Trong thực tế, nhiều người cho rằng chỉ cần một người có hành vi gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác thì chắc chắn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam không phải lúc nào cũng xử lý người gây ra hậu quả. Có những trường hợp, mặc dù hành vi đã gây thiệt hại nhưng người thực hiện không phải chịu trách nhiệm hình sự vì thuộc một trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

I. Loại trừ trách nhiệm hình sự là gì?
- Loại trừ trách nhiệm hình sự là những trường hợp pháp luật quy định mặc dù một người thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội hoặc gây thiệt hại, nhưng do hành vi đó được thực hiện trong những điều kiện đặc biệt nên không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Theo Bộ luật Hình sự hiện hành, có các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, sau đây:
+ Sự kiện bất ngờ;
+ Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự;
+ Phòng vệ chính đáng;
+ Tình thế cấp thiết;
+ Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội;
+ Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ;
1. Sự kiện bất ngờ (Điều 20 Bộ luật Hình sự)
- Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó => không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: Người đang điều khiển ô tô đúng quy định, bất ngờ một người lao ra đường khiến tai nạn xảy ra mà tài xế không thể tránh được. Nếu có đủ căn cứ chứng minh tài xế không thể lường trước tình huống này thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự.
2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21 Bộ luật Hình sự)
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình => không phải chịu trách nhiệm hình sự. Phải căn cứ vào kết luận giám định pháp y tâm thần, không chỉ dựa trên việc người đó có tiền sử bệnh.
- Nếu người phạm tội chỉ bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi mà chưa mất hoàn toàn => vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
Ví dụ: Một người mắc bệnh tâm thần phân liệt nặng và đang trong giai đoạn phát bệnh, có hoang tưởng rằng hàng xóm là người muốn sát hại mình. Trong cơn bệnh, người đó đã dùng gậy đánh hàng xóm gây thương tích. Sau khi vụ việc xảy ra, cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần và kết luận tại thời điểm thực hiện hành vi do mất hoàn toàn khả năng nhận thức và điều khiển hành vi vì mắc bệnh tâm thần nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
3. Phòng vệ chính đáng (Điều 22 Bộ luật Hình sự)
- Phòng vệ chính đáng là quyền của mỗi cá nhân nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác trước hành vi xâm phạm đang xảy ra.
- Điều kiện để được coi là phòng vệ chính đáng gồm:
+ Có hành vi tấn công trái pháp luật đang diễn ra.
+ Chống trả lại 1 cách cần thiết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.
+ Phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.
Trong trường hợp đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên thì người phòng vệ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Ngược lại, nếu việc chống trả rõ ràng vượt quá mức cần thiết, được xác định là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: A bị B dùng dao tấn công. A giằng được con dao và chống trả để khống chế B, khiến B bị thương. Nếu việc chống trả là cần thiết và phù hợp thì đây là phòng vệ chính đáng.
4. Tình thế cấp thiết (Điều 23 Bộ luật Hình sự)
- Tình thế cấp thiết là trường hợp một người buộc phải gây ra thiệt hại nhỏ hơn để ngăn chặn một thiệt hại lớn hơn đang có nguy cơ xảy ra. Nếu thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: Để tránh đâm vào một nhóm học sinh sang đường, tài xế buộc phải đánh lái làm hỏng hàng rào của một hộ dân. Thiệt hại đối với tài sản nhỏ hơn rất nhiều so với thiệt hại có thể xảy ra đối với tính mạng con người.
5. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24 Bộ luật Hình sự)
- Pháp luật cho phép cá nhân được sử dụng vũ lực cần thiết để bắt giữ người đang thực hiện hành vi phạm tội khi không còn cách nào khác. Trong trường hợp việc sử dụng vũ lực là cần thiết và phù hợp thì người bắt giữ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Ngược lại, nếu sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, gây thiệt hại không tương xứng thì vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: Người dân khống chế một tên cướp đang bỏ chạy khiến tên cướp bị gãy tay. Nếu việc sử dụng vũ lực là cần thiết để bắt giữ thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
6. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25 Bộ luật Hình sự)
- Trong hoạt động nghiên cứu khoa học hoặc thử nghiệm công nghệ mới luôn tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Nếu người thực hiện đã:
+ Tuân thủ đúng quy trình, quy phạm;
+ Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa;
nhưng vẫn xảy ra thiệt hại thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu không tuân thủ quy trình hoặc bỏ qua các biện pháp an toàn thì vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: Một nhóm nghiên cứu thử nghiệm thiết bị y tế theo đúng quy trình được phê duyệt nhưng thiết bị phát sinh lỗi ngoài dự liệu gây thiệt hại. Nếu đã thực hiện đầy đủ quy định về an toàn thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự.
⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
