DỊCH VỤ CỦA CHÚNG TÔI | LUẬT SƯ VIỆT | LUẬT SƯ CỦA BẠN

Khoảng 8h30 ngày 20/10, tại khu vực trước số nhà 155 Xuân Thủy, phường Cầu Giấy, Hà Nội, xảy ra vụ tai nạn giao thông khiến một cô gái tử vong. Theo lời kể của nhân chứng, hai xe máy di chuyển cùng chiều thì xe của nam thanh niên rẽ sang, va chạm với xe của cô gái khiến nạn nhân ngã xuống đường, đúng lúc xe buýt đi tới và không may bị cuốn vào gầm xe. Vụ việc đặt ra vấn đề pháp lý về việc xác định trách nhiệm của những người liên quan và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi tai nạn giao thông gây chết người. 1. Trách nhiệm của những người liên quan. Khi xe buýt gây tai nạn làm chết người, trách nhiệm được xác định dựa trên lỗi cụ thể của từng bên thông qua kết quả điều tra của cơ quan công an.Nếu lỗi của tài xế như phóng nhanh vượt ẩu, thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn, vi phạm luật giao thông, tài xế có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự căn cứ Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bởi khoản 72 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định thì lái xe gây tai nạn chết người sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Người lái xe gây tai nạn nếu vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây chất người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi lái xe gây tai nạn chết người có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 15 năm.Trong trường hợp tài xế không có lỗi như gặp phải tình huống bất khả kháng hay do va chạm đến người thứ ba thì tài xế không phải chịu trách nhiệm hình sự. Nếu theo sự việc trên việc xe máy bạn nam rẽ sang là sai khiến xảy ra sự việc thì tài xế không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi tai nạn giao thông gây chết người. Theo Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp tai nạn giao thông gây thiệt hại đến tính mạng, người có trách nhiệm bồi thường phải thanh toán các khoản thiệt hại theo quy định pháp luật, bao gồm:•    Các chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất hoặc suy giảm của người bị thiệt hại trước khi tử vong.•    Khoản thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại bị mất hoặc giảm sút do tai nạn; đồng thời, xem xét chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị.•    Các chi phí hợp lý phục vụ việc mai táng người tử vong.•    Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người tử vong có nghĩa vụ cấp dưỡng.•    Khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người tử vong; nếu không có những người này thì áp dụng đối với người được luật quy định. Mức bồi thường do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá 100 lần mức lương cơ sở.•    Những khoản thiệt hại khác được pháp luật quy định và có căn cứ xác định.Theo Điều 601 của Bộ luật Dân sự, phương tiện giao thông cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ. Chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trừ trường hợp thiệt hại hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị hại. Do đó, dù tài xế là người lái, chủ sở hữu xe buýt (công ty vận tải) thường có trách nhiệm liên đới cùng tài xế bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân (chi phí mai táng, tiền cấp dưỡng, bù đắp tổn thất tinh thần theo Điều 591 Bộ luật Dân sự). Sau đó, chủ xe có thể yêu cầu tài xế hoàn trả lại một phần hoặc toàn bộ số tiền theo hợp đồng lao động ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thời kỳ hôn nhân, có những trường hợp người chồng sử dụng tiền tiết kiệm, mua nhà, mua xe hoặc tặng tài sản có giá trị cho người tình mà không được sự đồng ý của vợ. Khi phát hiện sự việc, nhiều người vợ băn khoăn liệu mình có quyền yêu cầu người thứ ba trả lại những tài sản này hay không. Pháp luật quy định như thế nào về việc một bên vợ hoặc chồng tự ý định đoạt tài sản chung? 1. Chồng có được tự ý tặng tài sản chung của vợ chồng cho người tình không? - Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác. - Khoản 1 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Đặc biệt, khoản 2 Điều này yêu cầu việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng đối với bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.  --> Như vậy, nếu người chồng tự ý sử dụng tài sản chung để tặng cho người tình mà không có sự thỏa thuận của vợ, giao dịch này có thể vi phạm quy định về quyền định đoạt tài sản chung.  2. Người vợ có quyền yêu cầu lấy lại tài sản mà chồng đã tặng cho người tình không? Người vợ có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình nếu có căn cứ cho rằng việc tặng cho tài sản chung là trái pháp luật. - Theo Điều 117 và Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015, nếu người chồng tự ý tặng cho người tình tài sản chung như nhà đất, ô tô mà không có sự đồng ý bằng văn bản của vợ thì giao dịch có thể bị tuyên vô hiệu do vi phạm quy định về định đoạt tài sản chung. - Theo đó, khoản 2 Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, người vợ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu.  - Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, khi giao dịch bị tuyên vô hiệu, người tình phải khôi phục tình trạng ban đầu và hoàn trả tài sản đã nhận. Nếu không thể hoàn trả bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền tương ứng với giá trị tài sản  *Lưu ý: Nếu tài sản được tặng cho là tài sản riêng hợp pháp của người chồng, về nguyên tắc, người chồng có quyền định đoạt tài sản đó theo Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.  3. Người vợ cần làm gì để đòi lại tài sản đã bị chồng tặng cho người tình? - Khi phát hiện chồng tự ý tặng tài sản chung cho người tình, người vợ cần thu thập các tài liệu, chứng cứ để chứng minh nguồn gốc tài sản và việc chuyển giao tài sản. Những chứng cứ có thể sử dụng gồm sao kê tài khoản ngân hàng, giấy tờ mua bán, hợp đồng tặng cho, chứng từ chuyển tiền, tin nhắn hoặc tài liệu thể hiện việc người chồng đã giao tài sản cho người thứ ba. - Theo đó, người vợ có thể yêu cầu chồng và người nhận tài sản tự nguyện hoàn trả tài sản cho khối tài sản chung của vợ chồng. - Nếu các bên không thỏa thuận được, người vợ có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu xem xét hiệu lực của giao dịch tặng cho và giải quyết hậu quả pháp lý nếu giao dịch bị tuyên vô hiệu. KẾT LUẬN: Người chồng không được tùy ý định đoạt tài sản chung trái với quy định pháp luật. Nếu chồng sử dụng tài sản chung để tặng cho người tình mà không có sự thỏa thuận hợp pháp của vợ, người vợ có quyền yêu cầu Tòa án xem xét giao dịch và bảo vệ quyền lợi về tài sản của mình. Việc có đòi lại được tài sản hay không phụ thuộc vào nguồn gốc tài sản, tính hợp pháp của giao dịch và chứng cứ trong từng vụ việc. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng. 
Việc nhận thù lao (như 200 triệu đồng) để đứng tên hộ bất động sản (đất đai) tưởng chừng là công việc đơn giản nhưng ẩn chứa những rủi ro pháp lý rất lớn. Tùy thuộc vào bản chất dòng tiền, mục đích của người nhờ đứng tên và hành vi cụ thể, người đứng tên hộ có thể vướng vào các rủi ro Dân sự và Tội danh Hình sự 1. Giao dịch đứng tên hộ có được nhà nước thừa nhận không? Mục đích của người nhờ đứng tên là gì? Theo quy định của pháp luật đất đai, người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) là chủ thể được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Điều 28 Luật Đất đai 2024 đã xác định cụ thể các đối tượng được phép nhận quyền sử dụng đất bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài (với điều kiện được phép nhập cảnh vào Việt Nam). Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành hoàn toàn không có quy định nào đề cập hay ghi nhận việc “đứng tên hộ”. Về mặt quyền hạn pháp lý, Điều 26 và Điều 27 Luật Đất đai 2024 trao cho người sử dụng đất đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản đất đai của mình. Trong công tác quản lý thực tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ căn cứ duy nhất vào thông tin đăng ký trên Giấy chứng nhận để xác định chủ thể sử dụng đất. Về rủi ro pháp lý, người có tên trên Sổ đỏ mặc nhiên được pháp luật xem là chủ thể có toàn quyền đối với thửa đất. Ngược lại, thỏa thuận nhờ người khác đứng tên hộ là giao dịch không được pháp luật thừa nhận, không được Nhà nước bảo vệ khi xảy ra mâu thuẫn hay tranh chấp.Thực chất, việc thuê người đứng tên hộ đất đai là thủ đoạn không minh bạch nhằm lách luật, trốn thuế hoặc tẩu tán và che giấu tài sản bất minh:- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, do bị hạn chế quyền tiếp cận và đứng tên bất động sản tại Việt Nam, nhiều kiều bào đã gửi tiền về nhờ người thân trong nước đứng tên trên Giấy chứng nhận nhằm "lách" các rào cản pháp lý.- Cá nhân không đáp ứng điều kiện nhận chuyển nhượng phổ biến nhất là việc nhờ người dân địa phương đứng tên mua đất trồng lúa hoặc nhờ người khác mua nhà ở xã hội, nhằm hợp thức hóa các tiêu chuẩn khắt khe theo quy định như "trực tiếp sản xuất nông nghiệp" hay thuộc đối tượng được hưởng chính sách nhà ở.- Che giấu hoặc tẩu tán tài sản nhờ đứng tên hộ còn được dùng như một phương hại nhằm cất giấu tài sản bất minh, né tránh nghĩa vụ tài chính hoặc ngăn chặn việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong và trước thời điểm ly hôn. 2.  Rủi ro pháp lý về hình sự đối với người được nhờ đứng tên Nhận đứng tên hộ tài sản không rõ nguồn gốc khiến bạn đối mặt với nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội rửa tiền, Tội chứa chấp tài sản do phạm tội mà có hoặc bị xác định là đồng phạm tẩu tán tài sản phạm tội.-    Tội rửa tiền (Điều 324 Bộ luật Hình sự): Đây là rủi ro hình sự lớn nhất. Nếu tiền mua đất do người nhờ đứng tên phạm tội mà có (như tham ô, lừa đảo, trốn thuế, buôn lậu...) và người đứng tên hộ biết hoặc có cơ sở để biết nguồn gốc bất hợp pháp nhưng vẫn nhận đứng tên giúp nhằm hợp thức hóa dòng tiền.-    Đồng phạm giúp sức các Tội phạm kinh tế, tham nhũng: Người đứng tên hộ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm giúp sức trong các tội danh như Tội tham ô tài sản (Điều 353), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội trốn thuế (Điều 200) nếu tiếp tay tẩu tán, hợp thức hóa tài sản phạm tội.-    Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323) hoặc Tội che giấu tội phạm (Điều 389) áp dụng nếu biết rõ tài sản do vi phạm pháp luật mà có nhưng vẫn nhận đứng tên giữ hộ, cản trở điều tra.-    Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) hoặc Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) phát sinh nếu sau khi đứng tên hộ, người này nảy sinh ý định chiếm đoạt, tự ý đem nhà đất đi bán, thế chấp, gạt nợ hoặc cố tình không trả lại cho người nhờ.-    Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 341) nếu trong quá trình hoàn thiện hồ sơ sang tên, cấp giấy chứng nhận có hành vi tạo lập hoặc sử dụng hợp đồng, giấy tờ giả. 3.    Rủi ro pháp lý về dân sự đối với người được nhờ đứng tênTheo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, các giao dịch nhờ đứng tên thường bị xem là giao dịch giả tạo, hình thức chuyển nhượng công khai nhằm che giấu thỏa thuận sở hữu thực tế. Nên có thể xảy ra các trường hợp: -    Khi phát sinh mâu thuẫn giữa người nhờ và người đứng tên, hoặc khi một trong hai bên chết (phát sinh thừa kế), ly hôn (phát sinh chia tài sản vợ chồng), người đứng tên hộ sẽ bị lôi kéo vào các vụ kiện tụng dân sự kéo dài.-    Vì là chủ thể đứng tên hợp pháp trên giấy tờ, người đứng tên hộ phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về các khoản thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, hoặc bị xử phạt hành chính nếu đất bị sử dụng sai mục đích/vi phạm trật tự xây dựng.-    Nếu người đứng tên hộ vướng vào nghĩa vụ nợ nần cá nhân khác, cơ quan thi hành án hoặc ngân hàng có quyền phong tỏa, kê biên bất động sản đứng tên họ để xử lý nợ.-    Số tiền thù lao nhận được khi giao dịch bị tuyên vô hiệu hoặc bị xác định là tiền thu lợi bất chính từ hành vi vi phạm sẽ bị buộc hoàn trả hoặc tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Theo Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024, trường hợp công trình chưa bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy (PCCC) nhưng hồ sơ đã được hợp thức hóa, trách nhiệm pháp lý thuộc về các bên liên quan tùy theo vai trò và hành vi vi phạm. 1. Chủ đầu tư và chủ sở hữu công trình Căn cứ khoản 5 Điều 8 của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024: “5. Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, chủ phương tiện giao thông, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động đầu tư xây dựng công trình, sản xuất, lắp ráp, đóng mới, hoán cải phương tiện giao thông có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy trong việc áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, thẩm định, thi công, giám sát thi công, nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy.” Như vậy, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình có trách nhiệm thực hiện đúng các yêu cầu về PCCC trong thẩm định, thi công, giám sát và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả nghiệm thu về PCCC theo khoản 3 điều 18 của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024: “ Chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, chủ phương tiện giao thông chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy đối với công trình, phương tiện giao thông”Do đó, nếu chủ đầu tư, chủ sở hữu gian lận, nghiệm thu khống hoặc cố tình đưa công trình chưa bảo đảm an toàn PCCC vào sử dụng thì chính chủ đầu tư/chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm pháp lý trực tiếp đối với vi phạm của mình 2.  Đơn vị tư vấn thiết kế, thi công, giám sát và kiểm định. Các đơn vị tư vấn, thi công, giám sát phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của hồ sơ thiết kế, quá trình thi công và các biên bản nghiệm thu PCCC do mình thực hiện và xác nhận. Nghiêm cấm các hành vi làm giả, làm sai lệch kết quả thẩm định thiết ké về PCCC, kết quả kiểm tra nghiệm thu về PCCC được quy định tại Điều 14 của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024:“5. Làm giả, làm sai lệch kết quả thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy, kết quả kiểm tra nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy.”Như vậy, nếu đơn vị tư vấn hay thi công cố ý làm sai lệch bản vẽ, thi công không đúng chuẩn hoặc ký khống hồ sơ nghiệm thu thì chính đơn vị tư vấn, thi công đó phải chịu trách nhiệm pháp lý độc lập đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ chuyên môn của mình. 3. Cơ quan quản lý chuyên ngành và cán bộ thẩm định. Cơ quan Công an và cơ quan chuyên môn về xây dựng có trách nhiệm thẩm định thiết kế và kiểm tra công tác nghiệm thu PCCC theo thẩm quyền theo điểm b khoản 1 Điều 17 của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024.Luật nghiêm cấm hành vi lợi dụng, lạm dụng việc thực hiện nhiệm vụ PCCC để vi phạm pháp luật, nhũng nhiễu hoặc xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cán bộ, người có thẩm quyền nếu xác nhận, nghiệm thu sai sự thật hoặc hợp thức hóa hồ sơ cho công trình chưa đạt chuẩn sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm Nếu cán bộ, cơ quan có thẩm quyền thiếu trách nhiệm, nhắm mắt bỏ qua hoặc hợp thức hóa hồ sơ cho công trình chưa đạt chuẩn thì chính cá nhân cán bộ và cơ quan đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi vi phạm công vụ của mình. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Thực trạng và phương án xử lý 12 dự án. Sáng 28/10, HĐND TP Hà Nội thông qua Nghị quyết cơ chế, chính sách đặc thù và biện pháp khắc phục hậu quả để giải quyết tồn tại vi phạm về đất đai, trật tự xây dựng gắn với cải tạo, chỉnh trang đô thị tại một số dự án trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trong đó, những sai phạm của  chủ đầu tư xây dựng sai quy hoạch, gia tăng diện tích sàn, chia nhỏ căn hộ, làm tăng quy mô dân số và gây áp lực nghiêm trọng lên hạ tầng kỹ thuật, xã hội. Theo giấy phép xây dựng chỉ có 6.759 căn nhưng thực tế đã xây dựng tới 24.943 căn vượt 18.184 căn. Một số căn hộ tại các dự án VP3, VP5, CT6 Kiến Hưng, CT5 Tân Triều đã được cấp sổ còn nhiều dự án khác như VP6, HH1, HH2, HH3, HH4 Linh Đàm. Nghị quyết đã đưa ra hai nhóm xử lý đối với hạng mục vi phạm:-  Nhóm tồn tại đáp ứng đủ điều kiện: Phải đã hoàn thành và đi vào vận hành; bảo đảm an toàn chịu lực, PCCC, cứu nạn cứu hộ; đáp ứng đủ các chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, đỗ xe) và hạ tầng xã hội (trường mầm non, tiểu học, THCS, không gian sinh hoạt cộng đồng Khoảng cách giữa các khối tháp tuân thủ quy chuẩn (khoảng cách cạnh dài ≥ 17,5 m; đầu hồi ≥ 10,5 m; có ít nhất 3 mặt đứng đạt tiêu chuẩn), không vi phạm chỉ giới đường đỏ hay hành lang an toàn. Nếu thiếu hạ tầng, phải có phương án khắc phục kỹ thuật khả thi. Đối với nhà ở thấp tầng không nằm trên đất quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và phải thực hiện cải tạo, chỉnh trang theo phương án được duyệt.- Nhóm buộc phá dỡ toàn bộ hoặc một phần áp dụng đối với các công trình cao tầng không đáp ứng các tiêu chuẩn bắt buộc về an toàn, khoảng cách, chỉ giới hoặc hạ tầng mà không có phương án khắc phục khả thi. 2. Người mua căn hộ thuộc diện phải phá dỡ được bồi thường như nào? Để hiện thực hóa nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của bên thứ ba ngay tình theo Luật Thủ đô 2026, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Việc Thành phố cho phép người dân thuộc diện di dời được bồi thường, ưu tiên mua nhà ở tại dự án của chủ đầu tư hoặc mua/thuê mua nhà ở xã hội không qua bốc thăm dựa trên thẩm quyền của UBND Thành phố trong việc quyết định chuyển đổi linh hoạt giữa các loại hình nhà ở và tạo lập quỹ nhà ở phục vụ an sinh xã hội.Về chính sách bồi thường và hỗ trợ người mua nhà thuộc diện di dời sẽ được nhận tiền bồi thường từ chủ đầu tư và bàn giao trong vòng 90 ngày kể từ khi nhận đủ tiền theo mức bồi thường do Hội thẩm định giá hoặc Tòa án xác nhận.  Người bị di dời được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở xã hội không cần qua bốc thăm hoặc ưu tiên mua căn hộ khác của chủ đầu tư. Hộ dân có thu nhập duy nhất từ kinh doanh tại diện tích khối đế bị thu hồi/chuyển đổi công năng được hỗ trợ 6 tháng lương tối thiểu vùng.Để bảo vệ quyền lợi chính đáng và ổn định cuộc sống cho người mua nhà ngay tình (Người mua nhà hợp pháp, không có lỗi không phải chịu chi phí do việc khắc phục hậu quả của chủ đầu tư). Nghĩa vụ bồi thường cho người dân được ưu tiên thực hiện trước các nghĩa vụ tài chính và nộp ngân sách của chủ đầu tư. Người không thuộc diện di dời được tiếp tục thực hiện hợp đồng và sẽ được cấp sổ đỏ sau khi chủ đầu tư và người mua hoàn tất nghĩa vụ tài chính 3. Trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ đầu tư sẽ được xử lý như nào? Chủ đầu tư các dự án được phép tồn tại có điều kiện buộc phải nộp lại số tiền bất hợp pháp về xây dựng được tính như sau:Số tiền nộp = 50% * (Diện tích sàn vi phạm* Đơn giá xây dựng 1m2 theo suất vốn đầu tư)Chủ đầu tư đối với các trường hợp phải di dời do vướng phần công trình phải phá dỡ, chuyển đổi công năng được nhận tiền bồi thường, được ưu tiên mua nhà ở xã hội không cần bốc thăm, đồng thời được hỗ trợ ổn định sản xuất kinh doanh (tường đương 6 tháng lương tối thiểu vùng chi trả 1 lần). Tất cả đều do chủ đầu tư chịu toàn bộ chi phí. Nếu chủ đầu tư không chấp hành, cơ quan chức năng sẽ cưỡng chế thực hiện hoặc cưỡng chế tài sản để chi trả.  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Đang thuê trọ ổn định, người thuê bất ngờ nhận được thông báo nhà trọ đã chuyển sang chủ sở hữu mới và tiền thuê sẽ tăng từ tháng tiếp theo. Một số trường hợp, chủ nhà mới còn yêu cầu người thuê ký lại hợp đồng với mức giá cao hơn hoặc chuyển đi nếu không đồng ý. Vậy việc thay đổi chủ sở hữu có làm chấm dứt hợp đồng thuê trọ trước đó không? Chủ nhà mới có quyền tự ý tăng tiền thuê và người thuê cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? 1. Thay đổi chủ sở hữu nhà trọ có làm chấm dứt hợp đồng thuê không? - Theo khoản 2 Điều 173 Luật Nhà ở năm 2023: "Trường hợp chủ sở hữu nhà ở chuyển quyền sở hữu nhà ở đang cho thuê cho người khác mà thời hạn thuê nhà ở vẫn còn thì bên thuê nhà ở được tiếp tục thuê đến hết thời hạn hợp đồng; chủ sở hữu nhà ở mới có trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê nhà ở đã ký kết trước đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác"  --> Như vậy, việc nhà trọ được bán hoặc chuyển quyền sở hữu cho người khác không đồng nghĩa với việc hợp đồng thuê đang có hiệu lực tự động chấm dứt. Ví dụ, người thuê ký hợp đồng thuê phòng trong thời hạn 12 tháng với giá 2.500.000 đồng/tháng. Sau 04 tháng, chủ nhà bán toàn bộ khu trọ cho người khác. Trong trường hợp này, người thuê vẫn có quyền tiếp tục sử dụng phòng đến hết thời hạn hợp đồng và chủ nhà mới phải thực hiện các điều khoản đã thỏa thuận, trừ khi các bên thống nhất thay đổi. 2. Chủ nhà mới có được tự ý tăng tiền thuê trọ không? - Khoản 1 Điều 170 Luật Nhà ở năm 2023 quy định giá thuê nhà ở do bên cho thuê và bên thuê thỏa thuận, trừ trường hợp Nhà nước có quy định về giá thuê. - Đồng thời theo khoản 2 Điều 173 Luật nhà ở 2023 thì  chủ sở hữu nhà ở mới có trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê nhà ở đã ký kết trước đó. --> Do đó, nếu hợp đồng thuê trọ vẫn còn thời hạn và đã xác định mức giá thuê cố định, chủ nhà mới không được tự ý tăng giá chỉ với lý do đã thay đổi chủ sở hữu. Việc điều chỉnh giá thuê phải căn cứ vào nội dung hợp đồng hoặc sự thỏa thuận hợp pháp giữa các bên. 3. Nếu không đồng ý tăng tiền thuê, người thuê có bị buộc chuyển đi không? - Theo khoản 1 Điều 172 Luật Nhà ở năm 2023, trong thời hạn thuê nhà theo hợp đồng, bên cho thuê không được đơn phương chấm dứt hợp đồng và thu hồi nhà đang cho thuê, trừ những trường hợp pháp luật cho phép. --> Như vậy, nếu hợp đồng vẫn còn hiệu lực, người thuê thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và không có căn cứ chấm dứt hợp đồng theo quy định, chủ nhà mới không thể chỉ vì người thuê không đồng ý tăng giá mà buộc họ chuyển đi. - Mặt khác, điểm b khoản 3 Điều 172 Luật Nhà ở năm 2023 quy định người thuê có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu bên cho thuê tăng giá thuê bất hợp lý hoặc tăng giá mà không thông báo trước theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi thực hiện quyền này, người thuê phải thông báo cho bên cho thuê trước ít nhất 30 ngày bằng văn bản hoặc hình thức khác theo thỏa thuận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Nếu vi phạm nghĩa vụ thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695