DỊCH VỤ CỦA CHÚNG TÔI | LUẬT SƯ VIỆT | LUẬT SƯ CỦA BẠN

Việc thả rông trâu, bò, ngựa, chó,... hoặc các loại vật nuôi khác trên đường hoặc tại nơi công cộng không chỉ tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông mà còn có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Vậy khi thả rông vật nuôi gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông thì sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự theo quy định của pháp luật. Dưới đây là những phân tích về các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Vật nuôi bao gồm?  - Theo Khoản 5 Điều 2 Luật Chăn nuôi năm 2018 quy định "Vật nuôi bao gồm gia súc, gia cầm và động vật khác trong chăn nuôi." Các vật nuôi phổ biến gồm: trâu, bò, ngựa, dê, cừu, lợn, chó, mèo, gà, vịt...- Hiện nay, pháp luật chưa có quy định giải thích cụ thể về khái niệm thả rông vật nuôi. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là việc chủ sở hữu hoặc người đang quản lý để vật nuôi tự do đi lại mà không có người trong coi hoặc không áp dụng các biện pháp quản lý cần thiết, dẫn đến vật nuôi đi vào đường bộ, cản trở giao thông hoặc gây thiệt hại cho người tham gia giao thông.- Và theo Khoản 3 Điều 32 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: “Không được thả vật nuôi trên đường bộ”. Do đó, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có trách nhiệm quản lý, trong giữ vật nuôi của mình, không để vật nuôi tự do đi trên đường bộ làm ảnh hưởng, gây cản trở đến giao thông. 2.  Những trách nhiệm pháp lý có thể phải chịu ? Tùy theo hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang chiếm giữ, sử  vật nuôi có thể phải chịu một hoặc nhiều loại trách nhiệm sau đây: 2.1. Trách nhiệm dân sự - Nếu có thiệt hại xảy ra thì đây là trách nhiệm đầu tiên đối với chủ nuôi, người quản lý vật nuôi. Theo quy định tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: + Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Các khoản thiệt hại phải đền bù có thể bao gồm: +++ Thiệt hại về tài sản (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.+++ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; Thu nhập thực tế bị mất của người bị nạn; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị và cả khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. + Nếu vật nuôi đang được giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người chiếm hữu, sử dụng đó phải có trách nhiệm bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2.2. Trách nhiệm hành chính - Theo Điều 11 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định người điều khiển dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ có thể bị phạt hành chính như sau:+ Phạt tiền từ 150.000 đồng đến 250.000 đồng đối với hành vi để vật nuôi đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người, phương tiện đang tham gia giao thông;+ Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với hành vi dẫn dắt vật nuôi chạy theo khi đang điều khiển hoặc ngồi trên phương tiện giao thông đường bộ;+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển, dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo đi vào đường cao tốc. - Theo Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng: + Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi thả rông động vật nuôi ở nơi công cộng. 2.3. Trách nhiệm hình sự Trường hợp chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi do cẩu thả, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý vật nuôi, để vật nuôi chạy ra đường gây tai nạn làm chết người thì tùy tính chất, mức độ của hành vi và hậu quả xảy ra, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội vô ý làm chết người" theo quy định của Bộ luật Hình sự. + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 01 người;+ Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 02 người trở lên. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong nhiều gia đình, bố mẹ muốn giữ lại căn nhà của gia đình làm nơi thờ cúng tổ tiên nên khi lập di chúc thường giao căn nhà cho một người con quản lý. Sau khi bố mẹ qua đời, những người con còn lại có thể cho rằng mình cũng là con nên có quyền đối với căn nhà và yêu cầu chia đều tài sản. Vậy trong trường hợp bố mẹ đã lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà cho một người con để thờ cúng tổ tiên, những người con khác có được yêu cầu đem căn nhà đó ra chia thừa kế hay không? 1. Bố mẹ có quyền để lại tài sản trong di chúc để dùng vào việc thờ cúng không? - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, quyền của người lập di chúc: “ Điều 626. Quyền của người lập di chúcNgười lập di chúc có quyền sau đây:1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.” --> Theo đó, người để lại thừa kế có quyền dành một phần hoặc toàn bộ di sản để dùng vào việc thờ cúng.  2. Căn nhà đã được xác định là di sản thờ cúng thì những người con khác có được chia không? - Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể đối với di sản dùng vào việc thờ cúng. Theo đó, khi người lập di chúc dành một phần di sản để thờ cúng thì: phần di sản đó không được chia thừa kế; tài sản được giao cho người được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu không chỉ định người quản lý thì những người thừa kế sẽ cử người quản lý; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng nội dung di chúc hoặc không thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao tài sản cho người khác quản lý. --> Như vậy, nếu nội dung di chúc hợp pháp và căn nhà thực sự được xác định là di sản dùng vào việc thờ cúng, thì căn nhà không được đưa ra chia thừa kế như một tài sản thông thường.  Bên cạnh đó, căn nhà dùng để thờ cúng không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người thừa kế nào. Người được nhắc đến trong di chúc cũng chỉ là người quản lý và trực tiếp thờ cúng.  3. Những người con khác có thể được chia căn nhà trong trường hợp nào? Mặc dù có di chúc, vẫn có một số trường hợp những người con khác có thể yêu cầu xem xét quyền hưởng di sản: Trường hợp 1:  Di chúc không hợp pháp. - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, để di chúc hợp pháp, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; đồng thời nội dung và hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật. Ví dụ, nếu có căn cứ chứng minh bố hoặc mẹ không còn minh mẫn khi lập di chúc, chữ ký bị giả mạo hoặc việc lập di chúc xuất phát từ sự cưỡng ép thì những người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của di chúc.Nếu di chúc không hợp pháp, di sản hoặc phần di sản tương ứng có thể được chia theo pháp luật theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.  Trường hợp 2: Có người thuộc diện được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc. - Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một số người vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu họ không được cho hưởng di sản hoặc được hưởng ít hơn mức này. Nhóm này bao gồm con chưa thành niên và con thành niên không có khả năng lao động; ngoài ra còn có cha, mẹ, vợ hoặc chồng của người để lại di sản. Ví dụ, bố mẹ có 03 người con đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động bình thường và bố mẹ lập di chúc hợp pháp để lại căn nhà cho người con cả. Hai người con còn lại không thuộc trường hợp đương nhiên được hưởng 2/3 suất thừa kế theo Điều 644 chỉ vì họ là con của người chết.Ngược lại, nếu một người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì quyền hưởng phần di sản bắt buộc của người đó cần được xem xét, mặc dù di chúc không cho họ hưởng tài sản. Trường hợp 3: Căn nhà không hoàn toàn thuộc quyền định đoạt của người lập di chúc. - Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự, di sản chỉ bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Do đó, một người chỉ có quyền lập di chúc đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Ví dụ, căn nhà là tài sản chung của bố và mẹ. Nếu chỉ bố lập di chúc để lại “toàn bộ căn nhà” cho một người con nhưng mẹ không có nội dung định đoạt tương ứng thì di chúc của bố không thể làm phát sinh quyền đối với phần tài sản thuộc sở hữu của mẹ. Nếu cả bố và mẹ đều có di chúc hợp pháp định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình theo cùng một hướng thì mới có cơ sở xem xét toàn bộ căn nhà theo nội dung các di chúc đó.  Trường hợp 4: Di sản phải được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết. - Khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự quy định rằng nếu toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản để thờ cúng. Ví dụ, bố mẹ còn khoản nợ hợp pháp chưa thanh toán và tài sản để lại không đủ để thực hiện nghĩa vụ đó thì không thể viện dẫn việc căn nhà được dành để thờ cúng để loại trừ hoàn toàn quyền của chủ nợ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Khi phát sinh tranh chấp thừa kế, một người thừa kế có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp người khởi kiện không kê khai đầy đủ những người có quyền hưởng di sản, do không biết, không xác định được nơi cư trú hoặc thậm chí cố tình không đưa một người thừa kế vào vụ án. Vậy việc bỏ sót người thừa kế có làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án và bản án của Tòa án hay không? 1. Những người thừa kế nào cần được xác định khi giải quyết vụ án chia di sản? -Trường hợp 1:  Nếu di sản được chia theo pháp luật + Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các hàng thừa kế theo thứ tự: Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết. --> Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau; Hàng thừa kế sau chỉ được hưởng khi không còn ai ở hàng trước do những nguyên nhân được luật quy định. +  Ngoài ra, khi có người thuộc trường hợp thừa kế thế vị, quyền hưởng di sản của người đó cũng cần được xem xét. Chẳng hạn, nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu có thể được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. - Trường hợp 2: Nếu người chết có để lại di chúc + Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một số người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động nếu đáp ứng các điều kiện luật định. --> Vì vậy, khi khởi kiện chia di sản, cần xác định đầy đủ những người có quyền hưởng thừa kế. 2. Có được bỏ sót người thừa kế khi khởi kiện không? - Theo khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đơn khởi kiện phải có thông tin về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những vấn đề mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết đối với họ. Trong vụ án chia di sản thừa kế, người có quyền hưởng một phần di sản thường là người có quyền lợi trực tiếp liên quan đến kết quả giải quyết vụ án. Vì vậy, họ cần được xác định và tham gia tố tụng để có cơ hội trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và bảo vệ quyền hưởng thừa kế của mình. - Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, nếu việc giải quyết vụ án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nhưng không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng thì Tòa án phải đưa người đó vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. --> Như vậy, trách nhiệm xác định đầy đủ người tham gia tố tụng không chỉ đặt ra đối với người khởi kiện mà còn thuộc trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. 3. Trường hợp phát hiện bỏ sót người thừa kế khi vụ án đang được giải quyết? - Nếu vụ án vẫn đang trong quá trình giải quyết tại Tòa án và phát hiện còn một người có quyền hưởng di sản chưa được đưa vào tham gia tố tụng thì cần thông báo ngay cho Tòa án. Tòa án có thể xác minh quan hệ nhân thân, quyền hưởng thừa kế và đưa người này vào vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu việc phân chia di sản có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. - Theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định người được đưa vào tham gia tố tụng có quyền trình bày ý kiến, cung cấp tài liệu và chứng cứ, tham gia phiên họp, phiên tòa và có thể đưa ra yêu cầu độc lập khi đáp ứng điều kiện của pháp luật. Ví dụ, ông A mất không để lại di chúc và có bốn người con là B, C, D và E. B khởi kiện yêu cầu chia căn nhà do ông A để lại nhưng trong đơn chỉ xác định C và D là những người thừa kế, không đề cập đến E. Nếu xác định E cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất và chưa từ chối nhận di sản, việc chia căn nhà trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của E. Vì vậy, E cần được đưa vào tham gia tố tụng trước khi vụ án được giải quyết. 4. Trường hợp Tòa án đã xét xử nhưng bỏ sót người thừa kế thì bản án có bị hủy không? - Việc Tòa án không đưa đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào quá trình giải quyết vụ án có thể được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nếu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. - Theo khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khi có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể hủy bản án sơ thẩm hoặc phần bản án có liên quan và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại. 5. Trường hợp Bản án đã có hiệu lực mới phát hiện bỏ sót người thừa kế thì xử lý thế nào? - Khoản 1 Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định bản án, quyết định đã có hiệu lực có thể bị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng và dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ; hoặc có sai lầm trong áp dụng pháp luật gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. --> Như vậy, nếu một người thực sự có quyền hưởng di sản nhưng hoàn toàn không được đưa vào tham gia vụ án và bản án đã phân chia hết khối di sản cho những người khác, người bị ảnh hưởng có thể gửi văn bản, tài liệu chứng minh quyền thừa kế của mình đến cơ quan có thẩm quyền để đề nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695