DỊCH VỤ LUẬT SƯ HÌNH SỰ

So sánh Tội làm nhục người khác và Tội vu khống trong Bộ luật Hình sự 2015 1. Điểm giống nhau giữa Tội làm nhục người khác và Tội vu khống - Khách thể của tội phạm: cả hai tội đề xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Ngoài ra, tội vu khống còn xâm phạm đến quyền, lợi ích của người khác. - Nạn nhân của tội phạm: Là con người cụ thể, không phải pháp nhân hay nhóm người nào. - Chủ thể của tội phạm: Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. - Hình thức lỗi: Cố ý trực tiếp 2. Phân biệt Tội làm nhục người khác và Tội vu khống Tiêu chí Tội làm nhục người khác (Điều 155) Tội vu khống (Điều 156) Hành vi nguy hiểm cho xã hội Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác Thực hiện một trong các hành vi sâu đây: - Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự và gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. - Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Hình thức biểu hiện trên thực tế Việc thực hiện các hành vi có thể thông qua lời nói hoặc hành động với lỗi cố ý trực tiếp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác như: chửi bới, gào thét, tục tĩu, lăng mạ, xông vào lột xé quần áo, túm đầu cắt tóc giữa đám đông, chợ, phố, siêu thị, nhà hàng,… nhằm mục đích hạ thấp nhân cách, danh dự, nhân phẩm của người khác mà đặc điểm của hành vi thường diễn ra trực tiếp, công khai trước sự có mặt chứng kiến của nhiều người,… Ngoài ra, để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và cậy số lượng đông người áp đảo để tra khảo, giữ để đấm đá hoặc dùng công cụ, phương tiện nguy hiểm nhằm khống chế, đe dọa và buộc nạn nhân phải làm theo ý muốn của mình, hướng tới xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác…. Việc thực hiện hành vi trên thông qua các thủ đoạn như: Tạo ra các thông tin  không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó những thông tin sai sự thật. Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự Xác định được mức độ nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự người khác. (lưu ý: nếu chưa đến mức xử lý hình sự, người vi phạm bị xử lý thành chính theo Nghị định số: 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an tòa xã hội; phồng chống tệ nạn xã hội; phòng chống bao lực gia đình quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Hiện nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, tuy nhiên, tổng kết thực tiễn thường căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau như: - Thái độ, nhận thức của bản thân người phạm tội; - Cường độ mức độ và thời gian kéo dài của hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự; - Địa điểm, môi trường, bối cảnh xung quanh nơi bị làm nhục; - Uy tín của nạn nhân trong gia đình, cơ quan, tổ chức hoặc trong xã hội, phong tục tập quán, dư luận xã hội, truyền thống gia đình của nạn nhân; - Tâm lý tinh thần của nạn nhân trong và sau khi bị làm nhục Thực hiện một trong các hành vi trên: Tương tự, hiện nay cũng chưa có văn bản hướng dẫn xác định được việc bịa đặt… mức độ “ xúc phạm nghiêm trọng” đến nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Mục đích phạm tội Nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của người khác. Nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi ích của người khác. 3. Kết luận  Mặc dù Tội làm nhục người khác (Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015) và Tội vu khống (Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015) đều là các tội phạm xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân, nhưng hai tội danh này có bản chất và dấu hiệu pháp lý khác nhau. Điểm khác biệt cốt lõi là Tội làm nhục người khác được thực hiện thông qua các hành vi xúc phạm trực tiếp, nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của nạn nhân; trong khi Tội vu khống được thực hiện thông qua hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những thông tin mà người phạm tội biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, hoặc bịa đặt người khác phạm tội để tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền. Trên thực tế, việc phân định hai tội danh cần căn cứ vào bản chất hành vi, phương thức thực hiện, nội dung thông tin được đưa ra, mục đích của người thực hiện và các chứng cứ của vụ việc, tránh trường hợp nhầm lẫn giữa hành vi xúc phạm với hành vi bịa đặt thông tin sai sự thật. Đồng thời, trong trường hợp hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.  
Tình huống:Chị Tú hỏi: Anh trai tôi hiện đang bị tạm giam để phục vụ quá trình điều tra. Gia đình muốn gửi đồ ăn, đồ uống, một số đồ dùng sinh hoạt và tiền cho anh nhưng không biết pháp luật quy định người bị tạm giam được nhận những loại quà gì, một tháng được nhận bao nhiêu lần và những ai được phép gửi quà. Vậy trường hợp này được quy định như thế nào? Trả lời: Theo quy định mới nhất tại Điều 3 Thông tư 63/2026/TT-BCA cụ thể như sau: 1. Người bị tạm giam được nhận những loại quà gì? Người bị tạm giam được nhận một số loại quà từ người thân thích gồm: tiền Việt Nam đồng, đồ ăn, đồ uống và đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, trừ những đồ vật thuộc danh mục cấm.+ Đối với đồ ăn, đồ uống, người thân gửi quà phải mua tại căng tin của cơ sở giam giữ. + Đối với đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, có thể bao gồm: áo, quần, băng vệ sinh phụ nữ, bàn chải đánh răng bằng nhựa, bát nhựa, cốc nhựa, chăn, chiếu, chậu nhựa, dung dịch vệ sinh phụ nữ, dép nhựa, dầu gội đầu, sữa tắm, gối, khăn mặt, kem đánh răng, màn, xà phòng, nước rửa chén bát, tất, thìa nhựa và các vật dụng khác theo quy định. 2. Một tháng người bị tạm giam được nhận quà mấy lần? - Người bị tạm giam được nhận quà của người thân thích không quá 03 lần/01 tháng, mỗi lần không quá 05 kg.- HOẶC Người bị tạm giam có thể được nhận quà 01 lần/01 tháng nhưng không quá 07 kg.Riêng đối với đồ ăn, đồ uống, mỗi lần gửi không được vượt quá 10 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường của 01 người bị tạm giam. 3. Người thân thích được gửi quà là những ai? - Theo khoản 10 Điều 2 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025, người thân thích của người bị tạm giữ, người bị tạm giam bao gồm:+ Vợ, chồng; + Bố đẻ, mẹ đẻ; bố chồng, mẹ chồng; bố vợ, mẹ vợ; + Bố nuôi, mẹ nuôi; + Con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; + Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; + Anh ruột, chị ruột, em ruột; + Cụ nội, cụ ngoại; + Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột; + Cháu ruột, chắt ruột. => Người đến cơ sở giam giữ gửi quà phải thuộc nhóm người thân thích nêu trên và thực hiện thủ tục theo quy định và khi đến cơ sở giam giữ làm thủ tục gửi quà phải là người có tên trong Sổ thăm gặp và gửi quà do cơ sở giam giữ cấp.- Nếu người thân thích đến gửi quà lần đầu hoặc chưa có tên trong Sổ thăm gặp và gửi quà  THÌ phải có giấy tờ chứng minh mình là người thân thích của người bị tạm giam.(Việc chứng minh quan hệ thân thích có thể được thực hiện thông qua ứng dụng VNeID nếu các bên cùng là thành viên trong hộ gia đình hoặc bằng đơn đề nghị xác nhận là người thân thích có dán ảnh và được xác nhận theo quy định.) 4. Có trường hợp nào bị tạm dừng nhận quà không? - Trong trường hợp bất khả kháng nhằm phòng, chống thiên tai, dịch bệnh Thủ trưởng cơ sở giam giữ có thể quyết định tạm dừng việc nhận quà.- Việc tạm dừng phải nêu rõ thời gian và được niêm yết công khai tại địa điểm tiếp công dân trong cơ sở giam giữ. Kết luận:   + Người bị tạm giam được nhận tiền, đồ ăn, đồ uống và một số đồ dùng sinh hoạt thiết yếu từ người thân thích. + Về số lần, người bị tạm giam được nhận quà không quá 03 lần/tháng, mỗi lần không quá 05 kg hoặc 01 lần/tháng không quá 07 kg. + Người thân muốn gửi quà cũng cần thực hiện đúng thủ tục và chứng minh quan hệ theo quy định. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.  
Bùi Xuân Huấn được biết đến với biệt danh là "Huấn hoa hồng" thường tập trung hoạt động chủ yếu trên không gian mạng, trên mạng xã hội Facebook, ứng dụng TikTok và thông qua đó để tạo dựng hình ảnh gây ảnh hưởng với cộng đồng mạng, thu hút hàng triệu lượt người theo dõi bằng những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật; phát ngôn, truyền bá các nội dung phản cảm, tạo ra những tranh cãi, mâu thuẫn với những cá nhân khác có ảnh hưởng trên không gian mạng... Trước đó, ngày 6/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của Bùi Xuân Huấn và các đối tượng liên quan. Đồng thời, triệu tập các đối tượng để lấy lời khai, làm rõ các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Ngày 10/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với 5 bị can gồm: Bùi Xuân Huấn, Hoàng Ngọc Cường, Trương Thị Thương, Phạm Thị Ngọc Linh và Kiều Thị Hồng về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Mở rộng điều tra, ngày 14/8, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Bùi Xuân Huấn về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Với những hành vi này, Bùi Xuân Huấn có thể bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. Đối tượng Bùi Xuân Huấn (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Chiếm đoạt hơn 3 tỷ đồng và trách nhiệm về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Theo thông tin ban đầu xác định, thông qua sức ảnh hưởng trên mạng xã hội từ hoạt động bán hàng online, kêu gọi từ thiện Bùi Xuân Huấn đã chiếm đoạt tiền của nhiều người khác với tổng số tiền hơn 3 tỷ đồng. Để xác định trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ phương thức mà Huấn sử dụng để có được tài sản của người khác.  - Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Người nào có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối làm cho người khác tin tưởng và giao tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Mức hình phạt: + Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân.=> Như vậy, nếu số tiền hơn 3 tỷ đồng được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là số tiền Huấn thực tế chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Điều 174 thì sẽ phải đối mặt với mức hình phạt như trên. 2. Doanh thu hơn 300 tỷ đồng không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để ngoài sổ sách kế toán và trách nhiệm hình sự - Theo thông tin được công bố, hoạt động kinh doanh này có tổng doanh thu hơn 300 tỷ đồng nhưng Bùi Xuân Huấn cùng các đồng phạm không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để doanh thu ngoài sổ sách kế toán và gây thiệt hại nhiều tỷ đồng cho Ngân sách Nhà nước. - Vì vậy, Theo Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định hành vi trên đã thuộc vào trường hợp quy định tại Khoản 3 vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên. => Mức hình phạt: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của Bùi Xuân Huấn cùng đồng phạm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tối 18/8/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với 4 bị can gồm: Lê Văn Phú (tức Phú Lê), Lã Thúy Kiều, Phùng Thị Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan về các tội danh: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Theo thông tin điều tra ban đầu, trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023, Lã Thúy Kiều và Lê Văn Phú đã tham gia thành lập Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Xuất nhập khẩu Thiên Phú, Công ty TNHH Thanh Quang Đăng, Công ty TNHH Thương mại Thiên Phú Group. Thông qua 03 công ty nêu trên, Lã Thúy Kiều đã thuê gia công, buôn bán nhiều sản phẩm hàng hóa, quảng cáo trên nhiều nền tảng mạng xã hội với nội dung thổi phồng công dụng để thu hút khách hàng.  Riêng giai đoạn 2021-2025, Công ty Thiên Phú được xác định bán hàng nhưng không lập hóa đơn, không kê khai đầy đủ doanh thu. Hơn 107 tỷ đồng tiền bán hàng được chuyển vào nhiều tài khoản cá nhân của Kiều, Phú và người thân nhưng không được hạch toán vào sổ sách kế toán. Vậy các đối tượng có thể phải đối mặt với những chế tài nào? Đối tượng Lê Văn Phú (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Hơn 107 tỷ đồng doanh thu không hạch toán có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Khoản 3 Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định:+ Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trách nhiệm trong việc lập, cập nhật, kiểm tra sổ sách, báo cáo tài chính hoặc tài liệu kế toán mà vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán, gây thiệt hại thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.- Mức hình phạt: Trường hợp phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.  2. Không xuất hóa đơn, lập hóa đơn khống có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Điều 203 Bộ luật hình sự 2015 quy định phụ thuộc vào số lượng hóa đơn, số tiền thu lợi bất chính, mức thiệt hại đối với ngân sách nhà nướcTrường hợp 1: Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng:+ Phôi: từ 50 số - dưới 100 số+ Đã ghi nội dung: từ 10 số - dưới 30 số + Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng - dưới 100.000.000 đồng=> Phạt tiền từ 50.000.000 đồng - 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.Trường hợp 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên;g) Tái phạm nguy hiểm.=> Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của các đối tượng. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong đời sống hôn nhân, việc vợ chồng quản lý, sử dụng chung tiền bạc là điều phổ biến. Tuy nhiên, không phải mọi khoản tiền do một bên đang quản lý đều đương nhiên là tài sản chung của vợ chồng. Vậy chồng tự ý lấy tiền của vợ có bị xử lý về Tội trộm cắp tài sản hay không? Câu trả lời phụ thuộc trước hết vào việc khoản tiền đó là tài sản riêng hay tài sản chung để từ đó xác định trách nhiệm pháp lý. Dưới đây là những phân tích chi tiết về vấn đề này. 1. Chồng lấy tiền là tài sản riêng của vợ có thể phạm tội trộm cắp tài sản? - Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản riêng của vợ, chồng gồm: + Tài sản có trước khi kết hôn; + Tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng; + Tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân và các tài sản khác thuộc sở hữu riêng theo quy định pháp luật. - Nếu khoản tiền là tài sản riêng của vợ mà người chồng tự ý lấy, lén lút chiếm đoạt để sử dụng cho mục đích cá nhân thì có thể bị xem xét về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự khi đủ các dấu hiệu truy cứu TNHS  cụ thể: + Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định => Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.+ Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 quy định tại Điều luật này=> Bị phạt tù từ 2 năm đến 20 năm. - Pháp luật hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự chỉ vì người thực hiện hành vi là vợ hoặc chồng của người bị mất tài sản. Ví dụ: Chị A có 200 triệu đồng được tặng cho riêng và có căn cứ chứng minh đây là tài sản riêng. Anh B là chồng tự ý chuyển 100 triệu đồng từ tài khoản của chị A sang tài khoản của mình để sử dụng. Nếu chứng minh được hành vi lén lút chiếm đoạt, anh B có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự. 2. Nếu tiền là tài sản chung của vợ chồng thì sao? - Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản chung gồm: + Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh + Hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân + Tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung hoặc được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. - Theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.”  - Vì vậy, nếu tiền là tài sản chung, việc người chồng tự ý lấy tiền do vợ đang quản lý không cấu thành Tội trộm cắp tài sản, bởi người chồng cũng có quyền đối với tài sản chung. => Trường hợp này có thể phát sinh tranh chấp về việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung và cần xem xét theo quy định của pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình. 3. Chồng chiếm đoạt tiền của vợ có thể bị xử phạt hành chính về bạo lực kinh tế? - Ngoài trách nhiệm hình sự, hành vi chiếm đoạt tài sản của thành viên gia đình còn có thể bị xử phạt như sau: Theo Điểm a khoản 1 Điều 44 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định:“Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:a) Chiếm đoạt tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình.” => Như vậy, nếu chồng chiếm đoạt tài sản riêng của vợ, hành vi có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng về hành vi bạo lực về kinh tế, nếu thuộc trường hợp xử phạt hành chính. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Dao là vật dụng quen thuộc trong đời sống và được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, không phải mọi loại dao đều được  định là vũ khí quân dụng. Đặc biệt, pháp luật hiện hành có quy định riêng đối với dao có tính sát thương cao khi loại dao này được sử dụng nhằm xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Vậy dao được coi là vũ khí quân dụng khi nào và sử dụng dao trong trường hợp nào có thể bị xử lý hình sự? Dưới đây là những phân tích các quy định pháp luật về vấn đề này. Nguồn: Ảnh Phụ lục 5 Thông tư số 75/2024/TT-BCA 1. Vũ khí quân dụng là gì? Trường hợp nào dao được xác định là vũ khí quân dụng? - Theo khoản 1 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024:“Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những thiết bị, phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, súng săn.” - Dao được xác định là vũ khí quân dụng khi đáp ứng các điều kiện như sau: + Theo Khoản 6 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.” => Phải là dao có tính sát thương cao + Theo Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Vũ khí quân dụng bao gồm: Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5 và dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật;....”=> Sử dụng dao có tính sát thương cao với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật - Có thể hiểu đơn giản:+ Dao có tính sát thương cao + sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật =>  Là vũ khí quân dụng. 2. Dao có tính sát thương cao là những loại dao nào? - Theo Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư 75/2024/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an đã quy định Danh mục dao có tính sát thương cao như sau: + Dao sắc, nhọn: Lưỡi sắc và nhọn, hình dạng thẳng hoặc cong, có chiều dài từ 12cm trở lên, chiều rộng từ 2cm trở lên.+ Dao sắc: Lưỡi sắc không có đầu nhọn, hình dạng thẳng hoặc cong, chiều dài từ 20cm trở lên, chiều rộng từ 05cm trở lên.+ Dao gấp, dao bấm: Lưỡi có một hoặc nhiều cạnh sắc, nhọn, gấp hoặc bấm lại được, chiều dài từ 07cm trở lên.+ Dao tự chế hoặc hoán cải: Tay cầm dài từ 30cm trở lên; lưỡi có chiều dài từ 05cm trở lên, sắc nhọn hoặc sắc hoặc nhọn. 3. Hậu quả pháp lý của việc sử dụng dao để xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác? Tùy vào các trường hợp cụ thể có thể bị xử lý về hình sự phụ thuộc vào hành vi cụ thể, hậu quả xảy ra, mục đích của người sử dụng dao và các tình tiết khác của vụ việc. Tình huống 1: Dùng dao để xâm phạm đến sức khỏe của người khác - Nếu sử dụng dao để cố ý gây thương tích cho người khác, hành vi thỏa mãn đủ các yếu tố cấu thành tội phạm VÀ dao được xác định là vũ khí quân dụng thì => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời hoặc tùy nghi theo 2 tội danh khác nhau:  + Truy cứu về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015  + Truy cứu về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015. Tình huống 2: Dùng dao để xâm phạm đến tính mạng của người khác - Nếu người sử dụng dao thực hiện hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của người khác và hành vi thỏa mãn đủ các yếu tố cấu thành tội phạm VÀ dao được xác định là vũ khí quân dụng thì => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời hoặc tùy nghi theo 2 tội danh khác nhau: + Truy cứu về Tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015. + Truy cứu  về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Tóm tắt vụ việc Nguyễn Thị Bình Trường hợp của bà Bình xuất phát từ việc chỉ đạo thu tiền dạy thêm vượt trần so với Quyết định 22/2013 của UBND TP.Hà Nội. Quy định hiện hành áp dụng mức thu từ 6.000 đến 26.000 đồng/học sinh/tiết tùy theo sĩ số lớp (lớp càng đông, mức thu càng giảm). Tuy nhiên, cựu hiệu trưởng đã cào bằng mức thu 15.000 đồng/tiết/học sinh cho toàn bộ 24 lớp.Tổng số tiền thu về đạt hơn 2,1 tỷ đồng, trong đó phần chênh lệch cao hơn quy định là hơn 1 tỷ đồng, gây thiệt hại trực tiếp cho phụ huynh. Số tiền chênh lệch này được phân bổ 70% cho giáo viên trực tiếp giảng dạy và 30% phục vụ công tác quản lý, cơ sở vật chất.Tại phiên tòa sơ thẩm tháng 3, bà Bình bác bỏ cáo buộc sai phạm và đưa ra lập luận đã thỏa thuận: Việc thu chi nhận được sự đồng thuận từ phía phụ huynh. Căn cứ Thông tư 17/2012 của Bộ GD-ĐT, UBND cấp tỉnh chỉ được giao quyền quy định việc "thu, quản lý, sử dụng" chứ không có thẩm quyền áp mức trần tiền thu. do đó, bà cho rằng việc quy kết vi phạm là không đủ căn cứ. 2. Khi hai văn bản trái nhau, thì văn bản nào được ưu tiên áp dụng Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định việc áp dụng văn bản QPPL như sau:“1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.”Từ những quy định vừa trích dẫn, có thể rút ra hai nguyên tắc cốt lõi trong kỹ thuật áp dụng pháp luật. Thứ nhất, mọi hành vi phải được đánh giá dựa trên các văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm hành vi đó xảy ra. Thứ hai, và quan trọng nhất, là nguyên tắc "lựa chọn văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn". Khi một vấn đề được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau, nếu có sự xung đột hoặc mâu thuẫn, cơ quan thực thi pháp luật không được phép tùy tiện lựa chọn văn bản, mà bắt buộc phải gạt bỏ văn bản cấp dưới để áp dụng văn bản của cơ quan cấp trên. Theo Điều 4 của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 đã xác định thứ tự các bậc văn bản.  Một văn bản do địa phương ban hành mang tính chất hướng dẫn thi hành thì tuyệt đối phải tuân thủ giới hạn ủy quyền và không được phép thêm các quy định làm sai lệch tinh thần của văn bản gốc do cơ quan Trung ương (cấp Bộ) ban hành.Thực tế vụ án cho thấy sự xung đột giữa Thông tư 17/2012/TT-BGDĐT và Quyết định 22/2013/QĐ-UBND. Là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, Thông tư 17 chỉ ủy quyền cho địa phương quy định việc "thu, quản lý, sử dụng" mà không cho phép áp mức trần thu phí. Việc Quyết định 22 tự ấn định trần 6.000 – 26.000 đồng/tiết là vượt quá thẩm quyền ủy quyền và mâu thuẫn với văn bản cấp trên.Theo khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, việc ưu tiên áp dụng Thông tư 17 (vốn không khống chế mức trần 15.000 đồng/tiết) hay Quyết định 22 là vấn đề pháp lý mấu chốt. Do đó, tính hợp pháp trong căn cứ buộc tội bà Bình cần được Hội đồng xét xử xem xét và kết luận chính thức tại phiên tòa. 3. Văn bản bị vô hiệu: Hậu quả pháp lý đối với các quan hệ đã phát sinh Luật chưa quy định chi tiết cơ chế giải quyết hoặc khôi phục hậu quả pháp lý đối với từng quan hệ cụ thể đã phát sinh trước khi văn bản bị bãi bỏ hoặc xử lý. Luật chỉ quy định nguyên tắc chung là việc xử lý văn bản trái pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, việc giải quyết các quyền lợi, tranh chấp hoặc thiệt hại phát sinh từ việc áp dụng văn bản mâu thuẫn này sẽ phải dựa vào quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan (như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hoặc pháp luật tố tụng)Vụ án thu tiền học thêm tại Trường THCS Ba Đình là minh chứng rõ nhất cho yêu cầu thượng tôn pháp luật trong việc áp dụng văn bản quy phạm. Khi xảy ra xung đột giữa các quy định, nguyên tắc áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn là bắt buộc và duy nhất đồng thời, văn bản trái pháp luật phải bị thu hồi, bãi bỏ và bị xử lý trách nhiệm ban hành. Nhận thức đúng đắn nguyên tắc này không chỉ giúp các nhà quản lý tránh được những rủi ro pháp lý đáng tiếc, mà còn góp phần xây dựng một môi trường pháp lý thống nhất, công bằng và minh bạch. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tóm tắt sự việc Rạng sáng 30/8, tài xế taxi Nguyễn Tiến Đạt (28 tuổi) đón nhóm của Vân (4 người) từ quán Lin Lounge79 (Móng Cái). Khi Vân đòi quay lại chở thêm người, anh Đạt từ chối vì xe đã chở tối đa 4 khách, dẫn đến cãi vã.Ngay trên xe, Vân, Ly, Trang và Tùng xông vào giật tóc, tát, đấm và dùng dép đánh anh Đạt. Tài xế hô "cướp", mở cửa chạy về phía quán để thoát thân nhưng bị nhóm Vân đuổi theo. Vợ chồng Kiên và Loan đi taxi phía sau thấy vậy liền xuống xe hùa vào đánh: Kiên dùng điếu cày đập vào đầu, Loan dùng điện thoại đập gáy và đá vào mặt khiến anh Đạt gục tại chỗ.Nhóm này tiếp tục kéo nạn nhân dậy, dồn vào hành lang quán đánh tiếp, đồng thời hung hãn tấn công cả người dân vào can ngăn.Anh Đạt sau đó được đồng nghiệp đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Móng Cái. Sáng cùng ngày, gia đình nạn nhân đã trình báo công an để điều tra, xử lý.Ngày 9/9, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh khởi tố 6 bị can về tội Gây rối trật tự công cộng, theo Điều 318 Bộ luật Hình sự. Trong đó, Lê Trung Kiên bị tạm giam để điều tra theo khoản 2 Điều 318. Hà Thúy Vân, Đỗ Thanh Tùng (chồng Vân), Nguyễn Thế Mạnh và Hà Ngọc Ly bị tạm giam theo khoản 1. Đặng Ngọc Loan, vợ Kiên, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh.Đáng chú ý, Nguyễn Thị Mai Trang, người được xác định có liên quan vụ án hiện đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đang tổ chức truy tìm để xử lý theo quy định pháp luật. Vậy việc bỏ trốn để tránh bị bắt có phải là tình tiết làm nặng trách nhiệm hình sự? Bỏ trốn không phải là tình tiết làm tăng nặng trách nhiệm hình sự vì:Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:a) Phạm tội có tổ chức;b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;d) Phạm tội có tính chất côn đồ;đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;g) Phạm tội 02 lần trở lên;h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên;k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;n) Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.Theo Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định theo phương pháp liệt kê khép kín từ điểm a đến điểm p. Đáng chú ý, hành vi “bỏ trốn” hiện không được quy định trực tiếp là một tình tiết tăng nặng.Mặc dù điểm p khoản 1 Điều 52 có đề cập đến “Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm”, nhưng về bản chất pháp lý, “xảo quyệt” là từ chỉ tính chất dối trá, lừa lọc và sử dụng thủ đoạn tinh vi khó lường. Việc một người thuần túy bỏ trốn để né tránh trách nhiệm không đương nhiên đồng nghĩa với việc họ có “hành động xảo quyệt”.Chính vì sự không đồng nhất này, quy định hiện hành đang tồn tại khoảng trống trong việc xử lý hành vi bỏ trốn. Đây cũng là lý do đang có các đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định nhằm ghi nhận rõ ràng hành vi bỏ trốn là một tình tiết tăng nặng độc lập, bảo đảm tính chặt chẽ và nâng cao hiệu quả răn đe của pháp luật. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tế, khi bị người khác dùng vũ lực tấn công, người bị tấn công thường buộc phải chống trả để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình hoặc của người khác. Tuy nhiên, trong quá trình chống trả có thể xảy ra hậu quả nghiêm trọng, thậm chí làm người tấn công tử vong. Vậy nếu chống trả để tự vệ nhưng vô tình hoặc buộc phải làm chết người đang tấn công mình thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? 1. Phòng vệ chính đáng là gì? - Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: " Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo quyền, lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên"  Ví dụ, A cầm dao lao vào đâm B. Trong lúc bị tấn công, B giằng được con dao và chống trả nhằm ngăn A tiếp tục đâm mình. Nếu việc chống trả của B là cần thiết trong tình huống đó thì có thể được xem xét là phòng vệ chính đáng.  2. Phòng vệ chính đáng nhưng làm chết người có phạm tội không?  - Cũng theo Khoản 1 Điều 22, pháp luật khẳng định phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.  - Theo đó, nếu hành vi chống trả đáp ứng đầy đủ điều kiện của phòng vệ chính đáng, thì dù hậu quả khiến người đang thực hiện hành vi xâm phạm tử vong, người phòng vệ vẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ vì hậu quả chết người xảy ra.  Ví dụ, A dùng dao liên tục tấn công B vào những vùng nguy hiểm trên cơ thể. B không thể bỏ chạy và phải chống trả để bảo vệ tính mạng. Trong quá trình giằng co, B vô tình hướng con dao về lại phía của A, khiến con dao đâm vào A và A tử vong. Khi xem xét trách nhiệm của B, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá toàn bộ diễn biến vụ việc, đặc biệt là mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công và sự cần thiết của hành vi chống trả.  3. Khi nào phòng vệ làm chết người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?  - Khoản 2 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:  " Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.  Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự"  Ví dụ, A dùng gậy đánh B . Sau đó, B giằng được cây gậy đó đuổi theo A và đánh A nhiều nhát dẫn A bị tử vong. Tại thời điểm B dùng gậy đánh A, hành vi xâm hại của A đã chấm dứt thì không thể coi hành vi của B là chống trả cần thiết nhằm phòng vệ chính đáng. Trường hợp này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo tính chất thực tế của hành vi.  --> Như vậy, nếu phòng vệ chính đáng không tương xứng với hành vi tấn công, thì người có hành vi vượt giới hạn phòng vệ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.  4. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng làm chết người bị xử lý như thế nào?  Nếu cơ quan có thẩm quyền xác định người phòng vệ đã chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, và hành vi đó làm người tấn công tử vong thì có thể bị truy cứu về Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Điều 126 Bộ luật Hình sự.       - Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.         -  Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm. - Lưu ý: Điều 126 chỉ được áp dụng khi hành vi xảy ra trong hoàn cảnh có quyền phòng vệ nhưng người phòng vệ đã chống trả quá mức cần thiết  Nếu hành vi tấn công của phía bên kia đã kết thúc nhưng người được xác định là đang bị xâm hại vẫn chủ động đuổi theo, tấn công nhằm trả thù và cố ý tước đoạt tính mạng của người đó thì không đương nhiên được áp dụng Điều 126. Trách nhiệm hình sự phải được xác định dựa trên hành vi và các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể.  5. Phòng vệ chính đáng làm chết người có phải bồi thường không?  - Điều 594 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:  " Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.  Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại."  --> Do đó, nếu một người được xác định thực hiện hành vi phòng vệ hoàn toàn chính đáng thì họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại gây ra cho người thực hiện hành vi xâm phạm.  Nếu hành vi chống trả vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì ngoài việc có thể chịu trách nhiệm hình sự, người gây thiệt hại còn có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật.  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Vụ án Nguyễn Đức Anh và khoản bồi thường hơn 1,1 tỷ đồng. Ngày 6/10, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai đưa vụ án Nguyễn Đức Anh ra xét xử. Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ và toàn bộ diễn biến vụ án, Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của các nạn nhân. Theo nội dung vụ án, Nguyễn Đức Anh đã sử dụng vũ khí quân dụng để thực hiện hành vi sát hại 3 mẹ con. Sau khi gây án, bị cáo bị cơ quan chức năng bắt giữ và tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.Kết thúc phiên tòa, Hội đồng xét xử tuyên Nguyễn Đức Anh tử hình về tội Giết người và 6 năm tù về tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (Theo Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Vũ khí quân dụng bao gồm: Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5 và dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật;....” -->Dao có tính sát thương cao + sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật  =>  Là vũ khí quân dụng.). Do hình phạt cao nhất được áp dụng là tử hình nên tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo là tử hình.Bên cạnh hình phạt hình sự, Tòa án cũng giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án. Theo đó, Nguyễn Đức Anh bị buộc bồi thường cho các bị hại và gia đình tổng số tiền hơn 1,1 tỷ đồng. 2. Bị cáo bị tử hình ai là người chịu trách nhiệm thi hành khoản bồi thường? Theo khoản 1 điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: “Trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án”.Khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án trong thời hạn quy định, chấp hành viên phải ra các quyết định thi hành án và tống đạt đến trại giam cho người phải thi hành án. Chấp hành viên phải xác minh xem người phải thi hành án có tài sản như nhà, đất… để kê biên đảm bảo thi hành án.Người bị thi hành án bị tử hình thì trách nghiệm bồi thường được giải quyết theo nguyên tắc sau:Căn cứ khoản 2 điều 41 Luật thi hành án dân sự, người thừa kế chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi thường trong phạm vi di sản do người bị tử hình để lại, không bắt buộc dùng tài sản riêng của mình để trả thay. Trong trường hợp người phải thi hành án có tài sản để lại cơ quan thì hành án dân sự sẽ xử lý tài sản đó để thi hành án. Việc xử lý tài sản di sản thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp có bản án, quyết định của Tòa án về phân chia di sản thừa kế hoặc những người thừa kế có thỏa thuận khác về việc thực hiện nghĩa vụ.Trường hợp người thân của người bị tử hình tự nguyện thi hành hoặc tự nguyện chuyển giao nghĩa vụ thi hành án căn cứ Điều 36 của Luật Thi hành án dân sựTheo điều 48 của Luật Thi hành án dân sự nếu người bị tử hình không có di sản để lại hoặc nghĩa vụ đó không được chuyển giao cho người thừa kế, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự sẽ ra quyết định đình chỉ thi hành án với khoản bồi thường đó.Như vậy, người bị kết án tử hình vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự, và chính người đó (tù nhân mang án tử) là người có nghĩa vụ thi hành án bằng tài sản của mình, người thân không có nghĩa vụ bồi thường thay. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, ngày 19/10/2026, nam sinh L.H.V., học sinh lớp 12 Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, xã Nội Bài, Hà Nội, cùng một số học sinh khác bị cô giáo L.T.H. yêu cầu đứng góc lớp do không hoàn thành bài tập về nhà. Trong lúc cô giáo đang giảng bài, nam sinh đã dùng tay đánh vào vùng đầu, mặt của cô, khiến cô bị thương và gãy xương cánh mũi phải. Theo thông tin nhà trường công bố ngày 21/10/2026, kết quả giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của cô giáo là 12%. Vậy với hành vi này, nam sinh có thể phải chịu hình phạt nào theo quy định pháp luật? 1. Nam sinh hành hung cô giáo có thể phải chịu hình phạt nào? + Theo  Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định: “Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:....d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:...đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.” --> Trong vụ việc này, nam sinh có thể bị khởi tố theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù. + Tuy nhiên, nam sinh mới 17 tuổi tại thời điểm xảy ra vụ việc nên việc quyết định hình phạt phải tuân thủ các quy định riêng về người chưa thành niên phạm tội. Theo Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội phải chú trọng mục đích giáo dục và tạo điều kiện để họ sửa chữa sai lầm. Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xem xét độ tuổi, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cùng điều kiện áp dụng những biện pháp xử lý theo quy định. --> Vì vậy, khung hình phạt 02– 06 năm tù là khung hình phạt của tội danh đang bị điều tra, không đồng nghĩa với việc nam sinh chắc chắn phải chịu mức án này. Mức hình phạt cụ thể, nếu bị kết tội, sẽ do Tòa án quyết định trên cơ sở quy định dành cho người chưa thành niên. 2. Nam sinh và gia đình có phải bồi thường thiệt hại cho cô giáo không? Ngoài trách nhiệm hình sự, hành vi gây thương tích còn có thể làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự. + Theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, người bị xâm phạm sức khỏe có quyền yêu cầu bồi thường các khoản thiệt hại hợp lý, bao gồm: Chi phí khám, chữa bệnh, điều trị và phục hồi sức khỏe. Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút trong thời gian điều trị. Chi phí hợp lý và thu nhập bị mất của người chăm sóc, nếu có. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần theo quy định pháp luật. +  Đối với trách nhiệm bồi thường của người chưa thành niên, khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. --> Do đó, nếu xác định nam sinh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, việc thực hiện nghĩa vụ này sẽ được xem xét theo quy định trên, căn cứ vào thiệt hại thực tế và các chứng cứ liên quan. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng. 
Nguồn ảnh: Công an tỉnh Khánh Hòa Vụ việc 4 phạm nhân trốn khỏi Trại giam A2 (Bộ Công an, đóng tại xã Diên Lâm, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa) vào chiều ngày 21/10/2026 đang thu hút sự quan tâm đặc biệt từ dư luận. Hành vi trốn chạy này không chỉ thể hiện sự bốc đồng, liều lĩnh nhất thời mà còn tự đẩy bản thân vào một cái giá pháp lý vô cùng đắt: "Án chồng án"  1. Cái giá pháp lý: án mới chồng án cũ Nhiều phạm nhân lầm tưởng rằng trốn chạy thành công là sẽ có tự do. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, hành vi này lập tức kích hoạt một tội danh mới độc lập là: Tội trốn khỏi nơi giam, giữ (Điều 386 Bộ luật Hình sự 2015). + Khung hình phạt tăng thêm: Hình phạt nhẹ nhất cho tội này là 6 tháng tù và cao nhất lên đến 10 năm tù nếu có các tình trạng định khung như: Trốn trại có tổ chức, dùng vũ lực với người canh gác.+ Nguyên tắc tổng hợp hình phạt: Theo luật định, khi một phạm nhân phạm tội mới trong quá trình chấp hành án, tòa án sẽ xét xử tội mới, sau đó cộng toàn bộ hoặc một phần hình phạt chưa chấp hành của bản án cũ với hình phạt của bản án mới. Các phạm nhân trốn khỏi Trại giam A2 đều là những tội phạm nguy hiểm đang thụ án rất dài từ 10 đến 20 năm tù về các tội danh nghiêm trọng như Giết người, Mua bán ma túy, Trộm cắp tài sản. Chỉ vì một phút bốc đồng rủ nhau trốn trại mà thời gian phải chấp hành án của cả 4 đối tượng sẽ bị kéo dài thêm một khoảng rất dài. 2. Cơ hội duy nhất để được hưởng khoan hồng  Khi lệnh truy nã đã được ban hành trên toàn quốc, mọi ngả đường lẩn trốn của 4 phạm nhân đều bị siết chặt. Trong bối cảnh này, việc phạm nhân chủ động ra trình diện cơ quan chức năng sẽ được pháp luật ghi nhận là hành vi Đầu thú. => Đây là một chiếc phao cứu sinh có giá trị pháp lý rất lớn đối với các phạm nhân tại thời điểm này. => Việc ra đầu thú + thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải sẽ được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt (Theo Khoản 1 và  Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015) Tòa án có thể áp dụng Điều 54 để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695