DỊCH VỤ CỦA CHÚNG TÔI | LUẬT SƯ VIỆT | LUẬT SƯ CỦA BẠN

Thời gian gần đây, nhiều người lựa chọn mua vàng tại nước ngoài do mức giá có sự chênh lệch so với thị trường trong nước. Vậy cá nhân có được mua vàng ở nước ngoài rồi đem về Việt Nam hay không? Trường hợp nào bị cấm?  Căn cứ Điều 2 Thông tư 11/2014/TT-NHNN Căn cứ Điều 2 Thông tư 11/2014/TT-NHNN quy định về mang vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu: "Điều 2. Mang vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu 1. Cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu không được phép mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu. Trường hợp cá nhân nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu phải làm thủ tục gửi tại kho Hải quan để mang ra khi xuất cảnh hoặc làm thủ tục chuyển ra nước ngoài và phải chịu mọi chi phí liên quan phát sinh. 2. Cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu mang theo vàng trang sức, mỹ nghệ có tổng khối lượng từ 300g (ba trăm gam) trở lên phải khai báo với cơ quan Hải quan." Như vậy, cá nhân Việt Nam nhập cảnh không được phép mang theo vàng miếng vào Việt Nam. Do đó, trường hợp người Việt Nam đi nước ngoài rồi mua vàng miếng mang về Việt Nam thì hành vi này là không phù hợp với quy định pháp luật, dù số lượng nhiều hay ít. Lưu ý: Đối với vàng trang sức, mỹ nghệ, pháp luật vẫn cho phép mang theo khi nhập cảnh. Tuy nhiên, nếu tổng khối lượng từ 300 gam trở lên thì phải khai báo với cơ quan Hải quan theo quy định. Mang vàng miếng từ nước ngoài về Việt Nam sẽ bị xử lý như thế nào? Theo điểm b khoản 8 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, trường hợp nhập khẩu vàng miếng hoặc vàng nguyên liệu vào Việt Nam mà không có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì có thể bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 400 triệu đồng. Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị tịch thu toàn bộ số vàng mang theo trái quy định Lưu ý: Cần phân biệt rõ giữa vàng miếng và vàng trang sức. Pháp luật hiện nay không cho phép cá nhân tự ý mang vàng miếng từ nước ngoài vào Việt Nam thông qua hình thức xách tay thông thường. Do đó, trước khi mua vàng ở nước ngoài để mang về Việt Nam, người dân nên tìm hiểu kỹ quy định pháp luật nhằm tránh trường hợp bị xử phạt hành chính và tịch thu tài sản. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Chào Luật sư, tháng 5/2025 tôi có cho bạn là H vay số tiền 10.000.000 đồng khi vay thì hai bên có làm hợp đồng vay tiền, có chữ ký tên và ghi họ tên của H, không có ai chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có thời hạn trả nợ, không lãi suất. Đến tháng 01/2026, H đã trả lại đầy đủ số tiền này cho tôi. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026, H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và qua quá trình điều tra, xác minh xác định rằng số tiền H dùng để trả cho tôi là tiền do phạm tội mà có. Hiện nay, tôi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự nêu trên. Tôi hoàn toàn không biết và cũng không có căn cứ để biết số tiền H trả cho tôi là tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Vậy, xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết các quy định của pháp luật liên quan đến vụ án. Trả lời: Trong vụ việc trên, hành vi cho anh H vay số tiền 10.000.000 đồng là giao dịch dân sự được thể hiện qua hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hai bên đã thỏa thuận cho vay tài sản, Bên A đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng số lượng với số tiền 10.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nợ, tuy nhiên tháng 1/2026 anh H đã thanh toán khoản vay cho anh bên A số tiền 10.000.000 đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 1 Điều 466 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Như vây, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với giao dịch vay tài sản giữa bên A và anh H. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026 anh H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản, đối với số tiền anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A cũng được xác định là số tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của anh H. Anh A mong muốn được tư vấn 02 vấn đề sau: 1. Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi 1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. 2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Theo quy định, đối với hành vi của anh H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ quan chức năng sẽ điều tra, xác minh về các số tiền mà anh H đã lừa đảo để trả lại tài sản cho chủ ở hữu (bị hại). Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm trên đều phải được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, dù bạn nhận được tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không thể biết nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền, theo nguyên tắc, bạn sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để phục vụ trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để xem xét việc anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A trong trường hợp này có làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, việc anh H thanh toán khoản vay trên là hợp pháp và bên A cũng không biết được nguồn gốc số tiền trên thì không có căn cứ để cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ cho rằng số tiền anh H thanh toán khoản trên có nguồn gốc về hành vi phạm tội của anh H, như vậy số tiền 10.000.000 đồng sẽ được cơ quan chức năng thu hồi. Đối với việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi số tiền anh H đã thực hiện việc thanh toán khoản nợ với số tiền 10.000.000 đồng cho bên A, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên A. Căn cứ khoản 11 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ xác định bên A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bạn có quyền yêu cầu độc lập buộc anh H (bị cáo) hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bạn đã co anh H vay. Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:   “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù bạn là người cho vay hợp pháp và đã nhận lại tiền từ anh H, nhưng do số tiền này được xác định là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thu hồi nhằm trả lại cho người bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, việc nhận tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không có căn cứ để biết về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản không làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với bạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn cần chủ động thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay là có thật và hợp pháp, đồng thời gửi yêu cầu bồi thường thiệt hại đến Tòa án. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bản án sẽ buộc bị cáo có nghĩa vụ thanh toán lại khoản tiền tương ứng cho bạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Chỉ với một chiếc điện thoại, bất kỳ ai cũng có thể quay video hoặc chụp ảnh và đăng tải lên mạng xã hội trong vài phút. Tuy nhiên, việc quay và đăng tải hình ảnh người khác không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách tùy ý. Vậy pháp luật hiện nay quy định thế nào về việc quay và đăng hình ảnh người khác? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ theo khoản 1 Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, cụ thể: "Điều 32. Bảo vệ dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng, hoạt động công cộng 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được ghi âm, ghi hình và xử lý dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng, hoạt động công cộng mà không cần có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân trong các trường hợp sau đây: a) Để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; b) Âm thanh, hình ảnh, các thông tin nhận dạng khác thu được từ các hoạt động công cộng bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể dữ liệu cá nhân; c) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật." Theo đó, trong một số trường hợp, cá nhân có thể ghi hình tại nơi công cộng mà không cần xin phép từng người xuất hiện trong video hoặc hình ảnh. Ví dụ: - Ghi hình tại sự kiện đông người; - Quay video tại hội nghị, chương trình biểu diễn; - Ghi lại hình ảnh phục vụ mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; - Camera an ninh ghi hình tại khu vực công cộng... Tuy nhiên, việc được phép ghi hình không đồng nghĩa với việc được sử dụng hình ảnh đó một cách tùy ý trên mạng xã hội. Khi đăng tải hình ảnh hoặc video của người khác lên Facebook, TikTok hay các nền tảng trực tuyến khác, người đăng tải vẫn phải bảo đảm không xâm phạm quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân xuất hiện trong nội dung đó. Theo Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, dù hình ảnh được ghi nhận tại nơi công cộng, thì việc ghi hình và sử dụng hình ảnh vẫn phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định, cụ thể: Có trách nhiệm thông báo hoặc bằng hình thức phù hợp khác để người bị ghi hình biết mình đang được ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; - Dữ liệu cá nhân thu được chỉ được sử dụng đúng mục đích xử lý, không được dùng vào mục đích trái pháp luật hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; - Có trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân thu thập được; - Không được xâm phạm quyền riêng tư của người khác; - Không được làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân xuất hiện trong hình ảnh, video; - Không được cắt ghép, xuyên tạc nội dung gây hiểu nhầm; - Không được sử dụng hình ảnh để công kích, bôi nhọ hoặc xúc phạm cá nhân... Như vậy, việc quay và đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hội tại nơi công cộng hoặc trong hoạt động công cộng là quyền của cá nhân, nhưng không đồng nghĩa được sử dụng hình ảnh một cách tùy ý. Việc đăng tải vẫn phải bảo đảm đúng mục đích, tôn trọng quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm và lợi ích hợp pháp của người khác. Nếu nội dung đăng tải mang tính xúc phạm, xuyên tạc hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực thì người đăng tải vẫn có thể bị xử lý theo quy định pháp luật. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
  Trong thực tế, nhiều cha mẹ khi có điều kiện thường muốn mua nhà để con đứng tên. Tuy nhiên, nếu người con chưa đủ 18 tuổi thì việc đứng tên sổ đỏ có được pháp luật cho phép hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trước tiên cần xem xét quy định của Bộ luật Dân sự liên quan đến người thành niên và người chưa thành niên, cụ thể: "Điều 20. Người thành niên 1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. 2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này. Điều 21. Người chưa thành niên 1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. 2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. 3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. 4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý." Theo đó: - Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, được tự mình xác lập, thực hiện và quyết định đối với các giao dịch dân sự, bao gồm cả việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất và đứng tên sổ đỏ.  - Đối với người chưa thành niên, việc tham gia giao dịch dân sự bị hạn chế, cụ thể: -> Dưới 6 tuổi: mọi giao dịch do cha mẹ hoặc người giám hộ xác lập và thực hiện thay.  -> Từ đủ 6 đến dưới 15 tuổi: khi tham gia giao dịch phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các nhu cầu sinh hoạt thông thường.  -> Từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi: có thể tự mình xác lập giao dịch dân sự, nhưng đối với giao dịch liên quan đến bất động sản hoặc tài sản phải đăng ký thì vẫn phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Như vậy, có thể thấy người chưa thành niên vẫn có quyền sở hữu tài sản. Tuy nhiên, việc xác lập và thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của họ, đặc biệt là bất động sản, phải thông qua hoặc được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ. Bên cạnh đó, về nguyên tắc, pháp luật không cấm người chưa thành niên đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở (sổ đỏ). Căn cứ khoản 1 Điều 134 Luật Đất đai 2024: "Điều 134. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất 1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng gắn liền với đất theo mẫu thống nhất trong cả nước." Do đó, con chưa thành niên vẫn có thể đứng tên sổ đỏ nếu tài sản đó được xác lập hợp pháp cho con. Ví dụ: cha mẹ mua nhà nhưng xác định người nhận chuyển nhượng hoặc được tặng cho là con,... Tuy nhiên, do con chưa thành niên chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nên mọi thủ tục liên quan đến việc mua bán, tặng cho, đăng ký sang tên đều phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện hoặc đồng ý. Trên thực tế, khi làm thủ tục cấp sổ đỏ đứng tên người chưa thành niên, cơ quan đăng ký đất đai sẽ yêu cầu thông tin về người đại diện theo pháp luật để ghi nhận việc quản lý, thực hiện quyền liên quan đến tài sản đó. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ A và chồng B mua được thửa đất anh trai của B với giá 500.000.000 đồng tuy nhiên chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hình thức tặng cho. Tới nay, giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên A đã khởi kiện yêu cầu ly hôn. Khi giải quyết việc chia tài sản chung, A thắc mắc liệu thửa đất được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân có được chia hay không. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài chung của vợ chồng như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Theo quy định trên, tài sản do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc được hình thành từ tài sản riêng. Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án không chỉ căn cứ vào tên gọi của giao dịch là “tặng cho”, mà còn xem xét bản chất thực tế của việc chuyển nhượng tài sản. Trường hợp có căn cứ chứng minh việc nhận quyền sử dụng đất được thực hiện bằng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn có cơ sở xác định đây là tài sản chung.   Đối với tình huống trên các trường hợp có thể chứng minh, cụ thể: Trường hợp 1: Có chứng từ thanh toán thể hiện việc mua bán Nếu việc giao tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, có sao kê ngân hàng hoặc nội dung chuyển tiền thể hiện mục đích mua đất, đồng thời nguồn tiền là thu nhập của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì đây là căn cứ để chứng minh thửa đất được hình thành từ tài sản chung. Trường hợp 2: Người chồng thừa nhận là tài sản chung Trong quá trình giải quyết ly hôn, nếu B đồng ý xác định thửa đất là tài sản chung và thống nhất việc phân chia cho A thì đây là căn cứ để Tòa án xem xét công nhận theo sự thỏa thuận của các bên. Trường hợp 3: Có chứng cứ khác chứng minh giao dịch thực tế là mua bán Mặc dù hợp đồng thể hiện dưới hình thức tặng cho, nhưng nếu có tin nhắn, ghi âm, lời khai của người anh chồng hoặc người làm chứng xác nhận việc hai vợ chồng đã giao tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất thì đây vẫn có thể được xem là chứng cứ chứng minh tài sản được tạo lập bằng công sức, tài sản chung của vợ chồng. Từ đó có thể thấy, hình thức “tặng cho” không phải là căn cứ duy nhất để xác định tính chất tài sản. Nếu chứng minh được thửa đất được hình thành từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì quyền sử dụng đất này vẫn có thể được xác định là tài sản chung và được xem xét phân chia khi ly hôn. Từ các phân tích trên có thể thấy, việc chuyển quyền sử dụng đất được lập dưới hình thức “tặng cho” không đồng nghĩa thửa đất đương nhiên là tài sản riêng của chồng B. Khi giải quyết tranh chấp ly hôn, Tòa án sẽ xem xét toàn bộ quá trình hình thành tài sản, nguồn tiền thanh toán và bản chất thực tế của giao dịch. Trường hợp A chứng minh được việc nhận chuyển nhượng thửa đất có sử dụng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có căn cứ thể hiện giao dịch thực tế là mua bán chứ không phải tặng cho riêng, thì vẫn có cơ sở để xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng và được xem xét phân chia khi ly hôn. Ngược lại, nếu không có chứng cứ chứng minh việc giao nhận tiền hoặc không chứng minh được giao dịch “tặng cho” chỉ là hình thức thể hiện trên giấy tờ, Tòa án có thể căn cứ vào nội dung hợp đồng công chứng và hồ sơ sang tên để xác định tính chất pháp lý của tài sản theo hình thức giao dịch đã được xác lập. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
Trong thực tế kinh doanh, không ít trường hợp hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng các bên vẫn tiếp tục giao nhận hàng hóa như trước. Vậy khi phát sinh tranh chấp, liệu bên nhận hàng có phải tiếp tục thanh toán hay không? Căn cứ khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự 1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản." Đồng thời, Điều 24 Luật Thương mại 2005 cũng quy định: "Điều 24. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá 1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. 2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó." Như vậy, pháp luật hiện hành không bắt buộc mọi giao dịch mua bán đều phải được lập thành hợp đồng giấy có ký tên, đóng dấu thì mới có giá trị. Trong nhiều trường hợp, việc các bên tiếp tục thực hiện giao dịch trên thực tế vẫn có thể được xem là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồng. Ví dụ: Sau khi hợp đồng hết thời hạn hiệu lực nhưng bên bán vẫn tiếp tục giao hàng, bên mua vẫn nhận hàng, đối chiếu công nợ, thanh toán hoặc trao đổi qua email, tin nhắn về việc giao dịch thì những hành vi này có thể được xem là sự tiếp tục thực hiện quan hệ thương mại giữa các bên. Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án không chỉ căn cứ vào hợp đồng cũ mà còn xem xét toàn bộ quá trình giao dịch thực tế để xác định có phát sinh quyền và nghĩa vụ hay không?  Ngoài ra, pháp luật thương mại còn ghi nhận: "Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại." Đây là cách thức giao dịch được các bên lặp đi lặp lại trong thời gian dài và mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền, nghĩa vụ của nhau. Chẳng hạn, trước đây các bên thường thực hiện việc giao hàng trước, đối chiếu công nợ sau; hoặc đặt hàng qua email, xác nhận qua bảng kê mà không ký trực tiếp. Nếu phương thức này đã được duy trì ổn định trong quá trình hợp tác thì dù hợp đồng cũ đã hết hiệu lực, Tòa án vẫn có thể xem xét đây là căn cứ xác định quan hệ giao dịch tiếp tục tồn tại. Lưu ý: Để được công nhận trách nhiệm thanh toán, bên yêu cầu phải chứng minh được việc giao dịch thực tế vẫn tiếp tục diễn ra theo thông lệ trước đó. Nếu trước đây các bên có thỏa thuận hoặc duy trì thông lệ bắt buộc phải có xác nhận, chữ ký, đóng dấu trên bảng kê, biên bản hoặc chứng từ vận chuyển thì các tài liệu phát sinh sau khi hợp đồng hết hiệu lực cũng cần đáp ứng hình thức này hoặc có chứng cứ tương đương chứng minh bên còn lại đã chấp nhận giao dịch. Ngược lại, nếu chứng từ do một bên tự lập, không có xác nhận của bên còn lại và cũng không có căn cứ thể hiện việc tiếp tục thuê dịch vụ, nhận hàng hoặc thanh toán thì rất khó xác định trách nhiệm thanh toán phát sinh sau khi hợp đồng hết hiệu lực. Do đó, trong hoạt động thương mại, dù hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng các bên vẫn tiếp tục giao nhận hàng hóa hoặc thực hiện dịch vụ theo thông lệ cũ thì trách nhiệm thanh toán vẫn có thể phát sinh. Việc có được pháp luật công nhận hay không sẽ phụ thuộc vào hành vi thực tế của các bên và các chứng cứ chứng minh quá trình giao dịch liên tục sau khi hợp đồng hết hạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Việc thả rông trâu, bò, ngựa, chó,... hoặc các loại vật nuôi khác trên đường hoặc tại nơi công cộng không chỉ tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông mà còn có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Vậy khi thả rông vật nuôi gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông thì sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự theo quy định của pháp luật. Dưới đây là những phân tích về các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Vật nuôi bao gồm?  - Theo Khoản 5 Điều 2 Luật Chăn nuôi năm 2018 quy định "Vật nuôi bao gồm gia súc, gia cầm và động vật khác trong chăn nuôi." Các vật nuôi phổ biến gồm: trâu, bò, ngựa, dê, cừu, lợn, chó, mèo, gà, vịt...- Hiện nay, pháp luật chưa có quy định giải thích cụ thể về khái niệm thả rông vật nuôi. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là việc chủ sở hữu hoặc người đang quản lý để vật nuôi tự do đi lại mà không có người trong coi hoặc không áp dụng các biện pháp quản lý cần thiết, dẫn đến vật nuôi đi vào đường bộ, cản trở giao thông hoặc gây thiệt hại cho người tham gia giao thông.- Và theo Khoản 3 Điều 32 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: “Không được thả vật nuôi trên đường bộ”. Do đó, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có trách nhiệm quản lý, trong giữ vật nuôi của mình, không để vật nuôi tự do đi trên đường bộ làm ảnh hưởng, gây cản trở đến giao thông. 2.  Những trách nhiệm pháp lý có thể phải chịu ? Tùy theo hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang chiếm giữ, sử  vật nuôi có thể phải chịu một hoặc nhiều loại trách nhiệm sau đây: 2.1. Trách nhiệm dân sự - Nếu có thiệt hại xảy ra thì đây là trách nhiệm đầu tiên đối với chủ nuôi, người quản lý vật nuôi. Theo quy định tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: + Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Các khoản thiệt hại phải đền bù có thể bao gồm: +++ Thiệt hại về tài sản (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.+++ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; Thu nhập thực tế bị mất của người bị nạn; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị và cả khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. + Nếu vật nuôi đang được giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người chiếm hữu, sử dụng đó phải có trách nhiệm bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2.2. Trách nhiệm hành chính - Theo Điều 11 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định người điều khiển dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ có thể bị phạt hành chính như sau:+ Phạt tiền từ 150.000 đồng đến 250.000 đồng đối với hành vi để vật nuôi đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người, phương tiện đang tham gia giao thông;+ Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với hành vi dẫn dắt vật nuôi chạy theo khi đang điều khiển hoặc ngồi trên phương tiện giao thông đường bộ;+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển, dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo đi vào đường cao tốc. - Theo Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng: + Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi thả rông động vật nuôi ở nơi công cộng. 2.3. Trách nhiệm hình sự Trường hợp chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi do cẩu thả, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý vật nuôi, để vật nuôi chạy ra đường gây tai nạn làm chết người thì tùy tính chất, mức độ của hành vi và hậu quả xảy ra, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội vô ý làm chết người" theo quy định của Bộ luật Hình sự. + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 01 người;+ Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 02 người trở lên. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về ma túy, không ít trường hợp người bị bắt cho rằng mình chỉ nhận "giao hàng", "vận chuyển hộ" hoặc "cầm giúp" ma túy nên nếu bị xử lý thì chỉ có thể bị truy cứu về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Trong một số trường hợp, người trực tiếp vận chuyển ma túy vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm nếu đáp ứng các điều kiện luật định.Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào? Khi nào hành vi vận chuyển bị xem là tham gia vào hoạt động mua bán ma túy? Người không biết mình đang vận chuyển ma túy có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây. 1. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy ? Theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) - Tội vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi chuyển dịch trái phép chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào khi đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Hành vi vận chuyển có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như:+ Mang theo người;+ Cất giấu trong hành lý, túi xách hoặc phương tiện;+ Vận chuyển bằng xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy hoặc máy bay;+ Gửi qua dịch vụ vận chuyển hoặc các hình thức khác.Và không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác.- Hình phạt:+ Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: nếu thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này+ Tùy thuộc vào loại, khối lượng chất ma túy và các tình tiết định khung, mức hình phạt có thể lên đến tù chung thân. 2. Tội mua bán trái phép chất ma túy ? - Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy.+ Mua bán trái phép chất ma túy không chỉ giới hạn ở hành vi trực tiếp mua hoặc bán ma túy mà còn có thể bao gồm những hành vi tham gia vào quá trình mua bán nếu người thực hiện có sự thống nhất ý chí và cùng thực hiện hành vi phạm tội theo quy định về đồng phạm tại Điều 17 Bộ luật Hình sự. - Có thể bao gồm thuộc 1 trong các hành vi sau đây: ++ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;++ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);++ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;++ Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. - Hình phạt:+ Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt cơ bản của tội danh này là 03 năm đến 07 năm tù. + Đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình. 3. Khi nào người vận chuyển trái phép chất ma túy có thể bị truy cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy? - Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 quy định "đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm."- Nếu người vận chuyển biết rõ việc mình đang tham gia vào hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và có hành vi giúp sức hoặc cùng thực hiện việc mua bán thì tùy từng trường hợp, họ có thể bị TRUY CỨU TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.- Việc xác định người vận chuyển có phải là đồng phạm hay không sẽ căn cứ vào toàn bộ chứng cứ của vụ án, như:+ Có biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Có sự bàn bạc, thống nhất với các đối tượng khác hay không;+ Có tham gia giao nhận ma túy, giao nhận tiền hoặc hỗ trợ việc mua bán hay không;+ Có được hưởng lợi từ hoạt động mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Vai trò của người đó trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: một người biết rõ ma túy sẽ được giao cho khách mua, đồng ý nhận vận chuyển theo sự phân công của các đối tượng trong đường dây và thực hiện việc giao ma túy đúng theo kế hoạch đã thống nhất thì hành vi của người này có thể được xem xét với vai trò đồng phạm trong tội mua bán trái phép chất ma túy nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. 4. Nếu người vận chuyển không biết bên trong gói hàng là ma túy thì có phải chịu trách nhiệm hình sự không? - Theo nguyên tắc của pháp luật hình sự, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có yếu tố lỗi.=> Do đó, nếu một người thực sự không biết bên trong kiện hàng, vali hoặc gói đồ mà mình nhận vận chuyển là chất ma túy và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được điều đó thì không đủ căn cứ để xác định họ đã cố ý thực hiện tội phạm về ma túy. - Tuy nhiên, việc người vận chuyển có biết hay không biết không chỉ được xác định dựa trên lời khai mà sẽ được cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá thông qua toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ án, bao gồm:+ Mối quan hệ giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển;+ Cách thức giao nhận hàng hóa;+ Tiền công có bất thường hay không;+ Nội dung tin nhắn, cuộc gọi hoặc dữ liệu điện tử;+ Các chứng cứ khác chứng minh nhận thức và ý chí của người vận chuyển.=> Nếu các chứng cứ chứng minh người vận chuyển thực sự không biết mình đang vận chuyển ma túy thì họ có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định họ biết hoặc cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695