HỎI ĐÁP: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ A và chồng B mua được thửa đất anh trai của B với giá 500.000.000 đồng tuy nhiên chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hình thức tặng cho. Tới nay, giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên A đã khởi kiện yêu cầu ly hôn. Khi giải quyết việc chia tài sản chung, A thắc mắc liệu thửa đất được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân có được chia hay không. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài chung của vợ chồng như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Theo quy định trên, tài sản do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc được hình thành từ tài sản riêng. Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án không chỉ căn cứ vào tên gọi của giao dịch là “tặng cho”, mà còn xem xét bản chất thực tế của việc chuyển nhượng tài sản. Trường hợp có căn cứ chứng minh việc nhận quyền sử dụng đất được thực hiện bằng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn có cơ sở xác định đây là tài sản chung.   Đối với tình huống trên các trường hợp có thể chứng minh, cụ thể: Trường hợp 1: Có chứng từ thanh toán thể hiện việc mua bán Nếu việc giao tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, có sao kê ngân hàng hoặc nội dung chuyển tiền thể hiện mục đích mua đất, đồng thời nguồn tiền là thu nhập của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì đây là căn cứ để chứng minh thửa đất được hình thành từ tài sản chung. Trường hợp 2: Người chồng thừa nhận là tài sản chung Trong quá trình giải quyết ly hôn, nếu B đồng ý xác định thửa đất là tài sản chung và thống nhất việc phân chia cho A thì đây là căn cứ để Tòa án xem xét công nhận theo sự thỏa thuận của các bên. Trường hợp 3: Có chứng cứ khác chứng minh giao dịch thực tế là mua bán Mặc dù hợp đồng thể hiện dưới hình thức tặng cho, nhưng nếu có tin nhắn, ghi âm, lời khai của người anh chồng hoặc người làm chứng xác nhận việc hai vợ chồng đã giao tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất thì đây vẫn có thể được xem là chứng cứ chứng minh tài sản được tạo lập bằng công sức, tài sản chung của vợ chồng. Từ đó có thể thấy, hình thức “tặng cho” không phải là căn cứ duy nhất để xác định tính chất tài sản. Nếu chứng minh được thửa đất được hình thành từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì quyền sử dụng đất này vẫn có thể được xác định là tài sản chung và được xem xét phân chia khi ly hôn. Từ các phân tích trên có thể thấy, việc chuyển quyền sử dụng đất được lập dưới hình thức “tặng cho” không đồng nghĩa thửa đất đương nhiên là tài sản riêng của chồng B. Khi giải quyết tranh chấp ly hôn, Tòa án sẽ xem xét toàn bộ quá trình hình thành tài sản, nguồn tiền thanh toán và bản chất thực tế của giao dịch. Trường hợp A chứng minh được việc nhận chuyển nhượng thửa đất có sử dụng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có căn cứ thể hiện giao dịch thực tế là mua bán chứ không phải tặng cho riêng, thì vẫn có cơ sở để xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng và được xem xét phân chia khi ly hôn. Ngược lại, nếu không có chứng cứ chứng minh việc giao nhận tiền hoặc không chứng minh được giao dịch “tặng cho” chỉ là hình thức thể hiện trên giấy tờ, Tòa án có thể căn cứ vào nội dung hợp đồng công chứng và hồ sơ sang tên để xác định tính chất pháp lý của tài sản theo hình thức giao dịch đã được xác lập. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
Tình huống: Trước khi kết hôn, anh A ký hợp đồng mua một căn nhà theo hình thức trả góp. Sau khi kết hôn, anh A vẫn là người trực tiếp thanh toán các khoản tiền trả góp. Do cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng có ý định ly hôn. Trong trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A hay tài sản chung của vợ chồng? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Theo quy định của pháp luật, thời diểm ký hợp đồng mua nhà trước khi kết hôn không phải là căn cứ duy nhất để xác định căn nhà trên là tài sản chung hay tài sản riêng. Đối với tình huống, tài sản là căn nhà mua theo hình thức trả góp do đó, cần phải xem xét thời điểm hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và khoản tiền dùng để thanh toán là của A hay của hai vợ chồng? Theo đó, nếu việc trả góp đã được anh A hoàn tát trước thời điểm đăng ký kết hôn thì căn nhà được hình thành hoàn toàn từ tài sản của anh A trước khi kết hôn. Trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, anh A phải có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán trước khi đăng ký kết hôn.Ngược lại, nếu việc trả góp vẫn tiếp tục sau khi hai bên đăng ký kết hôn thì cần xem xét đến số tiền dùng để thanh toán các khoản trả góp trong thời kỳ hôn nhân. Trường hợp dùng tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân… thì căn nhà trên được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 còn quy định, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được mặc nhiên xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, nghĩa vụ chứng minh căn nhà là tài sản riêng thuộc về người đưa ra yêu cầu xác định tài sản riêng. Nếu không chứng minh được, căn nhà sẽ được coi là tài sản chung theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Sau khi ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là trách nhiệm của cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con nhằm bảo đảm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Tuy nhiên, trên thực tế, chi phí nuôi con có thể thay đổi theo thời gian do con lớn lên, học tập ở cấp học cao hơn, phát sinh chi phí khám chữa bệnh hoặc giá cả sinh hoạt tăng. Vậy trong trường hợp này, mức cấp dưỡng đã thỏa thuận hoặc đã được Tòa án quyết định có thể được thay đổi hay không? 1. Mức cấp dưỡng sau ly hôn được xác định như thế nào? - Theo Khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định mức cấp dưỡng được xác định căn cứ vào:+ Thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;+ Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.Cha, mẹ có thể tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng và thời điểm cấp dưỡng. Trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, mức cấp dưỡng không phải là một con số cố định cho mọi trường hợp mà được xác định dựa trên điều kiện thực tế của các bên tại thời điểm giải quyết. 2. Chi phí nuôi con tăng thì có được thay đổi mức cấp dưỡng không? - Theo Khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."- Như vậy, mức cấp dưỡng có thể thay đổi khi có lí do chính đáng ví dụ như: + Chi phí học tập của con tăng; + Con bị bệnh, cần điều trị hoặc chăm sóc y tế thường xuyên; + Giá cả hàng hóa, chi phí sinh hoạt tăng đáng kể khiến mức cấp dưỡng hiện tại không còn đáp ứng nhu cầu thiết yếu;+ Người trực tiếp nuôi con gặp khó khăn về kinh tế ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền lợi của con; ....=>Việc có được điều chỉnh mức cấp dưỡng hay không sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và các tài liệu, chứng cứ chứng minh sự thay đổi về nhu cầu của con hoặc khả năng thực tế của người cấp dưỡng. 3. Cần chuẩn bị những tài liệu gì khi yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng? - Để yêu cầu Tòa xem xét, người yêu cầu nên chuẩn bị các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình chẳng hạn:+ Bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án;+ Giấy khai sinh của con;+ Tài liệu chứng minh liên quan đến chi phí học tập, khám chữa bệnh, sinh hoạt của con hoặc các tài liệu khác chứng minh hoàn cảnh thực tế đã thay đổi;+ Tài liệu chứng minh thu nhập hoặc sự thay đổi về điều kiện kinh tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;+ Tài liệu chứng minh liên quan đến chi phí học tập, khám chữa bệnh, sinh hoạt của con hoặc các tài liệu khác chứng minh hoàn cảnh thực tế đã thay đổi. 4. Kết luận - Mức cấp dưỡng sau ly hôn không phải là cố định. Khi có lý do chính đáng, chẳng hạn chi phí nuôi con tăng hoặc khả năng tài chính của cha, mẹ thay đổi, các bên có quyền thỏa thuận điều chỉnh mức cấp dưỡng. Nếu không thể thống nhất, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định mức cấp dưỡng phù hợp nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của con. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Tôi và vợ kết hôn đã được 3 năm. Tôi làm nghề thợ xây, còn vợ là công nhân. Hằng tháng, sau khi nhận lương, tôi đều đưa gần như toàn bộ tiền cho vợ quản lý, chỉ giữ lại khoảng 200.000 đồng để đổ xăng đi làm. Vừa qua, vợ tôi mua một tờ vé số và may mắn trúng giải thưởng trị giá 2.000.000.000 đồng. Hiện nay, vợ tôi đang có ý định ly hôn. Tôi muốn hỏi, khoản tiền trúng vé số này được xác định là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ tôi? Nếu ly hôn thì tôi có quyền được chia khoản tiền này hay không?Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình, quy định tài sản chung của vợ chồng bao gồm: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Căn cứ Khoản 1 Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định về khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm: “Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng sổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của nghị định này.”Chiếu theo tình huống trên, hai vợ chồng đã kết hôn được 3 năm. Hằng tháng, thu nhập từ tiền lương của vợ chồng đều phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Người vợ sử dụng khoản tiền này để mua vé số và sau đó trúng thưởng 2.000.000.000 đồng. Theo quy định nêu trên, khoản tiền trúng thưởng xổ số này là thu nhập hợp pháp khác phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, việc người vợ đang có ý định ly hôn không làm thay đổi bản chất pháp lý của khoản tiền trúng thưởng. Khi giải quyết ly hôn, nếu giữa vợ chồng không tự thỏa thuận được về việc phân chia tài sản thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết theo quy định về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.Vậy, đối với khoản tiền trúng thưởng 2.000.000.000 đồng trong tình huống trên, đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn, người chồng có quyền yêu cầu Tòa án xem xét phân chia khoản tiền này theo đúng nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng được quy định trong LHN & GĐ.   
Chị Ngân hỏi: Trước đây khi ly hôn, do tôi không có công việc ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Tòa án đã giao con gái cho chồng cũ trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay tôi đã có công việc ổn định, có điều kiện tốt hơn để chăm sóc, nuôi dưỡng con. Tôi muốn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao con cho tôi chăm sóc thì có được không? Ngoài ra, thời gian gần đây con gái thường xuyên nói nhớ mẹ và muốn được ở với tôi. Chồng cũ biết việc này nên đã hạn chế, thậm chí có lúc không cho tôi gặp và đón con. Tôi phải làm thế nào để bảo vệ quyền thăm nom, chăm sóc con của mình? Trả lời: 1. Có được thay đổi người trực tiếp nuôi con không? - Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc chủ thể có quyền yêu cầu theo quy định pháp luật KHI:+ Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; hoặc+ Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. - Và Theo Khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khi giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. => Vì vậy, nếu con gái của chị hiện nay đã từ đủ 7 tuổi trở lên thì việc cháu thường xuyên thể hiện mong muốn được ở với mẹ là yếu tố Tòa án có thể xem xét. Tuy nhiên, nguyện vọng của con không phải là yếu tố duy nhất quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tòa án vẫn phải đánh giá toàn diện điều kiện của cả cha và mẹ và đặt lợi ích của con lên hàng đầu. 2. Chồng cũ có quyền hạn chế việc chị thăm con không? Không. Bởi: - Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.  - Khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha, mẹ trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.  => Do đó, việc chồng cũ chỉ vì biết con gái nhớ mẹ mà tự ý ngăn cản chị gặp con, hạn chế việc thăm nom của chị là trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc trường hợp Tòa án có quyết định hạn chế quyền thăm nom. Mức xử phạt với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con (Điều 42 Nghị định 282/2025/NĐ-CP):+ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, trừ trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án.   Chồng cũ chị ngăn cản việc chị thăm nom con đồng thời con có nguyện vọng ở với mẹ và chị có điều kiện nuôi, dạy con tốt hơn thì đây là những điều kiện cần thiết để chị có thể được toà đồng ý yêu cầu thay đổi quyền nuôi con. Nên chị hãy làm đơn yêu cầu thay thổi quyền nuôi con đến toà án nhé. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trường hợp người vợ sinh con với người khác trong thời kỳ hôn nhân thì ai được xác định là cha của đứa trẻ trong giấy khai sinh? Người cha sinh học (người có quan hệ huyết thống) có được đứng tên trong giấy khai sinh hay người chồng vẫn được xác định là cha theo quy định pháp luật?Đây là tình huống có thể phát sinh nhiều vướng mắc trong việc xác định cha, mẹ, con, đặc biệt khi người cha sinh học khác với người chồng về mặt pháp lý. Dưới đây là những phân tích dựa trên các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Ly thân có làm chấm dứt quan hệ hôn nhân không? - Theo Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.”- Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.” => Như vậy, việc vợ chồng không còn chung sống, sống riêng hoặc ly thân KHÔNG LÀM chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chỉ khi có bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng mới chấm dứt. Do đó, nếu người vợ sinh con trong thời gian đang ly thân nhưng chưa có bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực, thì về mặt pháp lý vẫn được xác định là sinh con trong thời kỳ hôn nhân. 2. Sinh con với người khác trong thời kỳ ly thân, khi khai sinh thì có được khai tên cha ruột đứa trẻ không? Câu trả lời là CÓ THỂ.  - Theo Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.”=>Vì vậy, trường hợp người vợ đang ly thân nhưng chưa ly hôn mà sinh con với một người khác thì đứa con đó mặc định là con chung của vợ chồng hợp pháp. Do đó, khi khai sinh cơ quan hộ tịch sẽ không tự động cho phép đứng tên người cha khác. NHƯNG điều này không có nghĩa trong mọi trường hợp người chồng sẽ là cha sinh học (người có quan hệ huyết thống) của đứa trẻ.Vậy người cha sinh học của đứa trẻ sẽ được ghi tên trên giấy khai sinh của con mình khi nào? Pháp luật vẫn có cơ chế để giải quyết trường hợp người  là cha sinh học của đứa trẻ không phải là chồng khi có yêu cầu xác định mình là cha của đứa trẻ cụ thể: + Theo khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”+ Theo Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Người đang không được nhận là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.”+ Đồng thời, Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền nhận con của cha, mẹ “Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.” => Như vậy, trường hợp người chồng không thừa nhận con hay người khác có yêu cầu xác định quan hệ cha – con KHI có căn cứ pháp lý xác định người này là cha hay không phải là cha của đứa trẻ thì thông tin về người cha có thể được đăng ký, điều chỉnh trong giấy khai sinh khi có quyết định hoặc bản án của toà án. Kết luận: Vì vậy, nếu người mẹ sinh con với người khác trong thời kỳ ly thân, việc ghi nhận người cha sinh học trên giấy khai sinh PHẢI phát sinh thêm thủ tục khởi kiện/yêu cầu toà án công nhận quan hệ cha con và làm đăng ký nhận cha, con tại UBND có thẩm quyền. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Ký giấy cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”: Tòa án có công nhận không? Nhiều cặp đôi trước khi kết hôn lập giấy cam kết với nội dung: nếu một trong hai người ngoại tình, người có lỗi sẽ phải ra đi tay trắng, không được chia tài sản khi ly hôn. Không ít người cho rằng chỉ cần hai bên tự nguyện ký tên thì cam kết này đương nhiên có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, không phải cứ ký cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng” thì khi ly hôn, người ngoại tình sẽ mất toàn bộ tài sản. Việc cam kết có được công nhận hay không còn phụ thuộc vào nội dung, hình thức văn bản, thời điểm lập và các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng. 1. Cam kết trước hôn nhân có giá trị pháp lý không? - Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:  "Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn." => Như vậy, nếu hai bên lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, pháp luật Việt Nam công nhận việc vợ chồng thỏa thuận về chế độ tài sản trước hôn nhân, nhưng phải tuân thủ đúng hình thức và nội dung pháp luật quy định. Do đó, việc hai bên tự nguyện ký giấy không đồng nghĩa với việc mọi nội dung ghi trong giấy đều đương nhiên được Tòa án công nhận. Ví dụ: Trước khi đăng ký kết hôn, A và B chỉ viết một tờ giấy có nội dung “nếu ai ngoại tình thì người đó không được nhận bất kỳ tài sản nào khi ly hôn”, rồi cả hai ký tên. Nếu văn bản này được dùng như một thỏa thuận xác lập chế độ tài sản trước hôn nhân nhưng không được công chứng hoặc chứng thực theo Điều 47, thì không đáp ứng yêu cầu về hình thức của thỏa thuận này và văn bản này không có giá trị pháp lý. 2. Nếu có cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”, Tòa án có bắt buộc áp dụng không? - Nguyên tắc giải quyết tài sản  Khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau: "Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết." => Pháp luật quy định nếu vợ chồng áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được thực hiện theo thỏa thuận đó. Tuy nhiên, nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng các quy định pháp luật tương ứng để giải quyết.  - Các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vô hiệu. Khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: "a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan; b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này; c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình." => Vì vậy, nếu điều khoản “ra đi tay trắng” được ghi trong một văn bản không đáp ứng yêu cầu về hình thức, hoặc nội dung thuộc trường hợp bị vô hiệu theo Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì không thể chỉ dựa vào chữ ký của hai bên để yêu cầu Tòa án tước toàn bộ quyền tài sản của người ngoại tình. Tuy nhiên, cũng không nên kết luận rằng mọi thỏa thuận phân chia tài sản bất lợi cho người ngoại tình đều mặc nhiên vô hiệu. Tòa án cần xem xét cụ thể nội dung, hình thức và hiệu lực của thỏa thuận, cũng như các quy định pháp luật có liên quan. 3. Không có thỏa thuận tài sản hợp lệ thì người ngoại tình có được chia tài sản khi ly hôn không? - Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: "a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng." => Quy định này có nghĩa là hành vi ngoại tình có thể được xem xét như một yếu tố khi giải quyết việc chia tài sản, nếu có căn cứ xác định đó là lỗi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, pháp luật không quy định cứ ngoại tình thì người đó đương nhiên mất toàn bộ phần tài sản chung của mình. Ví dụ: A và B kết hôn, tạo lập được căn nhà là tài sản chung. Khi ly hôn, B có chứng cứ cho thấy A ngoại tình. Tòa án có thể xem xét lỗi của A cùng các yếu tố khác theo khoản 2 Điều 59 khi quyết định việc chia tài sản. Nhưng chỉ riêng việc A ngoại tình không đồng nghĩa với việc B đương nhiên được nhận toàn bộ căn nhà. Kết luận Cam kết trước hôn nhân với nội dung “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng” không tự động có hiệu lực chỉ vì hai bên đã ký tên. Muốn thỏa thuận về chế độ tài sản trước hôn nhân được công nhận, các bên phải tuân thủ yêu cầu về hình thức tại Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời bảo đảm nội dung không thuộc trường hợp bị vô hiệu theo Điều 50. Nếu không có thỏa thuận tài sản hợp lệ, việc chia tài sản khi ly hôn sẽ được giải quyết theo Điều 59 của Luật này. Hành vi ngoại tình có thể được xem xét khi chia tài sản, nhưng không đồng nghĩa với việc người có lỗi đương nhiên mất tất cả tài sản. Vì vậy, nếu muốn lập thỏa thuận tài sản trước hôn nhân, hai bên nên xác định rõ nguyên tắc phân chia khi ly hôn, đồng thời thực hiện đúng thủ tục pháp luật quy định thay vì chỉ lập một giấy cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng
 
hotline 0936 645 695