BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Tình huống: Tôi và vợ kết hôn đã được 3 năm. Tôi làm nghề thợ xây, còn vợ là công nhân. Hằng tháng, sau khi nhận lương, tôi đều đưa gần như toàn bộ tiền cho vợ quản lý, chỉ giữ lại khoảng 200.000 đồng để đổ xăng đi làm. Vừa qua, vợ tôi mua một tờ vé số và may mắn trúng giải thưởng trị giá 2.000.000.000 đồng. Hiện nay, vợ tôi đang có ý định ly hôn. Tôi muốn hỏi, khoản tiền trúng vé số này được xác định là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ tôi? Nếu ly hôn thì tôi có quyền được chia khoản tiền này hay không?Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình, quy định tài sản chung của vợ chồng bao gồm: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Căn cứ Khoản 1 Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định về khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm: “Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng sổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của nghị định này.”Chiếu theo tình huống trên, hai vợ chồng đã kết hôn được 3 năm. Hằng tháng, thu nhập từ tiền lương của vợ chồng đều phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Người vợ sử dụng khoản tiền này để mua vé số và sau đó trúng thưởng 2.000.000.000 đồng. Theo quy định nêu trên, khoản tiền trúng thưởng xổ số này là thu nhập hợp pháp khác phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, việc người vợ đang có ý định ly hôn không làm thay đổi bản chất pháp lý của khoản tiền trúng thưởng. Khi giải quyết ly hôn, nếu giữa vợ chồng không tự thỏa thuận được về việc phân chia tài sản thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết theo quy định về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.Vậy, đối với khoản tiền trúng thưởng 2.000.000.000 đồng trong tình huống trên, đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn, người chồng có quyền yêu cầu Tòa án xem xét phân chia khoản tiền này theo đúng nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng được quy định trong LHN & GĐ.   
Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết? - Công ty Luật VietLawyer xin tư vấn về các thủ tục, hồ sơ giấy tờ để yêu cầu tuyên bố một người đã chết tại Tòa án như sau: Đối với thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết được quy định từ Điều 391 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đến Điều 393 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, cụ thể: “Điều 391. Quyền yêu cầu tuyên bố một người là đã chết 1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự. 2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết thuộc trường hợp theo quy định của Bộ luật dân sự.” Theo đó, kèm theo đơn yêu cầu tuyên bố chết thì người yêu cầu phải gửi kèm tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố chết là đã chết hoặc thuộc các trường hợp tại Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015. “Điều 392. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết 1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. 2. Nội dung thông báo, việc công bố thông báo và thời hạn thông báo được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 388 của Bộ luật này. 3. Trong thời hạn thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trở về và thông báo cho Tòa án biết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu. 4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thông báo thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.” Như vậy, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết. Trong thời hạn thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trở về và thông báo cho Tòa án biết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thông báo thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu. “Điều 393. Quyết định tuyên bố một người là đã chết Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết; trong quyết định này, Tòa án phải xác định ngày chết của người đó và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự.” Như vậy, nếu đơn yêu cầu được chấp nhận thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết; trong quyết định này, Tòa án phải xác định ngày chết của người đó và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết. Trên đây là tư vấn của VietLawyer, quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ giải quyết.
 
hotline 0936 645 695