Có được thoát nước qua nhà hàng xóm khi không có sự đồng ý của chủ nhà không?

Tình huống: Tôi có một thửa đất tại Hà Nội, trên đất đã xây dựng nhà 3 tầng. Do thửa đất bị các bất động sản liền kề bao bọc nên không có lối thoát nước ra hệ thống thoát nước chung. Tôi đã đề nghị hàng xóm cho đặt đường ống thoát nước đi qua phần đất của họ nhưng không được đồng ý. Vậy theo quy định của pháp luật, tôi có quyền yêu cầu cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề của hàng xóm hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 252 Bộ luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định: “Điều 252. Quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề
Trường hợp do vị trí tự nhiên của bất động sản mà việc cấp, thoát nước buộc phải qua một bất động sản khác thì chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua phải dành một lối cấp, thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy.
Người sử dụng lối cấp, thoát nước phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua khi lắp đặt đường dẫn nước; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trường hợp nước tự nhiên chảy từ vị trí cao xuống vị trí thấp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua thì người sử dụng lối cấp, thoát nước không phải bồi thường thiệt hại.”

Đối với trường hợp nêu trên, nếu thửa đất của bạn bị các bất động sản liền kề bao bọc, không có lối thoát nước ra hệ thống thoát nước chung và việc đặt đường ống qua phần đất của hàng xóm là giải pháp cần thiết, hợp lý thì bạn có quyền yêu cầu được thực hiện quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này phải bảo đảm lựa chọn vị trí, phương thức lắp đặt đường ống phù hợp, gây ảnh hưởng và thiệt hại ở mức thấp nhất đối với bất động sản của hàng xóm. Trường hợp việc thi công, lắp đặt hoặc sử dụng đường ống gây thiệt hại thì bạn có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật. Ngược lại, nếu nước tự nhiên chảy từ vị trí cao xuống vị trí thấp gây thiệt hại thì người sử dụng quyền cấp, thoát nước không phải bồi thường.
Như vậy, việc hàng xóm cho rằng bạn hoàn toàn không có quyền yêu cầu đặt đường ống thoát nước qua bất động sản của họ là chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp các bên không thể tự thỏa thuận về vị trí, phương thức thực hiện hoặc mức bồi thường (nếu có), bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc Tòa án giải quyết để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên cơ sở hài hòa lợi ích của các bên.
Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.

 

 

Thân gửi Quý khách hàng

Công ty Luật Phương Bình, về bản chất cũng giống như một công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, vậy nên văn hóa doanh nghiệp có những đặc thù, đặc điểm của nó.

I. Thương hiệu và logo

1. Luật Phương Bình - Luật sư Việt Nam, với mong muốn mà trí tuệ, tinh thần người Việt Nam, hiểu pháp luật, tập quán người Việt Nam.

2. Slogan:

"Luật sư của bạn" một từ đơn giản, gần gũi giản dị, luôn sát cánh, bên cạnh khách hàng, bảo vệ khách hàng, mang đến cho khách hàng sự hài lòng, an tâm và hạnh phúc.

"Luật sư của bạn" còn mang hàm ý rất lớn rằng chúng tôi luôn sẵn sàng phục vụ, đồng hành cùng thân chủ, khách hàng với sự tận tâm, chân thành của mình.

II. Giá trị cốt lõi

1. Chia sẻ

- Chia sẻ nội bộ: Chia sẻ kiến thức, chia sẻ cơ hội cùng nhau hợp tác với các luật sự, các cộng sự, các tổ chức, công ty luật trên toàn quốc.

- Chia sẻ với khách hàng: Chúng tôi luôn đứng trên quan điểm của luật pháp và quan điểm, mong muốn, nguyện vọng của khách hàng thể triển khai các công việc, phục vụ khách hàng.

- Chia sẻ với công đồng: Chúng tôi luôn cho rằng việc công đồng cùng hiểu biết pháp luật sẽ giúp cả công cộng đồng, cả đất nước hiểu biết pháp luật, từ đó tình trạng vi phạm pháp luật cúng thể mà giảm đi. Nên trách nhiệm chia sẻ kiến thức, công sức đến công đồng là việc rất quan trọng.

2. Tận tâm

Tận tâm với công việc, tân tâm với khách hàng, làm việc với "tâm đức" của luật sư bảo vệ chính nghĩa, lẽ phải, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tối đa.

3. Trách nhiệm

Khi có một kết quả không tốt, có lẽ ai cũng tìm cách để đùn đẩy trách nhiệm để nói rằng "lỗi đó không thuộc về tôi", nhưng ở Vietlawyer thì khác chúng tôi luôn thẳng thắn nhìn vào trách nhiệm của từng cá nhân, 

4. Không vi pháp luật

Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn luật, việc đầu tiên mà chúng tôi có thể làm tốt là không bản thân doanh nghiệp của mình, các thành viên của mình cần làm đúng theo quy định của pháp luật.

Từ đó mới có thể tư vấn, định hướng, cùng khách hàng triển khai các vụ việc, dự án, vụ án đúng theo quy định pháp luật, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của khách hàng.

Với những định hướng văn hóa rõ ràng, chúng tôi luôn nỗ lực để bản thân tốt lên mỗi ngày, từ đó hướng đến những thành công cùng khách hàng.

Vậy nên một lần nữa chúng tôi luôn mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của khách hàng.

Trân trọng.

Công ty Luật Phương Bình xin được gửi lời chào trân trọng và lời cảm ơn chân thành đến Quý khách hàng, Quý thân chủ, đã ủng hộ, giúp đỡ và tin tưởng chúng tôi trong những năm qua.

Được thành lập ngày 28 tháng 6 năm 2021, với đội ngũ Luật sư đông đảo, có thâm niên công tác trong ngành đều trên 10 năm, giàu kinh nghiệm.

Bên cạnh đó Công ty Luật Phương Bình còn có đội ngũ cố vấn là các Tiến sĩ, thạc sĩ là giảng viên, giám đốc pháp chế, công an (nghỉ hưu) lâu năm, dày dặn kinh nghiệm thực tiễn.

Ngoài ra với đội ngũ Luật sư tập sự, cử nhân luật, chuyên viên pháp lý trẻ, năng động, tài năng, nhiệt tình, được đào tạo bài bản từ các trường đại học uy tín hàng đầu của Việt Nam.

Chúng tôi, đã chiếm trọn niềm tin của khách hàng và chưa để khách hàng thất vọng trong những năm qua.

Tại Phương Bình, Chúng tôi cung cấp đầy đủ các dịch vụ: Thủ tục hành chính, tư vấn, tranh tụng, trong các lĩnh vực:

- Tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp theo vụ việc và thường xuyên;

- Tư vấn, tham gia bào chữa trong các giai đoạn tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ trong các vụ án hình sự;

- Tư vấn, đại diện theo uỷ quyền, cử luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng trong các vụ việc/vụ án tranh chấp dân sự;

- Tư vấn định hướng luật lao động cho doanh nghiệp và người lao động;

- Tư vấn, đại diện theo quỷ quyền để làm việc với các cơ quan quản lý nhà nước, cử luật sư bảo về quyền và lợi ích hợp pháp tại tòa án liên quan đến tranh chấp đất đai;

- Tư vấn, đại diện cho thân chủ trong các vụ án, vụ việc ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương, ly hôn có yếu tố nước ngoài;

- Và các vụ án, vụ việc về kinh doanh thương mại, hành chính, sở hữu trí tuệ...


Dù là vụ án, vụ việc nào với tâm đức của mình, chúng tôi luôn nỗ lực hoàn thành tốt công việc trách nhiệm của mình, để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng (thân chủ).

Với thế mạnh của mình, chúng tôi sẽ không ngừng phát triển để thu hút nhân tài, mở rộng thị trường, nghiên cứu chuyên sâu những nghiệp vụ pháp luật, nghiệp vụ tố tụng, kỹ năng giải quyết vụ việc... để hoàn thành tốt hơn, chăm sóc tốt hơn khách hàng của mình.

Và luôn hy vọng, sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ, tin tưởng của khách hàng.

Trân trọng.


Banner bài biết

BẠN ĐANG QUAN TÂM

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, không phải mọi vụ án đều được Tòa án giải quyết liên tục cho đến khi đưa ra bản án. Trong một số trường hợp, Tòa án có thể tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hai khái niệm này có điểm giống nhau là đều làm cho quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án không tiếp tục theo thủ tục thông thường, nhưng tạm đình chỉ và đình chỉ có bản chất và hậu quả pháp lý khác nhau. Vậy tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án dân sự là gì? Khi nào được áp dụng? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. 1. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án TẠM THỜI DỪNG giải quyết vụ án khi xuất hiện một trong những căn cứ luật định. Việc tạm đình chỉ KHÔNG làm CHẤM DỨT vụ án. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong CÁC TRƯỜNG HỢP chủ yếu sau (Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Đương sự là cá nhân chết hoặc cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động mà chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; + Đương sự mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên nhưng chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; + Chấm dứt việc đại diện hợp pháp nhưng chưa có người thay thế; + Cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan hoặc phải chờ cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước; + Cần chờ kết quả ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc chờ cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; + Cần chờ kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ:A khởi kiện B yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp. Trong trường hợp này, nếu đáp ứng điều kiện luật định, Tòa án có thể tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả của vụ án có liên quan.=> Khi nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ được khắc phục, vụ án có thể được tiếp tục giải quyết. 2. Hậu quả của việc tạm đình chỉ vụ án dân sự - Vụ án không bị xóa khỏi sổ thụ lý mà chỉ được ghi chú về quyết định tạm đình chỉ; - Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và sẽ được xử lý khi vụ án tiếp tục được giải quyết; - Thẩm phán được phân công vẫn có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc để khắc phục nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ; - Quyết định tạm đình chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. 3. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Khác với tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án CHẤM DỨT việc giải quyết vụ án sau khi đã thụ lý vì xuất hiện căn cứ theo quy định của pháp luật. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong CÁC TRƯỜNG HỢP như (Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; + Cơ quan, tổ chức đã giải thể, phá sản mà không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; + Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; + Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không thuộc trường hợp được pháp luật loại trừ (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan); + Đã có quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là đương sự và việc giải quyết vụ án liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; + Nguyên đơn không nộp tiền, ,chi phí tạm ứng chi phí định giá tài sản và các chi phí tố tụng khác theo quy định; + Đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định mà thời hiệu khởi kiện đã hết; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ: A khởi kiện B yêu cầu thanh toán khoản nợ. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, A tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Nếu việc rút yêu cầu đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. 4. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự - Theo Điều 217 và Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự, khi đình chỉ giải quyết vụ án:+ Tòa án xóa tên vụ án trong sổ thụ lý; + Trong trường hợp đương sự có yêu cầu, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và lưu bản sao theo quy định; + Trong nhiều trường hợp, đương sự không được khởi kiện lại cùng vụ án nếu vụ án sau không có gì khác về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác; + Việc xử lý tiền tạm ứng án phí phụ thuộc vào lý do đình chỉ. Ví dụ: Nếu người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện => tiền tạm ứng án phí được trả lại cho họ Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt => tiền tạm ứng án phí được sung vào công quỹ nhà nước. + Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cũng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Kết luận: Tạm đình chỉ = Tạm dừng → khắc phục lý do → tiếp tục giải quyết.Đình chỉ = Chấm dứt → không tiếp tục giải quyết  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Tôi có cho một người bạn vay 10 cây vàng. Thời điểm cho vay, hai bên chỉ thỏa thuận về số lượng vàng cho vay, không thỏa thuận về lãi suất và có lập hợp đồng vay tài sản với thời hạn trả nợ là 02 năm. Nay sắp đến thời hạn thanh toán, bạn tôi không đồng ý trả lại 10 cây vàng mà đề nghị quy đổi số vàng đã vay thành tiền theo giá vàng tại thời điểm vay để thanh toán. Tôi không đồng ý vì giá vàng hiện nay đã tăng cao, dẫn đến giữa hai bên phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp này, nếu tôi khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án sẽ buộc bên vay phải trả lại 10 cây vàng đã vay hay được phép thanh toán bằng tiền theo giá trị của số vàng tại thời điểm vay? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định: “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”.Trong tình huống nêu trên, đối tượng của hợp đồng vay là vàng (vật), khi đến hạn trả thì bạn của bạn phải trả số vàng theo đúng thỏa thuận ghi trong hợp đồng là 10 cây vàng. Việc bạn của bạn đề nghị quy đổi số vàng đã vay thành tiền tại thời điểm vay để thanh toán là không đúng quy định của pháp luật và cũng không đúng với thỏa thuận mà hai bên đã quy định trong hợp đồng.  Trường hợp hai bên không thể thương lượng hay hòa giải về hướng xử lý thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bên vay trả lại cho bạn số vàng đã vay. Tuy nhiên Tòa án vẫn quy đổi vàng thành tiền theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm để tính án phí, chi phí tố tụng theo quy định Đối với nghĩa vụ trả lãi chậm do bên vay chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì: Trong trường hợp Tòa án quyết định bên vay trả lại vàng cho bên cho vay thì không quyết định bên vay phải chịu lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp hợp đồng vay tài sản là vàng có thỏa thuận lãi thì nghĩa vụ trả lãi được thực hiện theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.Như vậy, đối với trường hợp của bạn, việc bên vay yêu cầu thanh toán bằng tiền theo giá trị 10 cây vàng tại thời điểm vay là không có căn cứ pháp luật nếu. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, bên vay có nghĩa vụ trả lại đúng loại tài sản đã vay, tức là 10 cây vàng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp các bên không tự thỏa thuận được thì bạn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ trả vàng.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.   
  Trong thực tế, nhiều cha mẹ khi có điều kiện thường muốn mua nhà để con đứng tên. Tuy nhiên, nếu người con chưa đủ 18 tuổi thì việc đứng tên sổ đỏ có được pháp luật cho phép hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trước tiên cần xem xét quy định của Bộ luật Dân sự liên quan đến người thành niên và người chưa thành niên, cụ thể: "Điều 20. Người thành niên 1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. 2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này. Điều 21. Người chưa thành niên 1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. 2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. 3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. 4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý." Theo đó: - Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, được tự mình xác lập, thực hiện và quyết định đối với các giao dịch dân sự, bao gồm cả việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất và đứng tên sổ đỏ.  - Đối với người chưa thành niên, việc tham gia giao dịch dân sự bị hạn chế, cụ thể: -> Dưới 6 tuổi: mọi giao dịch do cha mẹ hoặc người giám hộ xác lập và thực hiện thay.  -> Từ đủ 6 đến dưới 15 tuổi: khi tham gia giao dịch phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các nhu cầu sinh hoạt thông thường.  -> Từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi: có thể tự mình xác lập giao dịch dân sự, nhưng đối với giao dịch liên quan đến bất động sản hoặc tài sản phải đăng ký thì vẫn phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Như vậy, có thể thấy người chưa thành niên vẫn có quyền sở hữu tài sản. Tuy nhiên, việc xác lập và thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của họ, đặc biệt là bất động sản, phải thông qua hoặc được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ. Bên cạnh đó, về nguyên tắc, pháp luật không cấm người chưa thành niên đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở (sổ đỏ). Căn cứ khoản 1 Điều 134 Luật Đất đai 2024: "Điều 134. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất 1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng gắn liền với đất theo mẫu thống nhất trong cả nước." Do đó, con chưa thành niên vẫn có thể đứng tên sổ đỏ nếu tài sản đó được xác lập hợp pháp cho con. Ví dụ: cha mẹ mua nhà nhưng xác định người nhận chuyển nhượng hoặc được tặng cho là con,... Tuy nhiên, do con chưa thành niên chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nên mọi thủ tục liên quan đến việc mua bán, tặng cho, đăng ký sang tên đều phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện hoặc đồng ý. Trên thực tế, khi làm thủ tục cấp sổ đỏ đứng tên người chưa thành niên, cơ quan đăng ký đất đai sẽ yêu cầu thông tin về người đại diện theo pháp luật để ghi nhận việc quản lý, thực hiện quyền liên quan đến tài sản đó. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Chào Luật sư, tháng 5/2025 tôi có cho bạn là H vay số tiền 10.000.000 đồng khi vay thì hai bên có làm hợp đồng vay tiền, có chữ ký tên và ghi họ tên của H, không có ai chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có thời hạn trả nợ, không lãi suất. Đến tháng 01/2026, H đã trả lại đầy đủ số tiền này cho tôi. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026, H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và qua quá trình điều tra, xác minh xác định rằng số tiền H dùng để trả cho tôi là tiền do phạm tội mà có. Hiện nay, tôi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự nêu trên. Tôi hoàn toàn không biết và cũng không có căn cứ để biết số tiền H trả cho tôi là tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Vậy, xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết các quy định của pháp luật liên quan đến vụ án. Trả lời: Trong vụ việc trên, hành vi cho anh H vay số tiền 10.000.000 đồng là giao dịch dân sự được thể hiện qua hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hai bên đã thỏa thuận cho vay tài sản, Bên A đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng số lượng với số tiền 10.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nợ, tuy nhiên tháng 1/2026 anh H đã thanh toán khoản vay cho anh bên A số tiền 10.000.000 đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 1 Điều 466 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Như vây, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với giao dịch vay tài sản giữa bên A và anh H. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026 anh H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản, đối với số tiền anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A cũng được xác định là số tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của anh H. Anh A mong muốn được tư vấn 02 vấn đề sau: 1. Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi 1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. 2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Theo quy định, đối với hành vi của anh H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ quan chức năng sẽ điều tra, xác minh về các số tiền mà anh H đã lừa đảo để trả lại tài sản cho chủ ở hữu (bị hại). Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm trên đều phải được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, dù bạn nhận được tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không thể biết nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền, theo nguyên tắc, bạn sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để phục vụ trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để xem xét việc anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A trong trường hợp này có làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, việc anh H thanh toán khoản vay trên là hợp pháp và bên A cũng không biết được nguồn gốc số tiền trên thì không có căn cứ để cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ cho rằng số tiền anh H thanh toán khoản trên có nguồn gốc về hành vi phạm tội của anh H, như vậy số tiền 10.000.000 đồng sẽ được cơ quan chức năng thu hồi. Đối với việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi số tiền anh H đã thực hiện việc thanh toán khoản nợ với số tiền 10.000.000 đồng cho bên A, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên A. Căn cứ khoản 11 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ xác định bên A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bạn có quyền yêu cầu độc lập buộc anh H (bị cáo) hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bạn đã co anh H vay. Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:   “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù bạn là người cho vay hợp pháp và đã nhận lại tiền từ anh H, nhưng do số tiền này được xác định là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thu hồi nhằm trả lại cho người bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, việc nhận tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không có căn cứ để biết về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản không làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với bạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn cần chủ động thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay là có thật và hợp pháp, đồng thời gửi yêu cầu bồi thường thiệt hại đến Tòa án. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bản án sẽ buộc bị cáo có nghĩa vụ thanh toán lại khoản tiền tương ứng cho bạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Tôi có cho một người bạn vay số tiền 150.000.000 đồng. Khi cho vay, hai bên có thỏa thuận về việc tính lãi, tuy nhiên nội dung lãi suất cụ thể lại không được ghi nhận trong giấy nợ. Khi đến hạn thanh toán, giữa hai bên phát sinh tranh chấp liên quan đến việc trả lãi. Trong trường hợp này, mức lãi suất sẽ được xác định như thế nào theo quy định pháp luật? Trả lời: Căn cứ tại Điều 30 Luật Dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. 2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.” Theo quy định, lãi suất sẽ được tính như sau: ·      Nếu có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất, thì: -       Lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn ·      Mức lãi suất trần theo quy định là: -       Không được vượt quá 20%/năm của khoản vay (trừ trường hợp luật có quy định khác) ð Lãi suất áp dụng trong trường hợp của bạn là 50% x 20% = 10% Cách tính như sau: ·      Số tiền vay: 150.000.000 đồng ·      Lãi suất: 10%/năm Giả sử, tiền lãi của 1 năm được tính như sau: 150.000.000 x 10% = 15.000.000 Nếu vay trong thời gian ngắn hơn, tiền lãi xác định là: - Đối với 6 tháng: 150.000.000 x 10% x ½ = 7.500.000 đồng - Đối với 3 tháng: 150.000.000 x 10% x ¼ = 3.750.000 đồng Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 về lãi suất, mức lãi suất vay tiền cũng theo thỏa thuận, nhưng không được vượt quá 20%/năm (nếu thỏa thuận không rõ thì sẽ là 10%/năm). Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thực tiễn phân chia di sản thừa kế, một vấn đề thường gây tranh cãi là liệu trẻ sơ sinh – đặc biệt là những bé chưa chào đời tại thời điểm mở thừa kế – có được quyền hưởng di sản hay không. Quy định pháp luật hiện hành đã có những nguyên tắc rõ ràng về quyền thừa kế của trẻ sơ sinh, nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của các đối tượng yếu thế trong xã hội. 1. Trẻ sơ sinh có quyền thừa kế không? Căn cứ theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế như sau: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Theo đó, người thừa kế theo quy định của pháp luật là người đang sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Cho nên trẻ sơ sinh cũng thuộc đối tượng có quyền thừa kế theo quy định pháp luật. 2. Nếu chia di sản thừa kế theo pháp luật thì phần di sản của trẻ sơ sinh nhận được có bằng người khác? Căn cứ theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau: 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. 3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Theo đó, nếu trẻ sơ sinh thuộc hàng thừa kế được nhận di sản thì sẽ được nhận phần di sản bằng với những người ở cùng hàng thừa kế. Ngoài ra, do trẻ sơ sinh vẫn chưa đủ năng lực hành vi dân sự nên phần di sản mà trẻ sơ sinh được hưởng sẽ do người giám hộ quản lý cho đến khi trẻ sơ sinh thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Trong thực tế, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng vay tiền diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ thời hiệu khởi kiện để đòi lại số tiền đã cho vay. Việc hiểu đúng quy định về thời hiệu sẽ giúp người cho vay bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình một cách hiệu quả. Bài viết dưới đây sẽ trình bày chi tiết về vấn đề trên: 1. Hợp đồng vay tiền là gì? Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản (tiền) như sau: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Theo đó, việc các bên cam kết và tham gia vào hợp đồng vay tài sản không chỉ thông qua hình thức bằng văn bản mà còn có thể bằng một số hình thức khác như lời nói… Tuy nhiên, đối với hợp đồng vay tiền thì pháp luật dân sự bắt buộc phải lập thành văn bản. Trong trường hợp đã xác lập một hợp đồng vay tiền nhưng thông qua hình thức tin nhắn, hoặc bằng lời nói thì những tin nhắn, lời nói trao đổi giữa hai bên vẫn có giá trị về mặt pháp lý. Quyền và nghĩa vụ của hai bên vẫn được đảm bảo và tuân theo quy định của pháp luật. 2. Thời hiệu khởi kiện đòi tiền cho vay 1) Thời hiệu đối với nợ gốc Căn cứ Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong các trường hợp sau: - Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản. - Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan quy định khác. - Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai. - Trường hợp khác do luật quy định. Như vậy đối với nợ gốc (yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu) thì sẽ không áp dụng thời hiệu. 2) Thời hiệu đối với lãi vay Căn cứ Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng như sau: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Theo đó đối với trường hợp khởi kiện đòi nợ, thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ và các bên không có thỏa thuận gia hạn thời hạn cho vay. Kể từ thời điểm bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bên cho vay được cho là có quyền, lợi ích bị xâm phạm và được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp đã đến thời hạn phải trả nợ nhưng chưa thanh toán theo đúng thỏa thuận thì Tòa án có thể buộc bên vay phải thanh toán nợ, lãi và bồi thường thiệt hại. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695