DỊCH VỤ LUẬT SƯ HÌNH SỰ

So sánh Tội làm nhục người khác và Tội vu khống trong Bộ luật Hình sự 2015 1. Điểm giống nhau giữa Tội làm nhục người khác và Tội vu khống - Khách thể của tội phạm: cả hai tội đề xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Ngoài ra, tội vu khống còn xâm phạm đến quyền, lợi ích của người khác. - Nạn nhân của tội phạm: Là con người cụ thể, không phải pháp nhân hay nhóm người nào. - Chủ thể của tội phạm: Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. - Hình thức lỗi: Cố ý trực tiếp 2. Phân biệt Tội làm nhục người khác và Tội vu khống Tiêu chí Tội làm nhục người khác (Điều 155) Tội vu khống (Điều 156) Hành vi nguy hiểm cho xã hội Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác Thực hiện một trong các hành vi sâu đây: - Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự và gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. - Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Hình thức biểu hiện trên thực tế Việc thực hiện các hành vi có thể thông qua lời nói hoặc hành động với lỗi cố ý trực tiếp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác như: chửi bới, gào thét, tục tĩu, lăng mạ, xông vào lột xé quần áo, túm đầu cắt tóc giữa đám đông, chợ, phố, siêu thị, nhà hàng,… nhằm mục đích hạ thấp nhân cách, danh dự, nhân phẩm của người khác mà đặc điểm của hành vi thường diễn ra trực tiếp, công khai trước sự có mặt chứng kiến của nhiều người,… Ngoài ra, để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và cậy số lượng đông người áp đảo để tra khảo, giữ để đấm đá hoặc dùng công cụ, phương tiện nguy hiểm nhằm khống chế, đe dọa và buộc nạn nhân phải làm theo ý muốn của mình, hướng tới xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác…. Việc thực hiện hành vi trên thông qua các thủ đoạn như: Tạo ra các thông tin  không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó những thông tin sai sự thật. Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự Xác định được mức độ nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự người khác. (lưu ý: nếu chưa đến mức xử lý hình sự, người vi phạm bị xử lý thành chính theo Nghị định số: 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an tòa xã hội; phồng chống tệ nạn xã hội; phòng chống bao lực gia đình quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Hiện nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, tuy nhiên, tổng kết thực tiễn thường căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau như: - Thái độ, nhận thức của bản thân người phạm tội; - Cường độ mức độ và thời gian kéo dài của hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự; - Địa điểm, môi trường, bối cảnh xung quanh nơi bị làm nhục; - Uy tín của nạn nhân trong gia đình, cơ quan, tổ chức hoặc trong xã hội, phong tục tập quán, dư luận xã hội, truyền thống gia đình của nạn nhân; - Tâm lý tinh thần của nạn nhân trong và sau khi bị làm nhục Thực hiện một trong các hành vi trên: Tương tự, hiện nay cũng chưa có văn bản hướng dẫn xác định được việc bịa đặt… mức độ “ xúc phạm nghiêm trọng” đến nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Mục đích phạm tội Nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của người khác. Nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi ích của người khác. 3. Kết luận  Mặc dù Tội làm nhục người khác (Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015) và Tội vu khống (Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015) đều là các tội phạm xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân, nhưng hai tội danh này có bản chất và dấu hiệu pháp lý khác nhau. Điểm khác biệt cốt lõi là Tội làm nhục người khác được thực hiện thông qua các hành vi xúc phạm trực tiếp, nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của nạn nhân; trong khi Tội vu khống được thực hiện thông qua hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những thông tin mà người phạm tội biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, hoặc bịa đặt người khác phạm tội để tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền. Trên thực tế, việc phân định hai tội danh cần căn cứ vào bản chất hành vi, phương thức thực hiện, nội dung thông tin được đưa ra, mục đích của người thực hiện và các chứng cứ của vụ việc, tránh trường hợp nhầm lẫn giữa hành vi xúc phạm với hành vi bịa đặt thông tin sai sự thật. Đồng thời, trong trường hợp hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.  
Tình huống:Chị Tú hỏi: Anh trai tôi hiện đang bị tạm giam để phục vụ quá trình điều tra. Gia đình muốn gửi đồ ăn, đồ uống, một số đồ dùng sinh hoạt và tiền cho anh nhưng không biết pháp luật quy định người bị tạm giam được nhận những loại quà gì, một tháng được nhận bao nhiêu lần và những ai được phép gửi quà. Vậy trường hợp này được quy định như thế nào? Trả lời: Theo quy định mới nhất tại Điều 3 Thông tư 63/2026/TT-BCA cụ thể như sau: 1. Người bị tạm giam được nhận những loại quà gì? Người bị tạm giam được nhận một số loại quà từ người thân thích gồm: tiền Việt Nam đồng, đồ ăn, đồ uống và đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, trừ những đồ vật thuộc danh mục cấm.+ Đối với đồ ăn, đồ uống, người thân gửi quà phải mua tại căng tin của cơ sở giam giữ. + Đối với đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, có thể bao gồm: áo, quần, băng vệ sinh phụ nữ, bàn chải đánh răng bằng nhựa, bát nhựa, cốc nhựa, chăn, chiếu, chậu nhựa, dung dịch vệ sinh phụ nữ, dép nhựa, dầu gội đầu, sữa tắm, gối, khăn mặt, kem đánh răng, màn, xà phòng, nước rửa chén bát, tất, thìa nhựa và các vật dụng khác theo quy định. 2. Một tháng người bị tạm giam được nhận quà mấy lần? - Người bị tạm giam được nhận quà của người thân thích không quá 03 lần/01 tháng, mỗi lần không quá 05 kg.- HOẶC Người bị tạm giam có thể được nhận quà 01 lần/01 tháng nhưng không quá 07 kg.Riêng đối với đồ ăn, đồ uống, mỗi lần gửi không được vượt quá 10 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường của 01 người bị tạm giam. 3. Người thân thích được gửi quà là những ai? - Theo khoản 10 Điều 2 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025, người thân thích của người bị tạm giữ, người bị tạm giam bao gồm:+ Vợ, chồng; + Bố đẻ, mẹ đẻ; bố chồng, mẹ chồng; bố vợ, mẹ vợ; + Bố nuôi, mẹ nuôi; + Con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; + Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; + Anh ruột, chị ruột, em ruột; + Cụ nội, cụ ngoại; + Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột; + Cháu ruột, chắt ruột. => Người đến cơ sở giam giữ gửi quà phải thuộc nhóm người thân thích nêu trên và thực hiện thủ tục theo quy định và khi đến cơ sở giam giữ làm thủ tục gửi quà phải là người có tên trong Sổ thăm gặp và gửi quà do cơ sở giam giữ cấp.- Nếu người thân thích đến gửi quà lần đầu hoặc chưa có tên trong Sổ thăm gặp và gửi quà  THÌ phải có giấy tờ chứng minh mình là người thân thích của người bị tạm giam.(Việc chứng minh quan hệ thân thích có thể được thực hiện thông qua ứng dụng VNeID nếu các bên cùng là thành viên trong hộ gia đình hoặc bằng đơn đề nghị xác nhận là người thân thích có dán ảnh và được xác nhận theo quy định.) 4. Có trường hợp nào bị tạm dừng nhận quà không? - Trong trường hợp bất khả kháng nhằm phòng, chống thiên tai, dịch bệnh Thủ trưởng cơ sở giam giữ có thể quyết định tạm dừng việc nhận quà.- Việc tạm dừng phải nêu rõ thời gian và được niêm yết công khai tại địa điểm tiếp công dân trong cơ sở giam giữ. Kết luận:   + Người bị tạm giam được nhận tiền, đồ ăn, đồ uống và một số đồ dùng sinh hoạt thiết yếu từ người thân thích. + Về số lần, người bị tạm giam được nhận quà không quá 03 lần/tháng, mỗi lần không quá 05 kg hoặc 01 lần/tháng không quá 07 kg. + Người thân muốn gửi quà cũng cần thực hiện đúng thủ tục và chứng minh quan hệ theo quy định. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.  
Bùi Xuân Huấn được biết đến với biệt danh là "Huấn hoa hồng" thường tập trung hoạt động chủ yếu trên không gian mạng, trên mạng xã hội Facebook, ứng dụng TikTok và thông qua đó để tạo dựng hình ảnh gây ảnh hưởng với cộng đồng mạng, thu hút hàng triệu lượt người theo dõi bằng những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật; phát ngôn, truyền bá các nội dung phản cảm, tạo ra những tranh cãi, mâu thuẫn với những cá nhân khác có ảnh hưởng trên không gian mạng... Trước đó, ngày 6/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của Bùi Xuân Huấn và các đối tượng liên quan. Đồng thời, triệu tập các đối tượng để lấy lời khai, làm rõ các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Ngày 10/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với 5 bị can gồm: Bùi Xuân Huấn, Hoàng Ngọc Cường, Trương Thị Thương, Phạm Thị Ngọc Linh và Kiều Thị Hồng về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Mở rộng điều tra, ngày 14/8, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Bùi Xuân Huấn về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Với những hành vi này, Bùi Xuân Huấn có thể bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. Đối tượng Bùi Xuân Huấn (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Chiếm đoạt hơn 3 tỷ đồng và trách nhiệm về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Theo thông tin ban đầu xác định, thông qua sức ảnh hưởng trên mạng xã hội từ hoạt động bán hàng online, kêu gọi từ thiện Bùi Xuân Huấn đã chiếm đoạt tiền của nhiều người khác với tổng số tiền hơn 3 tỷ đồng. Để xác định trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ phương thức mà Huấn sử dụng để có được tài sản của người khác.  - Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Người nào có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối làm cho người khác tin tưởng và giao tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Mức hình phạt: + Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân.=> Như vậy, nếu số tiền hơn 3 tỷ đồng được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là số tiền Huấn thực tế chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Điều 174 thì sẽ phải đối mặt với mức hình phạt như trên. 2. Doanh thu hơn 300 tỷ đồng không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để ngoài sổ sách kế toán và trách nhiệm hình sự - Theo thông tin được công bố, hoạt động kinh doanh này có tổng doanh thu hơn 300 tỷ đồng nhưng Bùi Xuân Huấn cùng các đồng phạm không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để doanh thu ngoài sổ sách kế toán và gây thiệt hại nhiều tỷ đồng cho Ngân sách Nhà nước. - Vì vậy, Theo Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định hành vi trên đã thuộc vào trường hợp quy định tại Khoản 3 vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên. => Mức hình phạt: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của Bùi Xuân Huấn cùng đồng phạm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tối 18/8/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với 4 bị can gồm: Lê Văn Phú (tức Phú Lê), Lã Thúy Kiều, Phùng Thị Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan về các tội danh: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Theo thông tin điều tra ban đầu, trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023, Lã Thúy Kiều và Lê Văn Phú đã tham gia thành lập Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Xuất nhập khẩu Thiên Phú, Công ty TNHH Thanh Quang Đăng, Công ty TNHH Thương mại Thiên Phú Group. Thông qua 03 công ty nêu trên, Lã Thúy Kiều đã thuê gia công, buôn bán nhiều sản phẩm hàng hóa, quảng cáo trên nhiều nền tảng mạng xã hội với nội dung thổi phồng công dụng để thu hút khách hàng.  Riêng giai đoạn 2021-2025, Công ty Thiên Phú được xác định bán hàng nhưng không lập hóa đơn, không kê khai đầy đủ doanh thu. Hơn 107 tỷ đồng tiền bán hàng được chuyển vào nhiều tài khoản cá nhân của Kiều, Phú và người thân nhưng không được hạch toán vào sổ sách kế toán. Vậy các đối tượng có thể phải đối mặt với những chế tài nào? Đối tượng Lê Văn Phú (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Hơn 107 tỷ đồng doanh thu không hạch toán có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Khoản 3 Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định:+ Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trách nhiệm trong việc lập, cập nhật, kiểm tra sổ sách, báo cáo tài chính hoặc tài liệu kế toán mà vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán, gây thiệt hại thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.- Mức hình phạt: Trường hợp phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.  2. Không xuất hóa đơn, lập hóa đơn khống có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Điều 203 Bộ luật hình sự 2015 quy định phụ thuộc vào số lượng hóa đơn, số tiền thu lợi bất chính, mức thiệt hại đối với ngân sách nhà nướcTrường hợp 1: Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng:+ Phôi: từ 50 số - dưới 100 số+ Đã ghi nội dung: từ 10 số - dưới 30 số + Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng - dưới 100.000.000 đồng=> Phạt tiền từ 50.000.000 đồng - 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.Trường hợp 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên;g) Tái phạm nguy hiểm.=> Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của các đối tượng. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong đời sống hôn nhân, việc vợ chồng quản lý, sử dụng chung tiền bạc là điều phổ biến. Tuy nhiên, không phải mọi khoản tiền do một bên đang quản lý đều đương nhiên là tài sản chung của vợ chồng. Vậy chồng tự ý lấy tiền của vợ có bị xử lý về Tội trộm cắp tài sản hay không? Câu trả lời phụ thuộc trước hết vào việc khoản tiền đó là tài sản riêng hay tài sản chung để từ đó xác định trách nhiệm pháp lý. Dưới đây là những phân tích chi tiết về vấn đề này. 1. Chồng lấy tiền là tài sản riêng của vợ có thể phạm tội trộm cắp tài sản? - Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản riêng của vợ, chồng gồm: + Tài sản có trước khi kết hôn; + Tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng; + Tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân và các tài sản khác thuộc sở hữu riêng theo quy định pháp luật. - Nếu khoản tiền là tài sản riêng của vợ mà người chồng tự ý lấy, lén lút chiếm đoạt để sử dụng cho mục đích cá nhân thì có thể bị xem xét về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự khi đủ các dấu hiệu truy cứu TNHS  cụ thể: + Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định => Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.+ Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 quy định tại Điều luật này=> Bị phạt tù từ 2 năm đến 20 năm. - Pháp luật hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự chỉ vì người thực hiện hành vi là vợ hoặc chồng của người bị mất tài sản. Ví dụ: Chị A có 200 triệu đồng được tặng cho riêng và có căn cứ chứng minh đây là tài sản riêng. Anh B là chồng tự ý chuyển 100 triệu đồng từ tài khoản của chị A sang tài khoản của mình để sử dụng. Nếu chứng minh được hành vi lén lút chiếm đoạt, anh B có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự. 2. Nếu tiền là tài sản chung của vợ chồng thì sao? - Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản chung gồm: + Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh + Hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân + Tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung hoặc được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. - Theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.”  - Vì vậy, nếu tiền là tài sản chung, việc người chồng tự ý lấy tiền do vợ đang quản lý không cấu thành Tội trộm cắp tài sản, bởi người chồng cũng có quyền đối với tài sản chung. => Trường hợp này có thể phát sinh tranh chấp về việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung và cần xem xét theo quy định của pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình. 3. Chồng chiếm đoạt tiền của vợ có thể bị xử phạt hành chính về bạo lực kinh tế? - Ngoài trách nhiệm hình sự, hành vi chiếm đoạt tài sản của thành viên gia đình còn có thể bị xử phạt như sau: Theo Điểm a khoản 1 Điều 44 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định:“Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:a) Chiếm đoạt tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình.” => Như vậy, nếu chồng chiếm đoạt tài sản riêng của vợ, hành vi có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng về hành vi bạo lực về kinh tế, nếu thuộc trường hợp xử phạt hành chính. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695