HỎI ĐÁP: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Tài sản mừng cưới trong ngày cưới trước khi đăng ký kết hôn có phải là tài sản chung không ? - Đây là câu hỏi của chị Nguyệt Minh gửi cho fanpage Công ty luật Vietlawyer như sau: Em và chồng tổ chức hôn lễ ngày 1/2/2020, sau khi tổ chức xong thì vợ chồng em được 2 bên cho vàng và tiền mừng cưới. Sau khi bán hết số vàng và dồn tiền mừng chồng em vội vàng quyết định mua xe và nhận bàn giao xe luôn vào ngày 20/2/2020. Vì chồng em thiếu 1 số giấy tờ xác nhận của địa phương nên đến tháng 5/2020 vợ chồng em với có giấy đăng ký kết hôn. Sau khi chung sống vợ chồng e có nhiều mâu thuẫn, ko ở cùng với nhau nữa. Giờ chồng em bảo có li hôn thì xe cũng là của chồng em, vì đứng tên chồng và thời gian mua xe trước khi có giấy đăng ký kết hôn của tòa. Đến giờ nợ khi mua xe vay của bên nhà ngoại, chồng e vẫn chưa trả hết. Các anh chị luật sư cho em hỏi, có cách nào chứng minh xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng em, và li hôn sẽ chia đều ko ạ. Vì thật sự giờ nợ bên ngoại em cũng chưa trả hết đc. Em cảm ơn và mong đc các anh chị tư vấn giúp em ạ. Trả lời:  Căn cứ theo khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân... Theo đó, các tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Các tài sản phát sinh trước khi đăng ký kết hôn và sau khi có quyết định ly hôn không phải là tài sản chung của vợ chồng.  Trước đây, theo Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân – Gia đình, đối với vụ án ly hôn mà vợ chồng có tranh chấp về tài sản là nữ trang ngày cưới được pháp luật quy định như sau:  “Đồ trang sức mà người vợ hoặc người chồng được cha mẹ vợ hoặc chồng tặng, cho riêng trong ngày cưới là tài sản riêng. Nhưng nếu những thứ đó được cho chung cả hai người với tính chất là tạo dựng cho vợ chồng một số vốn, thì coi là tài sản chung. Khi chia tài sản chung, những trang sức có giá trị không lớn so với tài sản chung thì chia cho người đang sử dụng.” Tuy nhiên, văn bản này đã hết hiệu lực và thay thế bằng Nghị quyết 02/2000, do mâu thuẫn với các chế định hôn nhân và gia đình hiện tại. Do vậy, căn cứ theo các quy định hiện nay, vàng và tiền mừng cho chồng và chị Nguyệt Minh không phải là tài sản chung của vợ chồng. Nhưng có cách chứng minh khác để bảo vệ quyền lợi cho chị Nguyệt Minh. Do vàng và tiền mừng là tài sản tặng cho cho anh chồng  và chị Nguyệt Minh cho nên hai anh chị là đồng sở hữu của tài sản được tặng trong ngày cưới nói trên. Tài sản được tặng trong ngày cưới được sử dụng vào mục đích mua xe ô tô. Cho nên phần tài sản trong xe ô tô có một phần tài sản thuộc sở hữu của chị Nguyệt Minh. Cho nên chị Nguyệt Minh có thể đòi lại một phần tài sản của chiếc xe (không phụ thuộc vào chị đã phân chia tài sản hay chưa). Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VIETLAWYER về tài sản mừng cưới trong ngày cưới trước khi đăng ký kết hôn. Với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý nếu khách hàng là cá nhân, tổ chức có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website https://vietlawyer.vn/
Tình huống: Trước khi kết hôn, anh A ký hợp đồng mua một căn nhà theo hình thức trả góp. Sau khi kết hôn, anh A vẫn là người trực tiếp thanh toán các khoản tiền trả góp. Do cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng có ý định ly hôn. Trong trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A hay tài sản chung của vợ chồng? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Theo quy định của pháp luật, thời diểm ký hợp đồng mua nhà trước khi kết hôn không phải là căn cứ duy nhất để xác định căn nhà trên là tài sản chung hay tài sản riêng. Đối với tình huống, tài sản là căn nhà mua theo hình thức trả góp do đó, cần phải xem xét thời điểm hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và khoản tiền dùng để thanh toán là của A hay của hai vợ chồng? Theo đó, nếu việc trả góp đã được anh A hoàn tát trước thời điểm đăng ký kết hôn thì căn nhà được hình thành hoàn toàn từ tài sản của anh A trước khi kết hôn. Trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, anh A phải có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán trước khi đăng ký kết hôn.Ngược lại, nếu việc trả góp vẫn tiếp tục sau khi hai bên đăng ký kết hôn thì cần xem xét đến số tiền dùng để thanh toán các khoản trả góp trong thời kỳ hôn nhân. Trường hợp dùng tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân… thì căn nhà trên được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 còn quy định, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được mặc nhiên xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, nghĩa vụ chứng minh căn nhà là tài sản riêng thuộc về người đưa ra yêu cầu xác định tài sản riêng. Nếu không chứng minh được, căn nhà sẽ được coi là tài sản chung theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Ký giấy cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”: Tòa án có công nhận không? Nhiều cặp đôi trước khi kết hôn lập giấy cam kết với nội dung: nếu một trong hai người ngoại tình, người có lỗi sẽ phải ra đi tay trắng, không được chia tài sản khi ly hôn. Không ít người cho rằng chỉ cần hai bên tự nguyện ký tên thì cam kết này đương nhiên có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, không phải cứ ký cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng” thì khi ly hôn, người ngoại tình sẽ mất toàn bộ tài sản. Việc cam kết có được công nhận hay không còn phụ thuộc vào nội dung, hình thức văn bản, thời điểm lập và các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng. 1. Cam kết trước hôn nhân có giá trị pháp lý không? - Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:  "Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn." => Như vậy, nếu hai bên lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, pháp luật Việt Nam công nhận việc vợ chồng thỏa thuận về chế độ tài sản trước hôn nhân, nhưng phải tuân thủ đúng hình thức và nội dung pháp luật quy định. Do đó, việc hai bên tự nguyện ký giấy không đồng nghĩa với việc mọi nội dung ghi trong giấy đều đương nhiên được Tòa án công nhận. Ví dụ: Trước khi đăng ký kết hôn, A và B chỉ viết một tờ giấy có nội dung “nếu ai ngoại tình thì người đó không được nhận bất kỳ tài sản nào khi ly hôn”, rồi cả hai ký tên. Nếu văn bản này được dùng như một thỏa thuận xác lập chế độ tài sản trước hôn nhân nhưng không được công chứng hoặc chứng thực theo Điều 47, thì không đáp ứng yêu cầu về hình thức của thỏa thuận này và văn bản này không có giá trị pháp lý. 2. Nếu có cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”, Tòa án có bắt buộc áp dụng không? - Nguyên tắc giải quyết tài sản  Khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau: "Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết." => Pháp luật quy định nếu vợ chồng áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được thực hiện theo thỏa thuận đó. Tuy nhiên, nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng các quy định pháp luật tương ứng để giải quyết.  - Các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vô hiệu. Khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: "a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan; b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này; c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình." => Vì vậy, nếu điều khoản “ra đi tay trắng” được ghi trong một văn bản không đáp ứng yêu cầu về hình thức, hoặc nội dung thuộc trường hợp bị vô hiệu theo Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì không thể chỉ dựa vào chữ ký của hai bên để yêu cầu Tòa án tước toàn bộ quyền tài sản của người ngoại tình. Tuy nhiên, cũng không nên kết luận rằng mọi thỏa thuận phân chia tài sản bất lợi cho người ngoại tình đều mặc nhiên vô hiệu. Tòa án cần xem xét cụ thể nội dung, hình thức và hiệu lực của thỏa thuận, cũng như các quy định pháp luật có liên quan. 3. Không có thỏa thuận tài sản hợp lệ thì người ngoại tình có được chia tài sản khi ly hôn không? - Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: "a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng." => Quy định này có nghĩa là hành vi ngoại tình có thể được xem xét như một yếu tố khi giải quyết việc chia tài sản, nếu có căn cứ xác định đó là lỗi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, pháp luật không quy định cứ ngoại tình thì người đó đương nhiên mất toàn bộ phần tài sản chung của mình. Ví dụ: A và B kết hôn, tạo lập được căn nhà là tài sản chung. Khi ly hôn, B có chứng cứ cho thấy A ngoại tình. Tòa án có thể xem xét lỗi của A cùng các yếu tố khác theo khoản 2 Điều 59 khi quyết định việc chia tài sản. Nhưng chỉ riêng việc A ngoại tình không đồng nghĩa với việc B đương nhiên được nhận toàn bộ căn nhà. Kết luận Cam kết trước hôn nhân với nội dung “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng” không tự động có hiệu lực chỉ vì hai bên đã ký tên. Muốn thỏa thuận về chế độ tài sản trước hôn nhân được công nhận, các bên phải tuân thủ yêu cầu về hình thức tại Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời bảo đảm nội dung không thuộc trường hợp bị vô hiệu theo Điều 50. Nếu không có thỏa thuận tài sản hợp lệ, việc chia tài sản khi ly hôn sẽ được giải quyết theo Điều 59 của Luật này. Hành vi ngoại tình có thể được xem xét khi chia tài sản, nhưng không đồng nghĩa với việc người có lỗi đương nhiên mất tất cả tài sản. Vì vậy, nếu muốn lập thỏa thuận tài sản trước hôn nhân, hai bên nên xác định rõ nguyên tắc phân chia khi ly hôn, đồng thời thực hiện đúng thủ tục pháp luật quy định thay vì chỉ lập một giấy cam kết “ai ngoại tình sẽ ra đi tay trắng”. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng
 
hotline 0936 645 695