DỊCH VỤ LUẬT SƯ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Chị M (Hà Nội) có gửi câu hỏi về cho Vietlawyer như sau: "Xin chào Luật sư. Tôi và chồng tôi kết hôn năm 2021 nhưng dạo gần đây chúng tôi liên tục xảy ra mâu thuẫn và đã không còn ở chung với nhau nữa. Tôi muốn ly hôn nhưng tôi có phát hiện Giấy đăng ký kết hôn của tôi bị mất và Toà nói nếu không có Giấy đăng ký kết hôn thì không giải quyết cho tôi. Trong trường hợp này thì thủ tục cấp lại Giấy đăng ký kết hôn thực hiện như thế nào vậy? Tôi xin cảm ơn Luật sư." Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho Công ty Vietlawyer. Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau: Theo khoản 1 Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định: “Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 1/1/2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại”. Như vậy, để giải quyết việc ly hôn trước tiên bạn cần đến Ủy ban nhân dân cấp xã, (có thể là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây hoặc nơi bạn đang cư trú hiện nay) để nộp hồ sơ xin cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Thủ tục này được quy định tại Điều 27 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, cụ thể như sau: Hồ sơ đăng ký lại kết hôn gồm các giấy tờ sau: - Tờ khai theo mẫu quy định; - Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp trước đây. Nếu không có bản sao Giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ cá nhân có các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn. Trong năm ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ, nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tại khoản 2 điều 18 của Luật Hộ tịch. Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương. Trong năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký kết hôn trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch. - Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại kết hôn như quy định tại khoản 2 điều này. - Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn trước đây và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch. Trường hợp không xác định được ngày, tháng đăng ký kết hôn trước đây thì quan hệ hôn nhân được công nhận từ ngày 1/1 của năm đăng ký kết hôn trước đây. Sau khi được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, bạn có quyền nộp đơn xin ly hôn gửi lên Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết việc ly hôn với chồng. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Người Việt Nam định cư tại nước ngoài có được nhận nuôi con nuôi Việt Nam hay không? – Tôi và chồng là người Việt Nam hiện đang định cư tại Canada. Do hiếm muộn nên vợ chồng tôi muốn nhận 1 cháu mồ côi tại Việt Nam làm con nuôi. Tôi muốn hỏi liệu người Việt Nam định cư tại nước ngoài có được nhận nuôi con nuôi Việt Nam hay không? Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty Luật VietLawyer. Trên quy định pháp luật hiện hành, chúng tôi trả lời câu hỏi của anh như sau:  1. Điều kiện nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Căn cứ Điều 29 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định về điều kiện đối với người nhận con nuôi như sau: “1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật này. 2. Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại điều 14 của Luật này và pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú”. 2. Điều kiện đối với người nhận con nuôi Theo khoản 1 Điều 14 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định điều kiện đối với người nhận con nuôi như sau: “1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; d) Có tư cách đạo đức tốt” 3. Các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Điều 28 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định như sau: “1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. 2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây: a) Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi; b) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; c) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi; d) Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi; đ) Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm”. Như vậy, theo quy định hiện hành thì bạn thuộc trường hợp là người Việt Nam định cư tại nước ngoài. Do đó, để được nhận con nuôi trong nước bạn cần đáp ứng các điều kiện đã nêu trên. Đồng thời, bạn cũng cần đáp ứng các điều kiện tại nước bạn đang định cư. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer về Người Việt Nam định cư tại nước ngoài có được nhận nuôi con nuôi Việt Nam hay không?. Với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/  để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
  Việc phân chia tài sản khi ly hôn là một quy trình quan trọng bắt buộc cả hai bên vợ, chồng phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Họ có thể tự nguyện thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án can thiệp để giải quyết theo quy định của pháp luật. Một vấn đề đặt ra là liệu vợ chồng có được yêu cầu chia tài sản chung khi đã ly hôn nhiều năm?  Công ty Luật VietLawyer xin chia sẻ về vấn đề này qua bài viết dưới đây.  Tài sản chung của vợ, chồng là gì?     Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác); tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.”    Như vậy, có thể hiểu tài sản chung của vợ,chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung; quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chia tài sản chung của vợ, chồng    - Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng: Là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.    - Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung: Đó là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.    - Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập    - Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng: Là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Vợ chồng có được yêu cầu chia tài sản chung khi đã ly hôn nhiều năm?    Pháp luật hiện hành khuyến khích việc tự thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn là quyền của cả hai người. Cả hai vợ chồng có thể tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án can thiệp để giải quyết.    Thực tế, việc chia tài sản chung thường sẽ được thực hiện cùng lúc với việc ly hôn. Nhưng không có quy định pháp luật nào bắt buộc phải giải quyết chia tài sản chung cùng lúc với việc giải quyết ly hôn. Nói cách khác có thể hoàn tất thủ tục ly hôn sau đó mới thực hiện việc chia tài sản. Hai bên vẫn là đồng chủ sở hữu đối với những tài sản chưa phân chia dù đã ly hôn. Khi có yêu cầu tiếp tục chia tài sản chung sau khi ly hôn thì vụ án chia tài sản vẫn là vụ án hôn nhân và gia đình vì vẫn phải chia theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Do đó, dù đã ly hôn nhiều năm, vợ chồng đã ly hôn vẫn có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản.    Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
   Kết hôn là đích đến mang tính cam kết lâu dài của tình yêu, nó mang ý nghĩa lớn trong việc xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững và tiến bộ. Tuy nhiên thực tế chỉ ra rằng, hiện nay, nhiều đôi nam nữ vì nhiều nguyên do dẫn đến việc kết hôn trái pháp luật. Vậy pháp luật quy định về xử lý việc kết hôn trái pháp luật như thế nào? Công ty Luật VietLawyer xin chia sẻ về vấn đề này qua bài viết dưới đây. Kết hôn trái pháp luật là gì?    Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.” ​​​​​​​​​​​​​​2. Căn cứ xác định kết hôn trái pháp luật    Việc kết hôn sẽ bị coi là trái pháp luật nếu vi phạm các điều kiện kết hôn tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Điều 8. Điều kiện kết hôn 1, Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: a, Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; b, Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; c, Không bị mất năng lực hành vi dân sự; d, Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này. 2, Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”    Như vậy, nếu vi phạm một trong những điều kiện trên thì việc kết hôn sẽ bị coi là trái pháp luật:    - Vi phạm về độ tuổi kết hôn: Nam, nữ chưa đủ tuổi (nam chưa đủ 20 tuổi và nữ chưa đủ 18 tuổi) mà đã được đăng ký kết hôn thì xác định là kết hôn trái pháp luật;    - Vi phạm điều kiện về ý chí tự nguyện: Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, nếu một trong hai bên hoặc cả hai bên bị lừa dối, bị cưỡng ép kết hôn thì bị coi là không tự nguyện và là kết hôn trái pháp luật;    - Vi phạm điều kiện về năng lực hành vi dân sự: Nam, nữ được kết hôn khi không bị mất năng lực hành vi dân sự, nếu một người mất năng lực hành vi dân sự mà vẫn được đăng ký kết hôn thì bị coi là kết hôn trái pháp luật;    - Kết hôn rơi vào các trường hợp bị cấm theo quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân gia đình 2014: Kết hôn giả tạo; Tảo hôn; Cưỡng ép, lừa dối kết hôn; Kết hôn với người đang có chồng, có vợ; Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Người có thẩm quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật    Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về người có thẩm quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật như sau: “1, Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này. 2, Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này: a, Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật; b, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; c, Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; d, Hội liên hiệp phụ nữ. 3, Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.” Quy định về xử lý việc kết hôn trái pháp luật    Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định về vấn đề xử lý việc kết hôn trái pháp luật như sau:    - Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không): Yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ đồng thời hủy Giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định.    - Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn: Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ.    - Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn thì Tòa án sẽ giải quyết theo một trong các hướng sau:    + Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn.    + Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trường hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình.    - Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn quy định thì thực hiện như sau:    + Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật;    + Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.    Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Việc lựa chọn chế độ tài sản trong hôn nhân của vợ chồng là một chế độ quan trọng. Tuy nhiên, không phải lúc nào thỏa thuận này cũng có hiệu lực. Một số trường hợp thỏa thuận tài sản chung vợ chồng bị vô hiệu như vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, hoặc một trong hai bên không tự nguyện thực hiện. Việc nắm rõ các điều kiện và quy định pháp lý liên quan sẽ giúp đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cả hai vợ chồng. Trong bài viết này, Vietlawyer xin chia sẻ về vấn đề này như sau:  1. Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản nào? Theo khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia định 2014, vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận. Cụ thể: (1) Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định: theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 Luật Hôn nhân và gia định 2014. (2) Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận: theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 Luật Hôn nhân và gia định 2014. Như vậy, vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận. Lưu ý: Các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 Luật Hôn nhân và gia định 2014 được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn. (Khoản 2 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia định 2014) 2. Khi nào thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu? Cụ thể tại khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia định 2014, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 và các luật khác có liên quan; (2) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 Luật Hôn nhân và gia định 2014, cụ thể: - Vi phạm các nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng  - Vi phạm về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình - Vi phạm về giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng - Vi phạm về giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (3) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình. Nội dung này được hướng dẫn chi tiết tại điểm b khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP. Theo đó, giữa cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình có quyền được cấp dưỡng, được thừa kế và các lợi ích khác. Điều 6 .... b) Nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật hôn nhân gia đình 2014 là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự  hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật khác có liên quan quy định. Ví dụ 1: Ông A đang có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Sau đó ông A kết hôn với bà C và thỏa thuận chuyển giao toàn bộ tài sản của mình cho bà C, do đó, không còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Trong trường hợp này thỏa thuận về tài sản giữa ông A và bà C bị vô hiệu. Ví dụ 2: Anh A có con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Sau đó, anh A kết hôn với chị B. Anh A và chị B đã thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó có nội dung toàn bộ tài sản của anh A sẽ do chị B thừa hưởng khi anh A chết. Trong trường hợp này, nội dung thỏa thuận về chế độ tài sản giữa anh A và chị B bị vô hiệu đối với phần tài sản của anh A mà người con bị mất năng lực hành vi dân sự được thừa kế theo quy định của pháp luật. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Trong nhiều trường hợp, vợ hoặc chồng có mong muốn ly hôn đơn phương nhưng lại không thể liên lạc được với người còn lại thì có thể tiến hành thủ tục ly hôn tại tòa án không. Trong bài viết này, Vietlawyer xin chia sẻ về nội dung này như sau: 1. Trường hợp nào được ly hôn đơn phương? Ly hôn đơn phương là việc ly hôn nhưng không phải do ý chí của hai bên mà chỉ xuất phát từ ý chí của một bên vợ hoặc chồng. Khác với ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương là việc một trong hai bên yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Quyền yêu cầu ly hôn được quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 như sau: - Vợ hoặc chồng hoặc cả hai đều có quyền yêu cầu ly hôn; - Cha, mẹ, người thân khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nếu một bên là vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi, đồng thời cha, mẹ, người thân khác cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nếu vợ chồng là nạn nhân của bạo lực gia đình. - Chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong nếu vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 01 tuổi. Đồng thời, để được ly hôn đơn phương cần đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình như sau: - Khi vợ, chồng yêu cầu ly hôn và việc hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho cả hai ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, mục đích của hôn nhân không đạt được; - Nếu vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn; - Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn của cha, mẹ người thân khác khi một bên có hành vi bạo lực gia đình thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình hành vi bạo lực này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia. 2. Có được ly hôn đơn phương khi không liên lạc được với chồng? Như đã trình bày ở trên, trường hợp hợp chồng bị tuyên bố mất tích thì vợ có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Như vậy, trong trường hợp không liên lạc được với chồng thì vợ có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng mất tích và sau đó yêu cầu thực hiện việc ly hôn Về điều kiện để yêu cầu tuyên bố người chồng mất tích, Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau: - Biệt tích 02 năm liền trở lên; - Đã áp dụng các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc biệt tích đó còn sống hay đã chết thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Ly hôn là một trong những quyền cơ bản của công dân, thể hiện quyền tự do trong hôn nhân. Khi ly hôn thường sẽ giải quyết các vấn đề như: nuôi con sau khi ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng, nghĩa vụ trả nợ chung…. Tuy nhiên hiện nay, có rất nhiều những cuộc ly hôn "đầy toan tính" như ly hôn giả để trốn tránh nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự khi trong cuộc hôn nhân đó có người lâm vào tình trạng vỡ nợ, phá sản hoặc sắp bị xử lý hình sự. Vậy pháp luật Việt Nam có những quy định như thế nào về hành vi trên? Công ty Luật Vietlawyer xin chia sẻ vấn đề này qua bài viết dưới đây: Ly hôn giả là gì? Khoản 15 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “ Ly hôn giả tạo là việc lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.”  Ly hôn giả để trốn nợ có vi phạm pháp luật không? Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “ 2. Cấm các hành vi sau đây: a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; đ) Yêu sách của cải trong kết hôn; e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn; g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính; h) Bạo lực gia đình; i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.” Như vậy, hành vi ly hôn giả để trốn nợ là hành vi bị cấm, vi phạm quy định của pháp luật. Mức phạt vi phạm hành chính đối với hành vi ly hôn giả để trốn nợ là bao nhiêu? Theo Khoản 2 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: “ 2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn; d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình; đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.” Hành vi ly hôn giả để trốn nợ là hành vi ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản nên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Người vi phạm buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi lợi dụng việc ly hôn giả để trốn nợ. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Trong xã hội Việt Nam, việc nhận con nuôi không chỉ thể hiện giá trị nhân văn mà còn gắn kết các mối quan hệ gia đình. Tuy nhiên, nhiều người băn khoăn liệu con nuôi có được hưởng quyền thừa kế như con đẻ hay không. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định rõ ràng để đảm bảo quyền lợi của con nuôi trong vấn đề này. 1. Con nuôi có được hưởng thừa kế như con đẻ? Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất, ngang hàng với con đẻ, vợ/chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của người để lại di sản. Điều này có nghĩa là con nuôi hợp pháp có quyền hưởng phần di sản bằng nhau với con đẻ, bất kể theo di chúc hay theo pháp luật. Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015 cũng khẳng định con nuôi và cha mẹ nuôi có quyền thừa kế di sản của nhau, tương tự như quan hệ giữa con đẻ và cha mẹ đẻ. Do đó, khi cha mẹ nuôi qua đời, con nuôi hợp pháp được hưởng thừa kế tài sản như con đẻ. 2. Điều kiện để con nuôi được công nhận hợp pháp Để con nuôi có quyền thừa kế như con đẻ, việc nhận nuôi phải đáp ứng các điều kiện sau: * Điều kiện của người nhận con nuôi Căn cứ theo khoản 1 Điều 14 Luật con nuôi 2010 quy định người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây: - Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; - Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; - Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; - Có tư cách đạo đức tốt. Lưu ý: Tại khoản 3 Điều 14 Luật con nuôi 2010 quy định: Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không cần các điều kiện: - Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; - Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 14 Luật con nuôi 2010 quy định những người sau đây không được nhận con nuôi: - Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; - Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; - Đang chấp hành hình phạt tù; - Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. * Điều kiện của người được nhận làm con nuôi - Trẻ em dưới 16 tuổi - Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: + Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; + Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. - Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. * Đăng ký nhận con nuôi: Căn cứ Điều 9 Luật con nuôi 2010, việc nhận con nuôi phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền như sau: - Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước. - Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. - Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài đăng ký việc nuôi con nuôi của công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài. Như vậy, để được công nhận là con nuôi hợp pháp thì việc nhận con nuôi phải được thực hiện theo đúng quy định. Khi đó, con nuôi mới có quyền thừa kế ngang hàng với con ruột. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Tranh chấp tài sản sau ly hôn có yếu tố nước ngoài thường phức tạp do liên quan đến pháp luật của nhiều quốc gia, tài sản ở nhiều nơi, và sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ. Để bảo vệ quyền lợi và tránh thiệt hại, cần nắm rõ các bước sau theo quy định pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. 1. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài là gì? Hôn nhân có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Khi xảy ra tình huống không mong muốn dẫn đến hôn nhân đổ vỡ, hai vợ chồng ly hôn sẽ cần giải quyết những vấn đề về con chung, cấp dưỡng, đặc biệt là về tài sản. Việc phân chia tài sản sau ly hôn cần phải tuân theo pháp luật Việt Nam bao gồm: Luật hôn nhân và gia đình, Bộ Luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự cùng các hiệp định hỗ trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết với quốc gia khác. 2. Xác định tài sản đang tranh chấp Do sự khác biệt về hệ thống pháp luật của từng quốc gia.  Trước tiên, bạn cần phải xác định được tài sản ở đâu, ở quốc gia nào và Việt Nam có ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với quốc gia đó hay không. Thứ hai, tài sản đó là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, động sản hay bất động sản. Bên cạnh đó cũng cần xác định được ai đứng tên và có được hình thành trong hôn nhân hay không. Quy định của Việt Nam về tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng như sau: Căn cứ vào Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung của hai vợ chồng bao gồm tài sản do vợ và chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng như lợi ích, lợi nhuận phát sinh từ tài sản riêng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân trừ những trường hợp được quy định tại khoản 1 của Điều 40 trong Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản kế thừa hoặc được tặng chung và tài sản mà vợ chồng đã thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất sau hôn nhân cũng được xem xét là tài sản chung, trừ khi có các trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế, tặng riêng, hoặc thông qua giao dịch sử dụng tài sản riêng. Nếu không có bằng chứng để chứng minh rằng tài sản của vợ chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên, thì tài sản đó sẽ được coi là tài sản chung. Căn cứ vào Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng của vợ và chồng bao gồm: tài sản mà mỗi người sở hữu trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế hoặc tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ và chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ và chồng cùng với các tài sản khác thuộc sở hữu riêng của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ và chồng cũng được xem xét là tài sản riêng của họ. Hoa lợi và lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. 3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật để chia tài sản có yếu tố nước ngoài Căn cứ theo Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài: 1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này. 2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam. 3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó. Như vậy, việc áp dụng pháp luật để phân chia tài sản có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam sẽ được giải quyết tuân theo pháp luật của nơi có tài sản hoặc pháp luật Việt Nam phụ thuộc vào tài sản đó ở đâu và chủ thể ly hôn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Thừa kế thế vị là một cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi của con, cháu hoặc chắt trong trường hợp cha/mẹ hoặc ông/bà của họ qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi của các thế hệ sau mà còn thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam trong việc duy trì công bằng trong phân chia di sản. Dưới đây là các điều kiện và thủ tục để thực hiện thừa kế thế vị theo Bộ luật Dân sự 2015. 1. Thừa kế thế vị là gì? Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế thế vị xảy ra khi con của người để lại di sản qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Trong trường hợp này: Cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Ví dụ: Ông A qua đời, để lại di sản. Con trai của ông A là anh B đã mất trước đó, nên con của anh B (cháu của ông A) được hưởng phần di sản của anh B. Nếu cháu cũng đã mất, chắt của ông A sẽ được thế vị. 2. Điều kiện để thực hiện thừa kế thế vị Để được hưởng quyền thừa kế thế vị, cần đáp ứng các điều kiện sau: Người thừa kế còn sống hoặc đã thành thai: Người thừa kế thế vị phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai trước khi người để lại di sản qua đời. Quan hệ huyết thống trực tiếp: Người thế vị phải là cháu (thế vị cho cha/mẹ) hoặc chắt (thế vị cho ông/bà) của người để lại di sản. Cháu được thế vị khi cha/mẹ của cháu đã qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Chắt được thế vị khi ông/bà nội/ngoại của chắt đã qua đời trước hoặc cùng thời điểm. Thừa kế theo pháp luật: Thừa kế thế vị chỉ áp dụng khi không có di chúc hoặc di chúc không chỉ định cụ thể người hưởng di sản. Nếu di chúc hợp pháp quy định rõ người nhận di sản, thừa kế thế vị không được áp dụng. Hàng thừa kế thứ nhất hoặc thứ hai: Thừa kế thế vị chỉ áp dụng cho người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (con, cháu) hoặc thứ hai (cháu, chắt) của người để lại di sản. Không bị truất quyền thừa kế: Người được thế vị (cha/mẹ hoặc ông/bà) khi còn sống phải có quyền hưởng di sản, tức là không thuộc trường hợp bị truất quyền thừa kế theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 (ví dụ: ngược đãi, xâm phạm danh dự người để lại di sản). 3. Thủ tục thực hiện thừa kế thế vị Để thực hiện quyền thừa kế thế vị, cần thực hiện các bước sau: Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ pháp lý Thu thập các giấy tờ cần thiết, bao gồm: Giấy chứng tử của người để lại di sản và người được thế vị (cha/mẹ hoặc ông/bà đã qua đời). Giấy khai sinh hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ huyết thống giữa người thế vị (cháu/chắt) và người để lại di sản. Giấy tờ tài sản thừa kế: Sổ đỏ, hợp đồng, sổ tiết kiệm, hoặc các tài liệu chứng minh quyền sở hữu tài sản. Bước 2: Công chứng văn bản khai nhận di sản Nộp hồ sơ tại văn phòng công chứng hoặc UBND có thẩm quyền tại nơi có tài sản thừa kế. Công chứng viên sẽ kiểm tra hồ sơ, xác minh quyền thừa kế và lập văn bản khai nhận di sản. Nếu các bên thừa kế thỏa thuận được về phân chia di sản, văn bản này cần được công chứng hoặc chứng thực. Bước 3: Sang tên tài sản thừa kế (nếu cần) Đối với bất động sản: Nộp văn bản khai nhận di sản tại văn phòng đăng ký đất đai để sang tên quyền sở hữu. Cần nộp lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan. Đối với tài sản khác (như ô tô, tài khoản ngân hàng): Th收藏 ực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Bước 4: Giải quyết tranh chấp (nếu có) Nếu các bên thừa kế không thống nhất về quyền thừa kế thế vị hoặc phân chia di sản, có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền (thường là nơi cư trú của người để lại di sản hoặc nơi có tài sản). Cung cấp đầy đủ chứng cứ về quan hệ huyết thống và tài sản để tòa án xem xét Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Trong quan hệ hôn nhân, việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt khi xảy ra ly hôn. Một trong những vấn đề thường gây tranh cãi là tài sản do bố mẹ tặng cho có được chia khi ly hôn hay không. Dựa trên Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Bộ luật Dân sự 2015, bài viết này sẽ làm rõ vấn đề này. 1. Quy định về tài sản chung và riêng của vợ chồng *Tài sản chung Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, như thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, và các thu nhập hợp pháp khác (trừ trường hợp quy định tại Điều 43). Tài sản được tặng cho chung hoặc thừa kế chung, ví dụ: nhà ở, quyền sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận đứng tên cả hai vợ chồng. Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất, được sử dụng để đảm bảo nhu cầu của gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng, tài sản đó được coi là tài sản chung (theo Điều 33). Lưu ý: Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. *Tài sản riêng Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm: Tài sản có trước khi kết hôn. Tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản được chia riêng theo quy định pháp luật. Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ hoặc chồng. Tài sản khác mà pháp luật quy định là tài sản riêng. Tài sản hình thành từ tài sản riêng (ví dụ: hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng) cũng thuộc về tài sản riêng, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc quy định pháp luật khác (theo Điều 43). 2. Trường hợp được chia tài sản bố mẹ cho khi ly hôn Tài sản do bố mẹ tặng cho có được chia khi ly hôn hay không phụ thuộc vào bản chất pháp lý của tài sản (chung hay riêng) và các thỏa thuận giữa vợ chồng. Dưới đây là hai trường hợp phổ biến: Trường hợp 1: Tài sản được tặng cho chung Nếu bố mẹ tặng tài sản cho cả hai vợ chồng (ví dụ: nhà ở, đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên cả hai), tài sản này được coi là tài sản chung theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Khi ly hôn: Tài sản chung sẽ được chia theo thỏa thuận của vợ chồng. Nếu không thỏa thuận được, tòa án sẽ phân chia theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thường dựa trên nguyên tắc chia đôi nhưng có xem xét các yếu tố như: Công sức đóng góp của mỗi bên vào việc duy trì, phát triển tài sản. Hoàn cảnh của mỗi bên, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của vợ hoặc con nhỏ (nếu có). Yêu cầu pháp lý: Việc tặng cho tài sản như bất động sản cần được công chứng hoặc chứng thực theo Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 để đảm bảo tính hợp pháp của giao dịch. Ví dụ: Nếu bố mẹ chồng tặng một căn nhà và giấy chứng nhận quyền sở hữu ghi tên cả hai vợ chồng, căn nhà này là tài sản chung và sẽ được chia khi ly hôn. Trường hợp 2: Tài sản tặng riêng nhưng được nhập vào tài sản chung Nếu bố mẹ tặng tài sản riêng cho con trai hoặc con gái (ví dụ: chỉ đứng tên người chồng trên giấy chứng nhận), tài sản này là tài sản riêng theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, nếu người được tặng tự nguyện nhập tài sản riêng vào tài sản chung (theo Điều 46 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014), tài sản đó sẽ trở thành tài sản chung. Thủ tục nhập tài sản riêng vào tài sản chung: Cần có thỏa thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, nêu rõ việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Đối với bất động sản, thỏa thuận này thường phải được công chứng hoặc chứng thực để đảm bảo tính pháp lý. Khi ly hôn: Nếu tài sản đã được nhập hợp pháp vào tài sản chung, nó sẽ được chia như tài sản chung (theo nguyên tắc nêu ở trường hợp 1). Nếu không có thỏa thuận hoặc giấy tờ chứng minh việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung, tài sản vẫn là tài sản riêng và bên còn lại không có quyền yêu cầu chia. Ví dụ: Nếu bố mẹ chồng tặng riêng cho con trai một mảnh đất, nhưng người chồng đồng ý nhập mảnh đất này vào tài sản chung thông qua thỏa thuận công chứng, thì khi ly hôn, người vợ có quyền yêu cầu chia phần tài sản đó. Lưu ý: Chứng minh tài sản chung hay riêng: Nếu không có căn cứ chứng minh tài sản là tài sản riêng, pháp luật sẽ coi đó là tài sản chung (Điều 33). Do đó, việc lưu giữ giấy tờ như hợp đồng tặng cho, thỏa thuận nhập tài sản, hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu là rất quan trọng. Công chứng/chứng thực: Các giao dịch liên quan đến bất động sản (tặng cho, nhập tài sản riêng vào tài sản chung) phải tuân thủ quy định về công chứng/chứng thực theo Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 để tránh tranh chấp. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Việc xác định tài sản thừa kế là tài sản chung hay riêng trong hôn nhân là một vấn đề pháp lý quan trọng, đặc biệt trong các trường hợp ly hôn hoặc tranh chấp tài sản. Dưới đây là những quy định pháp luật cần biết để phân biệt rõ ràng và chính xác. 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm những gì? Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, tài sản chung của vợ chồng bao gồm: – Tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; – Thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh của vợ chồng; – Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng; – Các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân như tiền thưởng, trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp (trừ trợ cấp ưu đãi người có công), tài sản xác lập quyền sở hữu từ vật vô chủ, vật bị bỏ quên, vật chìm đắm, vật nuôi thất lạc,... – Tài sản vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung; – Tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; – Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (trừ trường hợp thuộc tài sản riêng như thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc mua bằng tài sản riêng). 2. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm những gì? Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm: – Tài sản có trước khi kết hôn; – Tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; – Tài sản được chia riêng từ tài sản chung; – Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu cá nhân; – Tài sản hình thành từ tài sản riêng; – Một số tài sản được pháp luật xác định là tài sản riêng, bao gồm: quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ; tài sản theo phán quyết của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền; khoản trợ cấp, ưu đãi người có công; quyền tài sản gắn liền với nhân thân. 3. Tài sản thừa kế là tài sản chung hay riêng – Nếu tài sản được thừa kế theo di chúc: Trường hợp di chúc để lại cho cả hai vợ chồng thì tài sản đó là tài sản chung Trường hợp di chúc chỉ để lại cho một người (vợ hoặc chồng), thì tài sản đó là tài sản riêng của người được thừa kế. – Nếu tài sản được thừa kế theo pháp luật (không có di chúc): Phần tài sản được chia cho vợ hoặc chồng sẽ được coi là tài sản riêngcủa người được thừa kế. Ngoài ra, tài sản thừa kế dù là tài sản riêng vẫn có thể trở thành tài sản chung nếu vợ chồng có thỏa thuận nhập vào tài sản chung, hoặc nếu tài sản được sử dụng chung mà không phân định rõ ràng. Như vậy, để xác định tài sản thừa kế là tài sản chung hay riêng cần xem xét: người thừa kế là ai, thừa kế theo di chúc hay pháp luật, và có thỏa thuận nào giữa vợ chồng hay không. Việc xác định rõ ràng ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế rủi ro tranh chấp về sau và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mỗi bên. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695