Có trách nhiệm thông báo hoặc bằng hình thức phù hợp khác để người bị ghi hình biết mình đang được ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; - Dữ liệu cá nhân thu được chỉ được sử dụng đúng mục đích xử lý, không được dùng vào mục đích trái pháp luật hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; - Có trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân thu thập được; - Không được xâm phạm quyền riêng tư của người khác; - Không được làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân xuất hiện trong hình ảnh, video; - Không được cắt ghép, xuyên tạc nội dung gây hiểu nhầm; - Không được sử dụng hình ảnh để công kích, bôi nhọ hoặc xúc phạm cá nhân... Như vậy, việc quay và đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hội tại nơi công cộng hoặc trong hoạt động công cộng là quyền của cá nhân, nhưng không đồng nghĩa được sử dụng hình ảnh một cách tùy ý. Việc đăng tải vẫn phải bảo đảm đúng mục đích, tôn trọng quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm và lợi ích hợp pháp của người khác. Nếu nội dung đăng tải mang tính xúc phạm, xuyên tạc hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực thì người đăng tải vẫn có thể bị xử lý theo quy định pháp luật. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Chào Luật sư, tháng 5/2025 tôi có cho bạn là H vay số tiền 10.000.000 đồng khi vay thì hai bên có làm hợp đồng vay tiền, có chữ ký tên và ghi họ tên của H, không có ai chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có thời hạn trả nợ, không lãi suất. Đến tháng 01/2026, H đã trả lại đầy đủ số tiền này cho tôi. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026, H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và qua quá trình điều tra, xác minh xác định rằng số tiền H dùng để trả cho tôi là tiền do phạm tội mà có. Hiện nay, tôi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự nêu trên. Tôi hoàn toàn không biết và cũng không có căn cứ để biết số tiền H trả cho tôi là tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Vậy, xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết các quy định của pháp luật liên quan đến vụ án. Trả lời: Trong vụ việc trên, hành vi cho anh H vay số tiền 10.000.000 đồng là giao dịch dân sự được thể hiện qua hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hai bên đã thỏa thuận cho vay tài sản, Bên A đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng số lượng với số tiền 10.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nợ, tuy nhiên tháng 1/2026 anh H đã thanh toán khoản vay cho anh bên A số tiền 10.000.000 đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 1 Điều 466 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Như vây, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với giao dịch vay tài sản giữa bên A và anh H. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026 anh H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản, đối với số tiền anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A cũng được xác định là số tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của anh H. Anh A mong muốn được tư vấn 02 vấn đề sau: 1. Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi 1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. 2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Theo quy định, đối với hành vi của anh H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ quan chức năng sẽ điều tra, xác minh về các số tiền mà anh H đã lừa đảo để trả lại tài sản cho chủ ở hữu (bị hại). Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm trên đều phải được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, dù bạn nhận được tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không thể biết nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền, theo nguyên tắc, bạn sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để phục vụ trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để xem xét việc anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A trong trường hợp này có làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, việc anh H thanh toán khoản vay trên là hợp pháp và bên A cũng không biết được nguồn gốc số tiền trên thì không có căn cứ để cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ cho rằng số tiền anh H thanh toán khoản trên có nguồn gốc về hành vi phạm tội của anh H, như vậy số tiền 10.000.000 đồng sẽ được cơ quan chức năng thu hồi. Đối với việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi số tiền anh H đã thực hiện việc thanh toán khoản nợ với số tiền 10.000.000 đồng cho bên A, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên A. Căn cứ khoản 11 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ xác định bên A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bạn có quyền yêu cầu độc lập buộc anh H (bị cáo) hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bạn đã co anh H vay. Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:   “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù bạn là người cho vay hợp pháp và đã nhận lại tiền từ anh H, nhưng do số tiền này được xác định là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thu hồi nhằm trả lại cho người bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, việc nhận tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không có căn cứ để biết về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản không làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với bạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn cần chủ động thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay là có thật và hợp pháp, đồng thời gửi yêu cầu bồi thường thiệt hại đến Tòa án. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bản án sẽ buộc bị cáo có nghĩa vụ thanh toán lại khoản tiền tương ứng cho bạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
  Chuyển khoản nhầm là tình huống khá phổ biến hiện nay. Khi nhận được tiền không phải của mình, người nhận cần xử lý như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ Điều 579 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ hoàn trả tài sản không có căn cứ pháp luật như sau: "Điều 579. Nghĩa vụ hoàn trả 1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này. 2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này." Như vậy, bất kỳ ai đang giữ hoặc được hưởng lợi từ tài sản mà không có căn cứ pháp luật thì đều phải hoàn trả. Trong trường hợp chuyển khoản nhầm, người nhận không có cơ sở pháp lý để giữ số tiền đó (VD: không có hợp đồng, không có giao dịch hợp lệ,...). Vì vậy, trong trường hợp này, người nhận có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ số tiền đã nhận cho chủ sở hữu hợp pháp. Trách nhiệm pháp lý khi không trả lại tiền đã nhận do chuyển khoản nhầm (1) Trách nhiệm dân sự Trước hết, người nhận tiền có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận nhầm cho người chuyển. Bên cạnh đó, người nhận còn phải hoàn trả cả phần lợi ích phát sinh (nếu có) từ số tiền đã nhận. Ví dụ, nếu số tiền này được gửi tiết kiệm, đầu tư sinh lãi hoặc mang lại bất kỳ khoản lợi nào khác, thì phần lợi ích đó cũng phải được hoàn trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Trong trường hợp việc chậm trả hoặc cố tình không trả tiền gây ra thiệt hại thực tế cho người bị chuyển nhầm, thì người nhận tiền có thể phải bồi thường thiệt hại. Nếu người nhận cố tình không hoàn trả, người bị chuyển nhầm có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. (2) Trách nhiệm hành chính Trường hợp cá nhân nhận được tiền do chuyển khoản nhầm nhưng không hoàn trả chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì vẫn có thể bị xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể, hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP: "Điều 18. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác ... 2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: ... đ) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc sử dụng, mua, bán, thế chấp, cầm cố trái phép tài sản của người khác; ..." Ngoài hình thức xử phạt chính là phạt tiền, người vi phạm còn có thể phải chịu các hình thức xử phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm. - Biện pháp khắc phục hậu quả: + Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; + Buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép đối với hành vi vi phạm. Mức phạt trên áp dụng với cá nhân vi phạm, nếu tổ chức có hành vi vi phạm tương tự thì phạt gấp đôi. (3) Trách nhiệm hình sự Trường hợp người nhận tiền nhầm cố tình không trả sau khi đã được chủ sở hữu hoặc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, mà đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) như sau: "Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản 1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. 2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm." Lưu ý: - Nếu bạn là người nhận nhầm: Nên chủ động liên hệ ngân hàng để yêu cầu hoàn trả ngay. Ngoài ra, hiện nay tình trạng lợi dụng việc chuyển khoản nhầm để lừa đảo xảy ra khá phổ biến, do vậy nếu không chắc chắn các thông tin của chủ sở hữu hoặc nghi ngờ bị lừa đảo thì cần trình báo ngay cho cơ quan công an. - Nếu bạn là người chuyển nhầm: Nên chủ động liên hệ ngân hàng để tra soát giao dịch và gửi văn bản yêu cầu người nhận hoàn trả (qua ngân hàng hoặc trực tiếp cho người nhận). Nếu người nhận không hợp tác có thể trình báo công an hoặc khởi kiện dân sự Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thời gian vừa qua, nhiều vụ việc thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng. Theo quy định của pháp luật, hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý liên quan: Theo khoản 1, Điều 8 Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2020 quy định về hóa đơn chứng từ, theo đó: Hóa đơn giá trị gia tăng được hiểu là hóa đơn giá trị gia tăng (hay còn gọi là hóa đơn đỏ, hóa đơn VAT) là chứng từ do người bán lập để ghi nhận giá trị hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp, phục vụ cho việc kê khai và nộp thuế GTGT. Hóa đơn GTGT được sử dụng bởi các tổ chức, cá nhân áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, áp dụng cho các hoạt động: - Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong nội địa. - Hoạt động vận tải quốc tế. - Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu. - Xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài. - Hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Như vậy, các giao dịch được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức khi có thu chi phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng để có dữ liệ cho cơ quan thuế quản lý. Tuy nhiên, nhiều chủ thể là cá nhân, tổ chức vì những mục đích khác nhau mà đã thực hiện hành vi mua hóa đơn giá trị gia tăng dù trên thực tế không phát sinh giao dịch. 1. Quy định các hành vi mua bán hóa đơn giá tăng Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS), Thông tư liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC quy định về việc hướng dẫn áp dụng một số Điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính và chứng khoán, như sau: - Căn cứ Khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC, quy định mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: “3. Các hành vi qui định tại Điều 164a của BLHS được hiểu như sau: a) In trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi tự in hóa đơn hoặc tự khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ điều kiện hoặc không đúng, không đầy đủ các nội dung theo qui định của pháp luật; In hóa đơn giả hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả; b) Phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi lập tờ thông báo phát hành không đầy đủ nội dung; không gửi hoặc không niêm yết tờ thông báo phát hành hóa đơn theo đúng qui định; c) Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: c.1) Mua, bán hoá đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác theo qui định; c.2) Mua, bán hoá đơn đã ghi nội dung, nhưng không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo; c.3) Mua, bán hoá đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn đã hết giá trị sử dụng, hóa đơn của cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc cấp cho khách hàng khi bán hàng hóa dịch vụ; c.4) Mua, bán, sử dụng hoá đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hoá, dịch vụ giữa các liên của hoá đơn.” Về chủ thể thực hiện các hành vi trên, bao gồm: Cá nhân bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc người của tổ chức kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; người của tổ chức nhận in hoặc đặt in hóa đơn; cá nhân hoặc người của tổ chức mua hàng hóa, dịch vụ. 2. Về hình thức xử lý hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng Căn cứ điều 203 Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định: “1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên; g) Tái phạm nguy hiểm. 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. 4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và g khoản 2 Điều này , thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng; c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.” Như vậy, từ quy định trên hành vi mua bán hóa đơn giá trị gia tăng cấu thành tội mua bán trái phép hóa đơn thì hành vi mua bán hóa đơn phải thuộc trong các trường hợp: Dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số; Hóa đơn, chứng từ ghi nội dung từ 10 số đến 30 số; Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng thì phạt tiền từ 50.000.000đ đến 200.000.000đ; hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Ngoài ra, trong phạm tội thuộc các trường hợp tại khoản 2 như: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng các điều kiện về số lượng, giá trị hoặc mức độ thiệt hại theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng, không chỉ gây thất thu ngân sách nhà nước mà còn làm méo mó môi trường kinh doanh. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Trong thời gian vừa qua, xôn sao trên mạng xã hội về hành vi đưa thịt lợn bệnh vào trường học. Vậy hành vi trên có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý liên quan: Theo quy định khoản 4 Điều 5 Luật an toàn thực phẩm 2010 quy định: “Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.” Theo đó hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc không rõ nguyên nhân để sản xuất thuộc hành vi bị cấm theo quy định. Đối với tình huống trên, hành vi đưa thịt lợn bệnh vào trường học vi phạm điều cấm của luật gây ảnh hưởng đến nhiều chủ thể trong đó là các em học sinh, mầm non. Đối với hành vi trên, mức xử lý vi phạm như sau: Căn cứ theo quy định khoản 1, 3 điều 6 Luật an toàn thực phẩm 2010 như sau: “1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật. …. 3. Mức phạt tiền đối với vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt được áp dụng không quá 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm; tiền thu được do vi phạm mà có bị tịch thu theo quy định của pháp luật.” Về hình thức xử phạt: 1. Về xử phạt vi phạm hành chính: Căn cứ khoản 3, 4, 5, 6, 7 Điều 4 Nghị 115/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm: “3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá dưới 10.000.000 đồng. 4. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm; b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 5. Phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 6. Hình thức xử phạt bổ sung: a) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với vi phạm quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này; b) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 tháng đến 12 tháng đối với vi phạm quy định tại khoản 5 Điều này; c) Tước quyền sử dụng Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm từ 20 tháng đến 24 tháng đối với sản phẩm thuộc diện đăng ký bản công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này. 7. Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc tiêu hủy nguyên liệu, thực phẩm vi phạm quy định tại Điều này; b) Buộc thu hồi bản tự công bố sản phẩm đối với sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này.” Như vậy, đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để sản xuất, chế biến thực phẩm tùy theo mức độ vi phạm, cũng như giá trị sản phẩm để xử phạt hành chính. Ngoài ra, còn áp dụng quy định về xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như sau: Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất từ 1 đến 3 tháng đối với việc sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm;Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đỉnh chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 đến 12 tháng đối với hành vi phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài biện pháp xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, còn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. 2. Về trách nhiệm hình sự Căn cứ điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau: “Ðiều 317. Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …..  b.  Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.” Đối chiếu với vụ việc “tuồn thịt lợn bệnh vào trường học”, có thể đưa ra ý kiến tư vấn như sau, về hành vi vi phạm, nếu cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện việc thu mua lợn chết do bệnh, dịch bệnh, sau đó giết mổ, chế biến và cung cấp vào bếp ăn trường học thì hành vi này thuộc trường hợp “sử dụng động vật chết do bệnh để chế biến thực phẩm”. Trường hợp các đơn vị cung cấp suất ăn hoặc thực phẩm cho nhà trường vẫn phân phối thịt lợn khi đã biết rõ nguồn gốc không đảm bảo an toàn thì thuộc hành vi “cung cấp, bán thực phẩm mà biết rõ có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh”. Về yếu tố lỗi, điều luật yêu cầu người thực hiện hành vi phải “biết rõ” nguồn gốc thực phẩm là từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh. Trong thực tiễn, yếu tố này có thể được chứng minh thông qua các tình tiết như: thu mua lợn bệnh với giá rẻ bất thường, không có giấy kiểm dịch, có hành vi che giấu nguồn gốc hoặc hợp thức hóa giấy tờ. Nếu chứng minh được yếu tố nhận thức này thì xác định là lỗi cố ý trực tiếp và đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi chỉ bị xử lý hình sự khi giá trị thực phẩm vi phạm từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, hoặc dưới mức này nhưng người vi phạm đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về cùng hành vi mà chưa được xóa án tích. Đối với bếp ăn trường học, đặc biệt là các trường có tổ chức ăn bán trú, giá trị thực phẩm cung cấp thường lớn, do đó trên thực tế rất dễ vượt ngưỡng định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp, hành vi nêu trên không chỉ xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm mà còn trực tiếp đe dọa đến sức khỏe cộng đồng, trong đó đối tượng bị ảnh hưởng là học sinh – nhóm người chưa phát triển về thể chất và có sức đề kháng yếu. Đây là yếu tố làm gia tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, có thể được xem xét khi lượng hình hoặc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị áp dụng mức hình phạt theo khoản 1 Điều 317, bao gồm phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Trường hợp hành vi gây hậu quả nghiêm trọng như ngộ độc thực phẩm hàng loạt, ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều học sinh thì có thể bị áp dụng các khung hình phạt nặng hơn theo các khoản tiếp theo của điều luật. Căn cứ khoản 2 Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Làm chết người; c) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; h) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” Với vụ việc trên, hiện nay cơ quan điều tra vẫn đang điều tra, xác minh làm rõ về hành vi sai phạm. Tuy nhiên, đánh giá khách quan về vụ việc tuồn thịt lợn bệnh vào trường học thì không chỉ dừng lại ở khoản 1 nêu trên mà có căn cứ chứng minh sẽ áp dụng khoản 2 Điều 317 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 với khung hình phạt từ 3 năm đến 7 năm tù để xử lý và giải quyết.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Chào luật sư, hiện tại em đang kinh doanh trên Tik Tok được hơn 1 năm nay. Em đã đăng ký hộ kinh doanh đúng ngành nghề mà em đang bán. Tuy nhiên, em chưa nhận được thông báo nộp thuế của CQNN. 1. Kinh doanh này có phải khai báo thuế gì không ạ? 2. Nếu không khai báo có bị xử phạt gì không ạ? II. Ý KIẾN PHÁP LÝ LIÊN QUAN 1. Quy định của pháp luật về đối tượng phải đóng thuế khi kinh doanh trên TikTok? Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế và quản lý thuế GTGT, thuế TNCN đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh: a) Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ 500 triệu đồng trở xuống thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm với cơ quan thuế chậm nhất là ngày 31 tháng 01 của năm dương lịch tiếp theo. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phát sinh doanh thu thực tế trên 500 triệu đồng trong năm thì thực hiện khai thuế, nộp thuế kể từ quý phát sinh doanh thu trên 500 triệu đồng. Số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân phải nộp xác định theo quy định tại điều 3, Điều 4 Nghị định này. b) Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên 500 triệu đồng bao gồm cả doanh thu đã được tổ chức, cá nhân khấu trừ, khai thay, nộp thay thì tính thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Điều 3, Điều 4 Nghị định này. Việc kê khai, nộp thuế thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định này. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế, Hệ thống thông tin quản lý thuế tự động tạo lập tờ khai thuế để hỗ trợ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong việc khai thuế, tính thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân trên cơ sở dữ liệu hóa đơn điện tử, cơ sở dữ liệu quản lý thuế và các nguồn cơ sở dữ liệu khác mà cơ quan thuế có được từ cơ quan nhà nước khác, tổ chức, cá nhân cung cấp. Việc hỗ trợ của cơ quan thuế không thay thế trách nhiệm khai thuế và xác định số thuế phải nộp của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của hồ sơ khai thuế. Đối chiếu với trường hợp của bạn, trong trường hợp doanh thu của bạn từ kinh doanh trên TikTok trong năm dương lịch từ 500 triệu trở xuống thì thuộc trường hợp không phải nộp thuế GTGT, thuế TNCN và hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phải có trách nhiệm thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm với cơ quan thuế chậm nhất là ngày 31/1 của năm dương lịch tiếp theo. Nếu doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên TikTok trong năm dương lịch trên 500 triệu đồng thì thực hiện khai thuế, nộp thuế từ quý phát sinh doanh thu trên 500 triệu đồng Ngoài ra, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, theo đó trường hợp hộ gia đình, cá nhân kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên 500 triệu đồng bao gồm cả doanh thu đã được tổ chức, cá nhân khấu trừ, khai thay, nộp thay thì tính thuế GTGT, thuế TNCN theo quy định tại Điều 3, Điều 4 của nghị Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.   2. Quy định của pháp luật về khai báo thuế khi kinh doanh online Trong trường hợp quý khách có doanh thu từ 500 triệu đồng trở lên từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thì phải kê khai và nộp thuế GTGT và thuế TNCN. Theo quy định của Nghị số 68/2026/NĐ-CP hướng dẫn phương pháp tính thuế TNCN và thuế GTGT như sau: Đối với thuế giá trị gia tăng: Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 68/2026/NĐ-CP như sau: “2. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm trên 500 triệu đồng thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng và áp dụng phương pháp tính trực tiếp theo doanh thu bằng tỷ lệ % nhân (x) doanh thu. Tỷ lệ % và doanh thu tính thuế thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 và các văn bản hướng dẫn thi hành.” Đối với thuế thu nhập cá nhân, phương pháp tính thuế được quy định khoản 5 Điều 4 Nghị định 68/2026/NĐ-CP: “a) Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 03 tỷ đồng. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15; b) Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 03 tỷ đồng và trường hợp cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 03 tỷ đồng lựa chọn phương pháp này. Thu nhập tính thuế được xác định bằng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ (-) chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15; c) Doanh thu, chi phí xác định theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị định này; d) Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 03 tỷ đồng hoặc có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 03 tỷ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì thực hiện ổn định phương pháp tính thuế trong 02 năm liên tục kể từ năm đầu tiên áp dụng. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 03 tỷ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế, nếu hết năm xác định doanh thu thực tế năm trên 03 tỷ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất.” Tùy theo nhu cầu và mục đích, quý khách có thể chọn trong các phương pháp để đi khai báo thuế và tính thuế theo quy định của pháp luật. 3. Hình thức xử phạt nếu không khai báo thuế khi kinh doanh Hành vi không khái báo thuế khi kinh doanh online trên TikTok sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (sửa đổi, bố sung một số tại Nghị định 310/2025/NĐ-CP) quy định về Xử phạt hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế. Tùy vào mức tình tiết mà mức phạt sẽ khác nhau. “1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 01 ngày đến 05 ngày và có tình tiết giảm nhẹ. 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 01 ngày đến 30 ngày, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. 3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 31 ngày đến 60 ngày. 4. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 61 ngày đến 90 ngày; b) Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 91 ngày trở lên nhưng không phát sinh số thuế phải nộp; c) Không nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp; d) Không nộp các phụ lục theo quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết kèm theo hồ sơ quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp. 5. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn trên 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế, có phát sinh số thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, cơ quan có thẩm quyền khác công bố quyết định thanh tra, kiểm tra hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế.  Trường hợp số tiền phạt nếu áp dụng theo khoản này lớn hơn số tiền thuế phát sinh trên hồ sơ khai thuế thì số tiền phạt tối đa đối với trường hợp này bằng số tiền thuế phát sinh phải nộp trên hồ sơ khai thuế hoặc tổng số tiền thuế phát sinh phải nộp trên các hồ sơ khai thuế thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định này nhưng không thấp hơn mức trung bình của khung phạt tiền quy định tại khoản 4 Điều này.” Tại khoản 2, Điều 59, Luật Quản lý thuế năm 2019, mức tính tiền nộp chậm bằng 0,03% ngày tính trên số thuế chậm nộp và thời gian tính tiền chậm nộp được tính liên tục kể từ ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo hoặc quyết định ấn định thuế hoặc quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế đến ngày liền kề trước ngày số tiền nợ thuế, tiền thu hồi hoàn thuế, tiền thuế tăng thêm, tiền thuế ấn định, tiền thuế chậm chuyển được nộp vào ngân sách nhà nước. Việc truy thu thuế đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh online là đúng quy định pháp luật về thuế. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.            
Tôi có một mảnh đất rộng 400m2 với giá trị 10 tỷ đồng. Hiện tại, tôi muốn dùng sổ đỏ của mảnh đất này để góp vốn thành lập công ty cổ phần. Vậy, xin hỏi tôi muốn dùng sổ đỏ để góp vốn thành lập công ty cổ phần có được không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Điều 34. Tài sản góp vốn 1. Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. 2. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều này mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật.” Theo quy định trên, quyền sử dụng đất là một trong những tài sản góp vốn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chỉ có cá nhân, tố chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật. Điều kiện để góp vốn bằng quyền sử dụng đất, Luật đất đai năm 2024 được quy định như sau:  Khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất: 1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này; b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật; c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự; d) Trong thời hạn sử dụng đất; đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai 2024 ông được sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để góp vốn thành lập công ty nhưng phải đảm bảo về chủ sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản là mảnh đất trên. Ngoài ra còn đảm bảo về các quy định điều kiện góp vốn bằng quyền sử dụng đất.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Thời gian gần đây, thông tin về quy định mới liên quan đến dạy thêm, học thêm có hiệu lực từ ngày 15/05/2026 khiến nhiều phụ huynh và giáo viên không khỏi băn khoăn. Vậy thực tế quy định mới quy định như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Theo quy định tại Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được ban hành ngày 30/12/2024 và có hiệu lực từ ngày 14/02/2025 thì Bộ Giáo dục Đào tạo không cấm dạy thêm học thêm. Theo đó, hoạt động dạy thêm, học thêm được phân thành hai hình thức: (1) Dạy thêm, học thêm trong nhà trường  (2) Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường Và khi Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT sửa đổi Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT quy định về dạy thêm, học thêm do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành có hiệu lực từ ngày 15/05/2026 sửa đổi một số quy định của Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT cũng không cấm dạy thêm học thêm, mà quy định rõ hơn về cách tổ chức và điều kiện dạy thêm, học thêm. Theo đó, đối với Dạy thêm, học thêm trong nhà trường, Thông tư mới quy định như sau: (1) Việc dạy thêm, học thêm trong nhà trường không được thu tiền của học sinh và chỉ dành cho các đối tượng học sinh đăng kí học thêm theo từng môn học như sau: - Học sinh có kết quả học tập môn học cuối học kì liền kề ở mức chưa đạt; - Học sinh được nhà trường lựa chọn để bồi dưỡng học sinh giỏi; - Học sinh lớp cuối cấp tự nguyện đăng kí ôn thi tuyển sinh, ôn thi tốt nghiệp theo kế hoạch giáo dục của nhà trường. Lưu ý: Học sinh thuộc các nhóm trên phải viết đơn đăng ký học thêm theo từng môn. (2) Căn cứ vào số học sinh đăng kí, nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức dạy thêm đối với từng môn học ở từng khối lớp. (3) Việc xếp lớp, xếp thời khóa biểu và tổ chức dạy thêm, học thêm phải bảo đảm yêu cầu sau: - Mỗi lớp có không quá 45 (bốn mươi lăm) học sinh; - Không được xếp giờ dạy thêm chen vào giờ học chính khóa và Không được dạy trước chương trình - Mỗi môn học được tổ chức dạy thêm không quá 02 (hai) tiết/tuần. Trường hợp học sinh thuộc đối tượng đăng kí học thêm có nhu cầu học thêm vượt quá 02 (hai) tiết/tuần, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo xem xét, quyết định cho phép điều chỉnh thời lượng tổ chức dạy thêm theo đề nghị của Hiệu trưởng hoặc Giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng). (4) Kế hoạch tổ chức dạy thêm, học thêm được công khai trên trang thông tin điện tử của nhà trường hoặc niêm yết tại nhà trường. Đối với Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường: (1) Tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh (sau đây gọi chung là cơ sở dạy thêm) phải thực hiện các yêu cầu sau: - Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật; - Công khai, cập nhật thường xuyên trên trang thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm để bảo đảm sự tham gia giám sát của học sinh, gia đình và cộng đồng xã hội (2) Người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm. (3) Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm tuân thủ quy tắc ứng xử của nhà giáo theo quy định, có trách nhiệm báo cáo với Hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thế đứng tên đăng kí kinh doanh cơ sở dạy thêm, thời gian tham gia dạy thêm trước khi bắt đầu và cập nhật kịp thời khi có thay đổi đối với các nội dung đã báo cáo, bảo đảm minh bạch, phòng ngừa xung đột lợi ích trong hoạt động dạy thêm Như vậy, từ 15/05/2026, không cấm dạy thêm, học thêm chính đáng, nhưng sẽ bị quản lý chặt hơn để hạn chế tiêu cực. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Tình Huống: Chào Luật sư, tôi và chồng tôi kết hôn vào tháng 10 năm 2014 có 01 người con, nhưng trong quá trình chung sống chồng tôi hay cáu gắt, đánh mắng tôi. Đến năm 2020, tôi và chồng tôi ly thân trong quá thời gian ly thân tôi có quen một anh trong công ty, sống chung với nhau và có 1 người con vào cuối năm 2024. Luật sư cho tôi hỏi, việc sống chung và có con trong thời gian ly thân có vi phạm pháp luật không? nếu có thì bị xử lý như thế nào?  Trả lời:  Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng như các văn bản hiện hành khác, chưa có quy định nào quy định về vấn đề ly thân. Tuy nhiên, cũng có thể hiểu là anh chị không còn sống chung với nhau những  về mặt pháp lý anh chị vẫn đang là vợ chồng hợp pháp.  Căn cứ quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:  “2. Cấm các hành vi sau đây,.... c, Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”.  Như vậy, việc chị có con riêng với người khác trong quá trình hôn nhân là vi phạm nghiêm trọng chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. - Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính: Căn cứ quy định tại điểm a, b, c Khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: “1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;....” - Quy định của pháp luật về vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo quy định của Bộ luật Hình sự:  Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau: “1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.” Như vậy, chiếu theo tình huống trên hành vi có con riêng với người khác trong thời kỳ hôn nhân không chỉ phạt hành chính mà có thể còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp tại Thông tư số 60/2025/TT-BYT đã quy định thêm tiêu chí để xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ quy định tại Điều 5 Thông tư số 60/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp. Việc xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây: 1. Xác định được mối liên hệ giữa việc tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động với một bệnh cụ thể. Một số bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc lần đầu với yếu tố có hại trong quá trình lao động, người lao động có thể đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. 2. Bệnh xảy ra trong nhóm người lao động tiếp xúc với yếu tố có hại thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với nhóm người lao động không tiếp xúc. 3. Bệnh xảy ra ở người lao động do tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động nhưng chưa có điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam mà đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội thì bổ sung vào danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội Như vậy, so với quy định cũ Thông tư số 60/2025/TT-BYT đã quy định tiêu chí để xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội đáp ứng các tiêu chí trên trong tương lai.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Ngày 31/3/2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư 08/2026/TT-BKHCN về việc hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất. Theo đó, từ 15/4/2026, việc đăng ký thuê bao di động sẽ không còn như trước mà phải thực hiện với những yêu cầu chặt chẽ về xác thực thông tin cá nhân. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Từ ngày 15/4/2026, khi chuyển SIM sang điện thoại mới, người dùng bắt buộc phải xác thực lại sinh trắc học (khuôn mặt) trong vòng 2 giờ để tránh bị khoá chiều gọi/nhắn tin.  Việc dùng sinh trắc học là Quy trình thực hiện qua app VNeID hoặc ứng dụng nhà mạng, nhằm ngăn chặn SIM rác và bảo mật tài khoản. Các quy định chính: Thời hạn: Phải xác thực lại trong vòng 2 tiếng sau khi đổi thiết bị. Đối tượng: Tất cả thuê bao đổi thiết bị mới. Người đã đăng ký VNeID mức độ 2 hoặc CCCD gắn chip vẫn phải xác thực lại khi thay đổi thiết bị. Hình thức xác thực: Trực tuyến trên ứng dụng VNeID. Trực tuyến trên ứng dụng của nhà mạng (Viettel, VNPT/VinaPhone, MobiFone, v.v.). Trực tiếp tại điểm giao dịch của nhà mạng. Thông tin cần xác thực: Chụp ảnh khuôn mặt, số căn cước, họ tên, ngày tháng năm sinh. Xử phạt: Nếu không xác thực, thuê bao sẽ bị tạm dừng dịch vụ chiều đi sau 30 ngày, sau đó dừng 2 chiều và có thể bị chấm dứt hợp đồng. Như vậy, từ ngày 15/4/2026, khi người dùng chuyển sim điện thoại sang thiết bị điện thoại mới bắt buộc phải xác thực sinh trắc học khuôn mặt.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695