Mua nhà cho con, con chưa thành niên có được đứng tên sổ đỏ không?

 

Trong thực tế, nhiều cha mẹ khi có điều kiện thường muốn mua nhà để con đứng tên. Tuy nhiên, nếu người con chưa đủ 18 tuổi thì việc đứng tên sổ đỏ có được pháp luật cho phép hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.

Trước tiên cần xem xét quy định của Bộ luật Dân sự liên quan đến người thành niên và người chưa thành niên, cụ thể:

"Điều 20. Người thành niên

1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.

2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.

Điều 21. Người chưa thành niên

1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý."

Theo đó:

- Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, được tự mình xác lập, thực hiện và quyết định đối với các giao dịch dân sự, bao gồm cả việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất và đứng tên sổ đỏ. 

- Đối với người chưa thành niên, việc tham gia giao dịch dân sự bị hạn chế, cụ thể:

-> Dưới 6 tuổi: mọi giao dịch do cha mẹ hoặc người giám hộ xác lập và thực hiện thay. 

-> Từ đủ 6 đến dưới 15 tuổi: khi tham gia giao dịch phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các nhu cầu sinh hoạt thông thường. 

-> Từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi: có thể tự mình xác lập giao dịch dân sự, nhưng đối với giao dịch liên quan đến bất động sản hoặc tài sản phải đăng ký thì vẫn phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.

Như vậy, có thể thấy người chưa thành niên vẫn có quyền sở hữu tài sản. Tuy nhiên, việc xác lập và thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của họ, đặc biệt là bất động sản, phải thông qua hoặc được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ.

Bên cạnh đó, về nguyên tắc, pháp luật không cấm người chưa thành niên đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở (sổ đỏ).

Căn cứ khoản 1 Điều 134 Luật Đất đai 2024:

"Điều 134. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng gắn liền với đất theo mẫu thống nhất trong cả nước."

Do đó, con chưa thành niên vẫn có thể đứng tên sổ đỏ nếu tài sản đó được xác lập hợp pháp cho con. Ví dụ: cha mẹ mua nhà nhưng xác định người nhận chuyển nhượng hoặc được tặng cho là con,...

Tuy nhiên, do con chưa thành niên chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nên mọi thủ tục liên quan đến việc mua bán, tặng cho, đăng ký sang tên đều phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện hoặc đồng ý. Trên thực tế, khi làm thủ tục cấp sổ đỏ đứng tên người chưa thành niên, cơ quan đăng ký đất đai sẽ yêu cầu thông tin về người đại diện theo pháp luật để ghi nhận việc quản lý, thực hiện quyền liên quan đến tài sản đó.

Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.

Thân gửi Quý khách hàng

Công ty Luật Phương Bình, về bản chất cũng giống như một công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, vậy nên văn hóa doanh nghiệp có những đặc thù, đặc điểm của nó.

I. Thương hiệu và logo

1. Luật Phương Bình - Luật sư Việt Nam, với mong muốn mà trí tuệ, tinh thần người Việt Nam, hiểu pháp luật, tập quán người Việt Nam.

2. Slogan:

"Luật sư của bạn" một từ đơn giản, gần gũi giản dị, luôn sát cánh, bên cạnh khách hàng, bảo vệ khách hàng, mang đến cho khách hàng sự hài lòng, an tâm và hạnh phúc.

"Luật sư của bạn" còn mang hàm ý rất lớn rằng chúng tôi luôn sẵn sàng phục vụ, đồng hành cùng thân chủ, khách hàng với sự tận tâm, chân thành của mình.

II. Giá trị cốt lõi

1. Chia sẻ

- Chia sẻ nội bộ: Chia sẻ kiến thức, chia sẻ cơ hội cùng nhau hợp tác với các luật sự, các cộng sự, các tổ chức, công ty luật trên toàn quốc.

- Chia sẻ với khách hàng: Chúng tôi luôn đứng trên quan điểm của luật pháp và quan điểm, mong muốn, nguyện vọng của khách hàng thể triển khai các công việc, phục vụ khách hàng.

- Chia sẻ với công đồng: Chúng tôi luôn cho rằng việc công đồng cùng hiểu biết pháp luật sẽ giúp cả công cộng đồng, cả đất nước hiểu biết pháp luật, từ đó tình trạng vi phạm pháp luật cúng thể mà giảm đi. Nên trách nhiệm chia sẻ kiến thức, công sức đến công đồng là việc rất quan trọng.

2. Tận tâm

Tận tâm với công việc, tân tâm với khách hàng, làm việc với "tâm đức" của luật sư bảo vệ chính nghĩa, lẽ phải, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tối đa.

3. Trách nhiệm

Khi có một kết quả không tốt, có lẽ ai cũng tìm cách để đùn đẩy trách nhiệm để nói rằng "lỗi đó không thuộc về tôi", nhưng ở Vietlawyer thì khác chúng tôi luôn thẳng thắn nhìn vào trách nhiệm của từng cá nhân, 

4. Không vi pháp luật

Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn luật, việc đầu tiên mà chúng tôi có thể làm tốt là không bản thân doanh nghiệp của mình, các thành viên của mình cần làm đúng theo quy định của pháp luật.

Từ đó mới có thể tư vấn, định hướng, cùng khách hàng triển khai các vụ việc, dự án, vụ án đúng theo quy định pháp luật, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của khách hàng.

Với những định hướng văn hóa rõ ràng, chúng tôi luôn nỗ lực để bản thân tốt lên mỗi ngày, từ đó hướng đến những thành công cùng khách hàng.

Vậy nên một lần nữa chúng tôi luôn mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của khách hàng.

Trân trọng.

Công ty Luật Phương Bình xin được gửi lời chào trân trọng và lời cảm ơn chân thành đến Quý khách hàng, Quý thân chủ, đã ủng hộ, giúp đỡ và tin tưởng chúng tôi trong những năm qua.

Được thành lập ngày 28 tháng 6 năm 2021, với đội ngũ Luật sư đông đảo, có thâm niên công tác trong ngành đều trên 10 năm, giàu kinh nghiệm.

Bên cạnh đó Công ty Luật Phương Bình còn có đội ngũ cố vấn là các Tiến sĩ, thạc sĩ là giảng viên, giám đốc pháp chế, công an (nghỉ hưu) lâu năm, dày dặn kinh nghiệm thực tiễn.

Ngoài ra với đội ngũ Luật sư tập sự, cử nhân luật, chuyên viên pháp lý trẻ, năng động, tài năng, nhiệt tình, được đào tạo bài bản từ các trường đại học uy tín hàng đầu của Việt Nam.

Chúng tôi, đã chiếm trọn niềm tin của khách hàng và chưa để khách hàng thất vọng trong những năm qua.

Tại Phương Bình, Chúng tôi cung cấp đầy đủ các dịch vụ: Thủ tục hành chính, tư vấn, tranh tụng, trong các lĩnh vực:

- Tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp theo vụ việc và thường xuyên;

- Tư vấn, tham gia bào chữa trong các giai đoạn tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ trong các vụ án hình sự;

- Tư vấn, đại diện theo uỷ quyền, cử luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng trong các vụ việc/vụ án tranh chấp dân sự;

- Tư vấn định hướng luật lao động cho doanh nghiệp và người lao động;

- Tư vấn, đại diện theo quỷ quyền để làm việc với các cơ quan quản lý nhà nước, cử luật sư bảo về quyền và lợi ích hợp pháp tại tòa án liên quan đến tranh chấp đất đai;

- Tư vấn, đại diện cho thân chủ trong các vụ án, vụ việc ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương, ly hôn có yếu tố nước ngoài;

- Và các vụ án, vụ việc về kinh doanh thương mại, hành chính, sở hữu trí tuệ...


Dù là vụ án, vụ việc nào với tâm đức của mình, chúng tôi luôn nỗ lực hoàn thành tốt công việc trách nhiệm của mình, để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng (thân chủ).

Với thế mạnh của mình, chúng tôi sẽ không ngừng phát triển để thu hút nhân tài, mở rộng thị trường, nghiên cứu chuyên sâu những nghiệp vụ pháp luật, nghiệp vụ tố tụng, kỹ năng giải quyết vụ việc... để hoàn thành tốt hơn, chăm sóc tốt hơn khách hàng của mình.

Và luôn hy vọng, sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ, tin tưởng của khách hàng.

Trân trọng.


Banner bài biết

BẠN ĐANG QUAN TÂM

Di sản đang có người chiếm giữ: Người thừa kế phải làm gì? Sau khi một người qua đời, di sản để lại có thể đang do một người khác quản lý, sử dụng hoặc chiếm giữ. Đặc biệt với nhà đất, việc một người tiếp tục ở trong căn nhà của người đã mất trong khi những người thừa kế khác không được nhận tài sản rất dễ phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp này, người thừa kế cần xác định rõ người đang giữ tài sản có phải là người quản lý di sản hợp pháp hay đang chiếm hữu tài sản không có căn cứ, từ đó lựa chọn cách thức yêu cầu giao lại di sản phù hợp.  1. Xác định tài sản đang bị chiếm giữ có phải là di sản thừa kế hay không Trước khi yêu cầu người khác giao trả tài sản, người thừa kế phải xác định tài sản đang bị quản lý, sử dụng hoặc chiếm giữ có thực sự thuộc khối di sản của người đã chết hay không. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Quy định này đặc biệt quan trọng đối với trường hợp di sản là nhà đất hoặc tài sản chung của vợ chồng. Không phải toàn bộ tài sản mà người chết từng sử dụng đều mặc nhiên trở thành di sản. Chỉ phần tài sản thuộc quyền của người chết tại thời điểm mở thừa kế mới được xác định là di sản để chia cho những người thừa kế. Như vậy, muốn yêu cầu người khác giao lại di sản, trước hết người thừa kế cần chứng minh được hai vấn đề: tài sản đang bị giữ thuộc di sản của người chết và mình là người có quyền hưởng di sản đó. Đây là cơ sở để tiếp tục xác định quyền yêu cầu giao tài sản. 2. Người đang giữ tài sản có phải là người quản lý di sản hợp pháp không? Không phải cứ một người đang giữ di sản thì đều được coi là người chiếm giữ trái pháp luật. Pháp luật cho phép một số người tiếp tục quản lý di sản trong thời gian chưa hoàn tất việc phân chia. Cụ thể, Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người quản lý di sản: “Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.”. Trường hợp chưa xác định được người quản lý theo các trường hợp này thì người đang chiếm hữu, sử dụng hoặc quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý. Tuy nhiên, quyền quản lý này không đồng nghĩa với quyền sở hữu riêng đối với di sản. Điều 617 Bộ luật Dân sự 2015 đặt ra các nghĩa vụ cụ thể đối với người quản lý di sản. Đáng chú ý, điểm đ khoản 1 Điều 617 quy định người quản lý di sản có nghĩa vụ “Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế”. Đối với người đang chiếm hữu, sử dụng hoặc quản lý di sản theo khoản 2 Điều 616, điểm d khoản 2 Điều 617 cũng quy định người này phải “Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.” Như vậy, nếu người đang giữ tài sản chỉ có tư cách quản lý di sản thì họ không thể lấy lý do đang quản lý tài sản để từ chối vô thời hạn yêu cầu hợp pháp của người thừa kế. Khi có yêu cầu giao lại di sản phù hợp với quy định pháp luật, người quản lý phải thực hiện nghĩa vụ của mình. 3. Người đang quản lý di sản không được tự ý bán, tặng cho hoặc thế chấp tài sản Một trong những vấn đề nghiêm trọng hơn là người đang giữ di sản tự ý bán, tặng cho, cầm cố hoặc thế chấp tài sản mà không có sự đồng ý của những người có quyền thừa kế. Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 617 Bộ luật Dân sự 2015, người quản lý di sản có nghĩa vụ bảo quản di sản và “không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản”. Đối với người đang chiếm hữu, sử dụng hoặc quản lý di sản theo khoản 2 Điều 616, điểm a khoản 2 Điều 617 cũng quy định nghĩa vụ bảo quản di sản và không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt di sản bằng hình thức khác. Như vậy, người được giao quản lý di sản chỉ có quyền quản lý, bảo quản tài sản chứ không mặc nhiên có quyền định đoạt tài sản như chủ sở hữu riêng. Nếu người này tự ý bán hoặc thế chấp di sản mà không có căn cứ pháp luật, người thừa kế cần nhanh chóng thu thập các giấy tờ về tài sản và chứng cứ về giao dịch để bảo vệ quyền lợi của mình.  4. Người thừa kế có quyền yêu cầu giao lại di sản, trường hợp cần thiết có thể yêu cầu Tòa án giải quyết Khi người đang giữ tài sản không có căn cứ pháp luật hoặc không thực hiện nghĩa vụ giao lại di sản, người có quyền có thể yêu cầu trả lại tài sản căn cứ theo Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.” Quy định này là căn cứ quan trọng để người có quyền đối với di sản yêu cầu người đang chiếm hữu không có căn cứ phải trả lại tài sản. Ngoài ra, Điều 169 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.” cho phép chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật chấm dứt hành vi đó hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm. Do đó, người thừa kế nên bắt đầu bằng việc gửi văn bản yêu cầu người đang giữ di sản giao lại tài sản, đồng thời nêu rõ căn cứ về quyền thừa kế và tài sản yêu cầu giao trả. Nếu người này không tự nguyện thực hiện, tranh chấp có thể được đưa ra Tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. 5. Cần lưu ý thời hiệu và chuẩn bị chứng cứ để bảo vệ quyền thừa kế Người thừa kế không nên để tranh chấp kéo dài mà không có biện pháp bảo vệ quyền của mình. Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản như sau: “1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.” Như vậy, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Đối với yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác, thời hiệu là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Nếu ngoài thời hiệu trên thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Nếu không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm giữ theo quy định pháp luật hoặc thuộc về Nhà nước nếu không có người đang chiếm giữ theo quy định pháp luật. Vì vậy, khi phát hiện di sản đang do một người khác chiếm giữ, người thừa kế nên thu thập giấy chứng tử của người để lại di sản, giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế, di chúc nếu có, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản và các tài liệu thể hiện việc người khác đang quản lý, sử dụng hoặc chiếm giữ tài sản. Trường hợp những người thừa kế cùng có quyền đối với di sản, cần xác định rõ phần quyền của từng người. Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.” thì những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Từ các quy định trên có thể thấy, người đang giữ di sản không đương nhiên trở thành chủ sở hữu của tài sản chỉ vì họ đang trực tiếp quản lý hoặc sử dụng tài sản. Nếu họ là người quản lý di sản thì phải thực hiện đúng các nghĩa vụ tại Điều 617, trong đó có nghĩa vụ giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế. Nếu họ chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật, người có quyền có thể căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền đòi lại tài sản: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.”để yêu cầu đòi lại tài sản và sử dụng cơ chế khởi kiện tại Tòa án khi cần thiết."  KẾT LUẬN Di sản đang do người khác quản lý hoặc chiếm giữ không đồng nghĩa với việc người đó có quyền sở hữu riêng đối với tài sản. Người thừa kế cần xác định rõ nguồn gốc di sản, quyền thừa kế của mình và tư cách của người đang quản lý, chiếm giữ tài sản. Trường hợp không tự nguyện giao trả, người thừa kế có thể thực hiện quyền yêu cầu đòi lại tài sản và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự, đồng thời cần lưu ý thời hiệu để bảo vệ đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.  
Khi phát sinh tranh chấp thừa kế, một người thừa kế có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp người khởi kiện không kê khai đầy đủ những người có quyền hưởng di sản, do không biết, không xác định được nơi cư trú hoặc thậm chí cố tình không đưa một người thừa kế vào vụ án. Vậy việc bỏ sót người thừa kế có làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án và bản án của Tòa án hay không? 1. Những người thừa kế nào cần được xác định khi giải quyết vụ án chia di sản? -Trường hợp 1:  Nếu di sản được chia theo pháp luật + Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các hàng thừa kế theo thứ tự: Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết. --> Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau; Hàng thừa kế sau chỉ được hưởng khi không còn ai ở hàng trước do những nguyên nhân được luật quy định. +  Ngoài ra, khi có người thuộc trường hợp thừa kế thế vị, quyền hưởng di sản của người đó cũng cần được xem xét. Chẳng hạn, nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu có thể được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. - Trường hợp 2: Nếu người chết có để lại di chúc + Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một số người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động nếu đáp ứng các điều kiện luật định. --> Vì vậy, khi khởi kiện chia di sản, cần xác định đầy đủ những người có quyền hưởng thừa kế. 2. Có được bỏ sót người thừa kế khi khởi kiện không? - Theo khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đơn khởi kiện phải có thông tin về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những vấn đề mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết đối với họ. Trong vụ án chia di sản thừa kế, người có quyền hưởng một phần di sản thường là người có quyền lợi trực tiếp liên quan đến kết quả giải quyết vụ án. Vì vậy, họ cần được xác định và tham gia tố tụng để có cơ hội trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và bảo vệ quyền hưởng thừa kế của mình. - Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, nếu việc giải quyết vụ án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nhưng không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng thì Tòa án phải đưa người đó vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. --> Như vậy, trách nhiệm xác định đầy đủ người tham gia tố tụng không chỉ đặt ra đối với người khởi kiện mà còn thuộc trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. 3. Trường hợp phát hiện bỏ sót người thừa kế khi vụ án đang được giải quyết? - Nếu vụ án vẫn đang trong quá trình giải quyết tại Tòa án và phát hiện còn một người có quyền hưởng di sản chưa được đưa vào tham gia tố tụng thì cần thông báo ngay cho Tòa án. Tòa án có thể xác minh quan hệ nhân thân, quyền hưởng thừa kế và đưa người này vào vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu việc phân chia di sản có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. - Theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định người được đưa vào tham gia tố tụng có quyền trình bày ý kiến, cung cấp tài liệu và chứng cứ, tham gia phiên họp, phiên tòa và có thể đưa ra yêu cầu độc lập khi đáp ứng điều kiện của pháp luật. Ví dụ, ông A mất không để lại di chúc và có bốn người con là B, C, D và E. B khởi kiện yêu cầu chia căn nhà do ông A để lại nhưng trong đơn chỉ xác định C và D là những người thừa kế, không đề cập đến E. Nếu xác định E cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất và chưa từ chối nhận di sản, việc chia căn nhà trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của E. Vì vậy, E cần được đưa vào tham gia tố tụng trước khi vụ án được giải quyết. 4. Trường hợp Tòa án đã xét xử nhưng bỏ sót người thừa kế thì bản án có bị hủy không? - Việc Tòa án không đưa đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào quá trình giải quyết vụ án có thể được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nếu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. - Theo khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khi có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể hủy bản án sơ thẩm hoặc phần bản án có liên quan và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại. 5. Trường hợp Bản án đã có hiệu lực mới phát hiện bỏ sót người thừa kế thì xử lý thế nào? - Khoản 1 Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định bản án, quyết định đã có hiệu lực có thể bị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng và dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ; hoặc có sai lầm trong áp dụng pháp luật gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. --> Như vậy, nếu một người thực sự có quyền hưởng di sản nhưng hoàn toàn không được đưa vào tham gia vụ án và bản án đã phân chia hết khối di sản cho những người khác, người bị ảnh hưởng có thể gửi văn bản, tài liệu chứng minh quyền thừa kế của mình đến cơ quan có thẩm quyền để đề nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong nhiều gia đình, bố mẹ muốn giữ lại căn nhà của gia đình làm nơi thờ cúng tổ tiên nên khi lập di chúc thường giao căn nhà cho một người con quản lý. Sau khi bố mẹ qua đời, những người con còn lại có thể cho rằng mình cũng là con nên có quyền đối với căn nhà và yêu cầu chia đều tài sản. Vậy trong trường hợp bố mẹ đã lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà cho một người con để thờ cúng tổ tiên, những người con khác có được yêu cầu đem căn nhà đó ra chia thừa kế hay không? 1. Bố mẹ có quyền để lại tài sản trong di chúc để dùng vào việc thờ cúng không? - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, quyền của người lập di chúc: “ Điều 626. Quyền của người lập di chúcNgười lập di chúc có quyền sau đây:1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.” --> Theo đó, người để lại thừa kế có quyền dành một phần hoặc toàn bộ di sản để dùng vào việc thờ cúng.  2. Căn nhà đã được xác định là di sản thờ cúng thì những người con khác có được chia không? - Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể đối với di sản dùng vào việc thờ cúng. Theo đó, khi người lập di chúc dành một phần di sản để thờ cúng thì: phần di sản đó không được chia thừa kế; tài sản được giao cho người được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu không chỉ định người quản lý thì những người thừa kế sẽ cử người quản lý; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng nội dung di chúc hoặc không thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao tài sản cho người khác quản lý. --> Như vậy, nếu nội dung di chúc hợp pháp và căn nhà thực sự được xác định là di sản dùng vào việc thờ cúng, thì căn nhà không được đưa ra chia thừa kế như một tài sản thông thường.  Bên cạnh đó, căn nhà dùng để thờ cúng không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người thừa kế nào. Người được nhắc đến trong di chúc cũng chỉ là người quản lý và trực tiếp thờ cúng.  3. Những người con khác có thể được chia căn nhà trong trường hợp nào? Mặc dù có di chúc, vẫn có một số trường hợp những người con khác có thể yêu cầu xem xét quyền hưởng di sản: Trường hợp 1:  Di chúc không hợp pháp. - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, để di chúc hợp pháp, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; đồng thời nội dung và hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật. Ví dụ, nếu có căn cứ chứng minh bố hoặc mẹ không còn minh mẫn khi lập di chúc, chữ ký bị giả mạo hoặc việc lập di chúc xuất phát từ sự cưỡng ép thì những người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của di chúc.Nếu di chúc không hợp pháp, di sản hoặc phần di sản tương ứng có thể được chia theo pháp luật theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.  Trường hợp 2: Có người thuộc diện được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc. - Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một số người vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu họ không được cho hưởng di sản hoặc được hưởng ít hơn mức này. Nhóm này bao gồm con chưa thành niên và con thành niên không có khả năng lao động; ngoài ra còn có cha, mẹ, vợ hoặc chồng của người để lại di sản. Ví dụ, bố mẹ có 03 người con đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động bình thường và bố mẹ lập di chúc hợp pháp để lại căn nhà cho người con cả. Hai người con còn lại không thuộc trường hợp đương nhiên được hưởng 2/3 suất thừa kế theo Điều 644 chỉ vì họ là con của người chết.Ngược lại, nếu một người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì quyền hưởng phần di sản bắt buộc của người đó cần được xem xét, mặc dù di chúc không cho họ hưởng tài sản. Trường hợp 3: Căn nhà không hoàn toàn thuộc quyền định đoạt của người lập di chúc. - Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự, di sản chỉ bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Do đó, một người chỉ có quyền lập di chúc đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Ví dụ, căn nhà là tài sản chung của bố và mẹ. Nếu chỉ bố lập di chúc để lại “toàn bộ căn nhà” cho một người con nhưng mẹ không có nội dung định đoạt tương ứng thì di chúc của bố không thể làm phát sinh quyền đối với phần tài sản thuộc sở hữu của mẹ. Nếu cả bố và mẹ đều có di chúc hợp pháp định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình theo cùng một hướng thì mới có cơ sở xem xét toàn bộ căn nhà theo nội dung các di chúc đó.  Trường hợp 4: Di sản phải được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết. - Khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự quy định rằng nếu toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản để thờ cúng. Ví dụ, bố mẹ còn khoản nợ hợp pháp chưa thanh toán và tài sản để lại không đủ để thực hiện nghĩa vụ đó thì không thể viện dẫn việc căn nhà được dành để thờ cúng để loại trừ hoàn toàn quyền của chủ nợ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Cha, mẹ muốn lập di chúc để định đoạt tài sản cho các con nhưng do tuổi cao, sức khỏe yếu hoặc không biết chữ nên không thể tự mình viết di chúc. Khi đó, con cái có thể viết nội dung di chúc theo ý chí của cha, mẹ hay không? Dưới đây là những phân tích theo quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Cha, mẹ có quyền tự mình lập di chúc để định đoạt tài sản - Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Người lập di chúc có quyền: Chỉ định người thừa kế, truất quyền, phân định phần di sản,... => Như vậy, về nguyên tắc, cha, mẹ có quyền quyết định tài sản thuộc quyền sở hữu của mình sẽ được để lại cho ai sau khi qua đời. 2. Con cái có thể viết thay di chúc cho cha, mẹ không? Câu trả lời là có. Nhưng việc lập di chúc trong trường hợp này phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ của pháp luật cụ thể: Thứ nhất, di chúc hợp pháp - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: + Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;+ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Thứ hai, Không tự mình viết di chúc thì phải có người làm chứng - Theo Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: + Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc NHƯNG phải có ít nhất là 2 người làm chứng.+ Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng+ Những người làm chứng xác nhận và ký vào bản di chúc. - Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, TRỪ NHỮNG NGƯỜI SAU ĐÂY: + Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.+ Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. KẾT LUẬN: Như vậy, pháp luật không bắt buộc người lập di chúc phải tự tay viết di chúc trong mọi trường hợp. Nếu cha, mẹ không tự mình viết được thì có thể nhờ con viết hoặc đánh máy bản di chúc. Tuy nhiên, nội dung di chúc phải thể hiện ý chí của chính người lập di chúc và phải có 2 người làm chứng và con không thể tham gia với tư cách là người làm chứng di chúc của bố mẹ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, không phải mọi vụ án đều được Tòa án giải quyết liên tục cho đến khi đưa ra bản án. Trong một số trường hợp, Tòa án có thể tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hai khái niệm này có điểm giống nhau là đều làm cho quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án không tiếp tục theo thủ tục thông thường, nhưng tạm đình chỉ và đình chỉ có bản chất và hậu quả pháp lý khác nhau. Vậy tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án dân sự là gì? Khi nào được áp dụng? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. 1. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án TẠM THỜI DỪNG giải quyết vụ án khi xuất hiện một trong những căn cứ luật định. Việc tạm đình chỉ KHÔNG làm CHẤM DỨT vụ án. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong CÁC TRƯỜNG HỢP chủ yếu sau (Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Đương sự là cá nhân chết hoặc cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động mà chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; + Đương sự mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên nhưng chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; + Chấm dứt việc đại diện hợp pháp nhưng chưa có người thay thế; + Cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan hoặc phải chờ cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước; + Cần chờ kết quả ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc chờ cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; + Cần chờ kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ:A khởi kiện B yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp. Trong trường hợp này, nếu đáp ứng điều kiện luật định, Tòa án có thể tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả của vụ án có liên quan.=> Khi nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ được khắc phục, vụ án có thể được tiếp tục giải quyết. 2. Hậu quả của việc tạm đình chỉ vụ án dân sự - Vụ án không bị xóa khỏi sổ thụ lý mà chỉ được ghi chú về quyết định tạm đình chỉ; - Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và sẽ được xử lý khi vụ án tiếp tục được giải quyết; - Thẩm phán được phân công vẫn có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc để khắc phục nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ; - Quyết định tạm đình chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. 3. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Khác với tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án CHẤM DỨT việc giải quyết vụ án sau khi đã thụ lý vì xuất hiện căn cứ theo quy định của pháp luật. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong CÁC TRƯỜNG HỢP như (Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; + Cơ quan, tổ chức đã giải thể, phá sản mà không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; + Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; + Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không thuộc trường hợp được pháp luật loại trừ (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan); + Đã có quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là đương sự và việc giải quyết vụ án liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; + Nguyên đơn không nộp tiền, ,chi phí tạm ứng chi phí định giá tài sản và các chi phí tố tụng khác theo quy định; + Đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định mà thời hiệu khởi kiện đã hết; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ: A khởi kiện B yêu cầu thanh toán khoản nợ. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, A tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Nếu việc rút yêu cầu đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. 4. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự - Theo Điều 217 và Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự, khi đình chỉ giải quyết vụ án:+ Tòa án xóa tên vụ án trong sổ thụ lý; + Trong trường hợp đương sự có yêu cầu, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và lưu bản sao theo quy định; + Trong nhiều trường hợp, đương sự không được khởi kiện lại cùng vụ án nếu vụ án sau không có gì khác về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác; + Việc xử lý tiền tạm ứng án phí phụ thuộc vào lý do đình chỉ. Ví dụ: Nếu người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện => tiền tạm ứng án phí được trả lại cho họ Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt => tiền tạm ứng án phí được sung vào công quỹ nhà nước. + Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cũng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Kết luận: Tạm đình chỉ = Tạm dừng → khắc phục lý do → tiếp tục giải quyết.Đình chỉ = Chấm dứt → không tiếp tục giải quyết  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Tình huống: Đầu năm 2021, do gặp khó khăn về tài chính nên anh T có vay của tôi 200.000.000 đồng để trang trải cuộc sống. Hai bên có lập giấy vay tiền, trong đó thỏa thuận rõ số tiền vay, lãi suất và thời hạn thanh toán là tháng 9/2025. Tuy nhiên, khi đến hạn, tôi nhiều lần liên hệ yêu cầu anh T trả nợ thì anh đều lấy lý do khất lần. Gần đây, tôi đến nhà để đòi tiền thì anh T không những từ chối thanh toán mà còn giật lấy và xé giấy vay tiền ngay trước mặt tôi, đồng thời cho rằng không còn giấy vay thì tôi sẽ không thể đòi được khoản tiền này. Xin hỏi, trong trường hợp anh T đã xé giấy vay tiền thì tôi còn có thể yêu cầu anh T trả 200.000.000 đồng đã cho vay hay không?Trả lời: Theo quy định định tại Điều 463 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.” Như vậy, nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ việc trả nợ khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chi trả lãi cho bên cho vay. Việc bên vay xé giấy vay sẽ không làm chấm dưt dứt hợp đồng vay trước đó và bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ cả gốc lẫn lãi cho bên vay. Trên thực tế khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, tòa án không chỉ căn cứ vào giấy vay tiền mà sẽ xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp. Do đó, mặc dù giấy vay tiền đã bị anh T xé bỏ nhưng nếu người cho vay vẫn có các chứng cứ khác chứng minh việc vay tiền thì vẫn có cơ sở để yêu cầu Tòa án buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Những chứng cứ này có thể bao gồm tin nhắn, email, nội dung trao đổi qua Zalo hoặc Messenger, ghi âm, ghi hình, sao kê chuyển khoản ngân hàng, biên nhận giao tiền, lời khai của người làm chứng hoặc hình ảnh camera ghi lại việc anh T xé giấy vay tiền. Đây đều là những nguồn chứng cứ hợp pháp mà Tòa án có thể xem xét khi giải quyết vụ án.Đối với trường hợp trên, việc anh T cố ý xé giấy vay tiền có dấu hiệu nhằm che giấu hoặc làm mất chứng cứ để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, người cho vay cần nhanh chóng thu thập và bảo quản toàn bộ các chứng cứ còn lại, tránh để dữ liệu điện tử bị xóa hoặc thất lạc. Đồng thời, người cho vay nên yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng để ghi nhận các tin nhắn, hình ảnh, dữ liệu điện tử hoặc việc anh T từ chối trả nợ.Như vậy, việc anh T xé giấy vay tiền không đồng nghĩa với việc khoản nợ bị xóa bỏ hay người cho vay mất quyền đòi nợ. Nếu có đủ căn cứ chứng minh giữa hai bên đã phát sinh quan hệ vay tài sản thì người cho vay hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh T thanh toán khoản nợ gốc 200.000.000 đồng, tiền lãi theo thỏa thuận và các khoản lãi chậm trả (nếu có) theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Việc thả rông trâu, bò, ngựa, chó,... hoặc các loại vật nuôi khác trên đường hoặc tại nơi công cộng không chỉ tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông mà còn có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Vậy khi thả rông vật nuôi gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông thì sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự theo quy định của pháp luật. Dưới đây là những phân tích về các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Vật nuôi bao gồm?  - Theo Khoản 5 Điều 2 Luật Chăn nuôi năm 2018 quy định "Vật nuôi bao gồm gia súc, gia cầm và động vật khác trong chăn nuôi." Các vật nuôi phổ biến gồm: trâu, bò, ngựa, dê, cừu, lợn, chó, mèo, gà, vịt...- Hiện nay, pháp luật chưa có quy định giải thích cụ thể về khái niệm thả rông vật nuôi. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là việc chủ sở hữu hoặc người đang quản lý để vật nuôi tự do đi lại mà không có người trong coi hoặc không áp dụng các biện pháp quản lý cần thiết, dẫn đến vật nuôi đi vào đường bộ, cản trở giao thông hoặc gây thiệt hại cho người tham gia giao thông.- Và theo Khoản 3 Điều 32 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: “Không được thả vật nuôi trên đường bộ”. Do đó, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có trách nhiệm quản lý, trong giữ vật nuôi của mình, không để vật nuôi tự do đi trên đường bộ làm ảnh hưởng, gây cản trở đến giao thông. 2.  Những trách nhiệm pháp lý có thể phải chịu ? Tùy theo hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang chiếm giữ, sử  vật nuôi có thể phải chịu một hoặc nhiều loại trách nhiệm sau đây: 2.1. Trách nhiệm dân sự - Nếu có thiệt hại xảy ra thì đây là trách nhiệm đầu tiên đối với chủ nuôi, người quản lý vật nuôi. Theo quy định tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: + Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Các khoản thiệt hại phải đền bù có thể bao gồm: +++ Thiệt hại về tài sản (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.+++ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; Thu nhập thực tế bị mất của người bị nạn; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị và cả khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. + Nếu vật nuôi đang được giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người chiếm hữu, sử dụng đó phải có trách nhiệm bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2.2. Trách nhiệm hành chính - Theo Điều 11 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định người điều khiển dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ có thể bị phạt hành chính như sau:+ Phạt tiền từ 150.000 đồng đến 250.000 đồng đối với hành vi để vật nuôi đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người, phương tiện đang tham gia giao thông;+ Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với hành vi dẫn dắt vật nuôi chạy theo khi đang điều khiển hoặc ngồi trên phương tiện giao thông đường bộ;+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển, dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo đi vào đường cao tốc. - Theo Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng: + Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi thả rông động vật nuôi ở nơi công cộng. 2.3. Trách nhiệm hình sự Trường hợp chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi do cẩu thả, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý vật nuôi, để vật nuôi chạy ra đường gây tai nạn làm chết người thì tùy tính chất, mức độ của hành vi và hậu quả xảy ra, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội vô ý làm chết người" theo quy định của Bộ luật Hình sự. + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 01 người;+ Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 02 người trở lên. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Chị H hỏi: "Tôi là người được thi hành án theo bản án của Tòa án. Người phải thi hành án là bà B có nghĩa vụ trả cho tôi 500.000.000 đồng và tiền lãi chậm thi hành án. Hiện Thi hành án dân sự đã kê biên quyền sử dụng đất của bà B, nhưng đây là tài sản chung của vợ chồng nên chưa xác định được phần quyền sử dụng đất của bà B. Xin hỏi, tôi có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của bà B trong khối tài sản chung để phục vụ việc thi hành án hay không?"Trả lời: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định người thi hành án có quyền yêu cầu tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi hành án bằng cách khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án.Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án:Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật thi hành án dân sự 2025 quy định, trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác thì Chấp hành viên xử lý như sau:- Thông báo cho người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền sở hữu chung thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án. Việc xử lý tài sản thực hiện theo thỏa thuận của các đương sự hoặc quyết định của Tòa án;- Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.Về thẩm quyền giải quyết:Theo quy định tại khoản 12 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy đinh của pháp luật về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết:           - Thẩm quyền theo cấp: Căn cứ quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định: Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này. - Thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bố luật Tố tụng dân sự 2015 thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:+ Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;+ Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này.+ Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.Như vậy, Chị H hoàn toàn có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án xác định rõ phần quyền sử dụng đất của bà B. Sau khi Tòa án ban hành bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án dân sự sẽ có căn cứ để xử lý, đấu giá phần tài sản đó nhằm hoàn trả tiền cho chị H.  Trên đây là tư vấn của Luật Phương Bình, Nếu mọi người có gì thắc mắc vui lòng liên hệ đến số điện thoại để được Ls tư vấn trực tiếp 0936 645 695  
 
hotline 0936 645 695