DỊCH VỤ LUẬT SƯ DÂN SỰ

   Con người từ khi sinh ra đã mang một giới tính nhất định. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy, không phải lúc nào giới tính của một người cũng được hoàn thiện sẵn khi người đó ra đời. Lúc này, việc xác định lại giới tính cho họ là sự tôn trọng cũng như cần thiết. Vậy, pháp luật Việt Nam quy định khi nào được xác định lại giới tính? Công ty VietLawyer xin chia sẻ về vấn đề này qua bài viết dưới đây. Khái niệm giới tính    Theo Khoản 2 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006: “2. Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.”    Như vậy, giới tính chỉ sự khác biệt giới về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học). Theo đó, giới tính chỉ bao gồm nam và nữ. Khi nào được xác định lại giới tính    Căn cứ Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định: “1. Cá nhân có quyền xác định lại giới tính. Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính.”    Như vậy, việc xác định giới tính của một người được thực hiện trong các trường hợp sau:    - Giới tính bị khuyết tật bẩm sinh: Khuyết tật bẩm sinh về giới tính là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người ngay từ khi mới sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật.    - Chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính: Giới tính chưa được định hình chính xác là những trường hợp chưa thể phân biệt được một người là nam hay nữ xét về cả bộ phận sinh dục và nhiễm sắc thể giới tính. Nguyên tắc xác định lại giới tính    Điều 3 Nghị định 88/2008/NĐ-CP quy định nguyên tắc xác định lại giới tính như sau:    - Bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình.    - Việc xác định lại giới tính phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, khách quan, trung thực, khoa học và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định lại giới tính.    - Giữ bí mật về các thông tin liên quan đến người được xác định lại giới tính, trừ trường hợp có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ phục vụ cho việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố và xét xử liên quan đến việc xác định lại giới tính. Quyền, nghĩa vụ của cá nhân sau khi xác định lại giới tính    - Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch;    - Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật Dân sự và luật khác có liên quan. Xử phạt hành chính về xác định lại giới tính    Các mức phạt hành chính về xác định lại giới tính được quy định tại Điều 45 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, cụ thể:    - Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:    + Tiết lộ thông tin về việc xác định lại giới tính của người khác;    + Phân biệt đối xử đối với người đã xác định lại giới tính (Ngoài ra người có hành vi vi phạm còn phải xin lỗi trực tiếp người bị phân biệt đối xử).    - Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi xác định lại giới tính khi chưa được phép của Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế.    Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Pháp luật quy định thế nào về tiền tử tuất? Liệu tiền tử tuất có phải di sản thừa kế không? Mời bạn đọc cùng theo dõi chi tiết tại bài viết dưới đây: 1. Tiền tử tuất là gì? Gồm những khoản nào? Tiền tử tuất là khoản tiền nằm trong chế độ bảo hiểm xã hội dành cho thân nhân của người lao động có đóng bảo hiểm xã hội mà chết. Theo Luật Bảo hiểm xã hội, tiền tử tuất gồm trợ cấp mai táng, trợ cấp tuất (hàng tháng và một lần). Trong đó: - Trợ cấp mai táng: Là khoản trợ cấp dành cho người lo mai táng cho người lao động đã đóng đủ 60 tháng trở lên hoặc người đang hưởng lương hưu mà chết (theo khoản 1 Điều 80 Luật Bảo hiểm xã hội). - Trợ cấp tuất: Là khoản tiền của chế độ tử tuất mà cơ quan bảo hiểm xã hội trả cho người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội/bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội mà chết. Trợ cấp tuất được trả theo hai hình thức: Trả hàng tháng hoặc trả một lần. 2. Tiền tử tuất có phải là di sản thừa kế không? Theo quy định hiện nay, chỉ có một trường hợp duy nhất, tiền tử tuất được coi là di sản thừa kế. Trường hợp đó hiện đang được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 88 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 . Theo đó, khi người lao động chết mà không có thân nhân (con đẻ, con nuôi, vợ/chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng hoặc thành viên khác mà người lao động có nghĩa vụ nuôi dưỡng) thì tiền trợ cấp một lần được thực hiện theo quy định về thừa kế. Với các trường hợp khác, tiền tử tuất là khoản tiền bảo hiểm xã hội chi trả cho thân nhân của người lao động khi người này chết hoặc khoản tiền hỗ trợ chi phí mai táng cho người thực hiện mai táng người lao động chết. Trong khi đó, di sản thừa kế là tài sản riêng của người chết hoặc là phần tài sản của người chết trong phần tài sản chung với người khác theo quy định tại Điều 612 Bộ luật dân sự 2015. Từ những phân tích trên có thể thấy, di sản thừa kế phải là tài sản do người chết để lại (là toàn bộ tài sản riêng của người chết hoặc là phần tài sản của người đó trong tài sản chung với người khác). Còn tiền tử tuất là khoản tiền do bảo hiểm xã hội chi trả cho người thân của người lao động nên không thể coi đây là tài sản riêng của người lao động đã chết được. Do đó, Chỉ có trường hợp người lao động không còn ai là người thân theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 88 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì tiền tuất một lần mới được xem là di sản và chia theo quy định về thừa kế. Các trường hợp khác thì tiền tuất không phải di sản thừa kế. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật Phương Bình, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
   Trên thực tế, nơi cư trú, nơi thường trú, nơi tạm trú và nơi lưu trú là những thuật ngữ được sử dụng nhiều trong các loại giấy tờ chứng minh nhân thân của công dân cũng như trong nhiều văn bản pháp luật. Các thuật ngữ này dễ bị nhầm lẫn với nhau dẫn đến việc áp dụng sai quy định pháp luật. Vậy cư trú, thường trú, lưu trú, tạm trú được phân biệt như thế nào?  Công ty Luật VietLawyer  xin chia sẻ về vấn đề này qua bài viết dưới đây.   Cư trú Thường trú Tạm trú Lưu trú Khái niệm   Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấp huyện ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã (sau đây gọi chung là đơn vị hành chính cấp xã). - Nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú. (Theo Khoản 2 Điều 2 và Khoản 1 Điều 11 Luật Cư trú 2020)     Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống ổn định, lâu dài và đã được đăng ký thường trú. (Theo Khoản 8 Điều 2 Luật Cư trú 2020)     Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống trong một khoảng thời gian nhất định ngoài nơi thường trú và đã được đăng ký tạm trú. (Theo Khoản 9 Điều 2 Luật Cư trú 2020)     Lưu trú là việc công dân ở lại một địa điểm không phải nơi thường trú hoặc nơi tạm trú trong thời gian ít hơn 30 ngày. (Theo Khoản 6 Điều 2 Luật Cư trú 2020)   Điều kiện đăng ký  Điều kiện đăng ký thường trú:  (1) Công dân có chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của mình thì được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp đó.  (2) Công dân được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó đồng ý trong các trường hợp sau đây:  - Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con;  - Người cao tuổi về ở với anh ruột, chị ruột, em ruột, cháu ruột; người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người không có khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột, người giám hộ;  - Người chưa thành niên được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý hoặc không còn cha, mẹ về ở với cụ nội, cụ ngoại, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; người chưa thành niên về ở với người giám hộ.  (3) Trừ trường hợp quy định tại (2), công dân được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ khi đáp ứng các điều kiện sau đây:  - Được chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đồng ý cho đăng ký thường trú tại địa điểm thuê, mượn, ở nhờ và được chủ hộ đồng ý nếu đăng ký thường trú vào cùng hộ gia đình đó;  - Bảo đảm điều kiện về diện tích nhà ở tối thiểu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không thấp hơn 08 m2 sàn/người.  (4) Công dân được đăng ký thường trú tại cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo có công trình phụ trợ là nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:  - Người hoạt động tôn giáo được phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển đến hoạt động tôn giáo tại cơ sở tôn giáo;  - Người đại diện cơ sở tín ngưỡng;  - Người được người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng đồng ý cho đăng ký thường trú để trực tiếp quản lý, tổ chức hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng;  - Trẻ em, người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người không nơi nương tựa được người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, người đứng đầu hoặc người đại diện cơ sở tôn giáo đồng ý cho đăng ký thường trú.  (5) Người được chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp được đăng ký thường trú tại cơ sở trợ giúp xã hội khi được người đứng đầu cơ sở đó đồng ý hoặc được đăng ký thường trú vào hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng khi được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đồng ý.  (6) Người sinh sống, người làm nghề lưu động trên phương tiện được đăng ký thường trú tại phương tiện đó khi đáp ứng các điều kiện sau đây:  - Là chủ phương tiện hoặc được chủ phương tiện đó đồng ý cho đăng ký thường trú;  - Phương tiện được đăng ký, đăng kiểm theo quy định của pháp luật; trường hợp phương tiện không thuộc đối tượng phải đăng ký, đăng kiểm thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phương tiện thường xuyên đậu, đỗ về việc sử dụng phương tiện đó vào mục đích để ở;  - Có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc phương tiện đã đăng ký đậu, đỗ thường xuyên trên địa bàn trong trường hợp phương tiện không phải đăng ký hoặc nơi đăng ký phương tiện không trùng với nơi thường xuyên đậu, đỗ.  (7) Việc đăng ký thường trú của người chưa thành niên phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, trừ trường hợp nơi cư trú của người chưa thành niên do Tòa án quyết định.  (8) Công dân không được đăng ký thường trú mới tại chỗ ở quy định tại Điều 23 Luật Cư trú 2020, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 20 Luật Cư trú 2020. (Theo Điều 20 Luật Cư trú 2020)   Điều kiện đăng ký tạm trú:  - Công dân đến sinh sống tại chỗ ở hợp pháp ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác từ 30 ngày trở lên thì phải thực hiện đăng ký tạm trú.  - Thời hạn tạm trú tối đa là 02 năm và có thể tiếp tục gia hạn nhiều lần  - Công dân không được đăng ký tạm trú mới tại chỗ ở quy định tại Điều 23 Luật Cư trú 2020. (Theo Điều 27 Luật Cư trú 2020)     Thông báo lưu trú:   Khi có người đến lưu trú, thành viên hộ gia đình, người đại diện cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch và các cơ sở khác có chức năng lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú; trường hợp người đến lưu trú tại chỗ ở của cá nhân, hộ gia đình mà cá nhân, thành viên hộ gia đình không có mặt tại chỗ ở đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc, lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú. (Theo Khoản 1 Điều 30 Luật Cư trú 2020)   Thủ tục đăng ký  Thủ tục đăng ký thường trú:  - Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú đến cơ quan đăng ký cư trú nơi mình cư trú.  - Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú kiểm tra và cấp phiếu tiếp nhận hồ sơ cho người đăng ký; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì hướng dẫn người đăng ký bổ sung hồ sơ.  - Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thẩm định, cập nhật thông tin về nơi thường trú mới của người đăng ký vào Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người đăng ký về việc đã cập nhật thông tin đăng ký thường trú; trường hợp từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.  - Người đã đăng ký thường trú mà chuyển đến chỗ ở hợp pháp khác và đủ điều kiện đăng ký thường trú thì có trách nhiệm đăng ký thường trú tại nơi ở mới theo quy định trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đủ điều kiện đăng ký. (Theo Điều 22 Luật Cư trú 2020)    Thủ tục đăng ký tạm trú:  - Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú đến cơ quan đăng ký cư trú nơi mình cư trú.  - Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú kiểm tra và cấp phiếu tiếp nhận hồ sơ cho người đăng ký; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì hướng dẫn người đăng ký bổ sung hồ sơ.  - Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thẩm định, cập nhật thông tin về nơi thường trú mới của người đăng ký vào Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người đăng ký về việc đã cập nhật thông tin đăng ký thường trú; trường hợp từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.  - Người đã đăng ký thường trú mà chuyển đến chỗ ở hợp pháp khác và đủ điều kiện đăng ký thường trú thì có trách nhiệm đăng ký thường trú tại nơi ở mới theo quy định trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đủ điều kiện đăng ký. (Theo Khoản 2 Điều 28 Luật Cư trú 2020)    Thủ tục thông báo lưu trú:  - Khi có người đến lưu trú, thành viên hộ gia đình, người đại diện cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch và các cơ sở khác có chức năng lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú; trường hợp người đến lưu trú tại chỗ ở của cá nhân, hộ gia đình mà cá nhân, thành viên hộ gia đình không có mặt tại chỗ ở đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc, lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú.  - Việc thông báo lưu trú được thực hiện trực tiếp, bằng điện thoại, phương tiện điện tử hoặc phương tiện khác do Bộ trưởng Bộ Công an quy định.  - Nội dung thông báo về lưu trú bao gồm họ và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân, số hộ chiếu của người lưu trú; lý do lưu trú; thời gian lưu trú; địa chỉ lưu trú.  - Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23 giờ của ngày bắt đầu lưu trú; trường hợp người đến lưu trú sau 23 giờ thì việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 08 giờ ngày hôm sau; trường hợp ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em ruột đến lưu trú nhiều lần thì chỉ cần thông báo lưu trú một lần.  - Việc thông báo lưu trú được ghi vào sổ tiếp nhận lưu trú. (Theo Điều 30 Luật Cư trú 2020) Nơi đăng ký  Nơi đăng ký thường trú gồm:  - Công an xã, phường, thị trấn;  - Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã. (Theo Khoản 1 Điều 22 và Khoản 4 Điều 2 Luật Cư trú 2020)  Nơi đăng ký tạm trú gồm:  - Công an xã, phường, thị trấn; - Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã. (Theo Khoản 2 Điều 28 và Khoản 4 Điều 2 Luật Cư trú 2020)  Nơi thông báo lưu trú:  - Công an xã, phường, thị trấn; - Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã. (Theo Khoản 1 Điều 30 và Khoản 4 Điều 2 Luật Cư trú 2020) Thời hạn đăng ký  Thời hạn đăng ký thường trú:  Người đã đăng ký thường trú mà chuyển đến chỗ ở hợp pháp khác và đủ điều kiện đăng ký thường trú thì có trách nhiệm đăng ký thường trú tại nơi ở mới theo quy định trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đủ điều kiện đăng ký. (Theo Khoản 4 Điều 22 Luật Cư trú 2020)    Thời hạn đăng ký tạm trú:  Công dân đến sinh sống tại chỗ ở hợp pháp ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác từ 30 ngày trở lên thì phải thực hiện đăng ký tạm trú. (Theo Khoản 1 Điều 27 Luật Cư trú 2020)    Thời hạn thông báo lưu trú:  Trước 23 giờ của ngày bắt đầu lưu trú; trường hợp người đến lưu trú sau 23 giờ thì việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 08 giờ ngày hôm sau; trường hợp ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em ruột đến lưu trú nhiều lần thì chỉ cần thông báo lưu trú một lần. (Theo Khoản 4 Điều 30 Luật Cư trú 2020)    Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
   Trong các hoạt động sản xuất kinh doanh như hiện nay, dịch vụ cho thuê, cho thuê khoán tài sản ngày càng trở nên phổ biến và đa dạng. Điều này nhằm đáp ứng nhu cầu của các tổ chức, cá nhân được sử dụng tài sản trong một thời gian nhất định mà không phải bỏ ra chi phí lớn để mua lại tài sản đó. Vậy pháp luật Việt Nam có những quy định như thế nào về hợp đồng thuê khoán tài sản?  Công ty Luật VietLawyer  xin chia sẻ về vấn đề này qua bài viết dưới đây. Hợp đồng thuê khoán tài sản là gì?    Theo quy định tại Điều 483 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hợp đồng thuê khoán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê khoán giao tài sản cho bên thuê khoán để khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản thuê khoán và bên thuê khoán có nghĩa vụ trả tiền thuê.”    Như vậy, hợp đồng thuê khoán tài sản là sự thỏa thuận của bên cho thuê tài sản và bên thuê mà bên thuê khoán có nghĩa vụ trả tiền thuê cho bên cho thuê. Ví dụ như: Cá nhân thuê xe đi du lịch; Công ty thuê nhà/ đất làm văn phòng, cửa hàng; Doanh nghiệp thuê cây cảnh trang trí sự kiện;.... Đặc điểm của hợp đồng thuê khoán    * Đối tượng:    Điều 484 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Đối tượng của hợp đồng thuê khoán có thể là đất đai, rừng, mặt nước chưa khai thác, gia súc, cơ sở sản xuất, kinh doanh, tư liệu sản xuất khác cùng trang thiết bị cần thiết để khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”    Đối tượng của hợp đồng thuê khoán rất đa dạng nhưng đảm bảo không bị pháp luật cấm. Việc khai thác công dụng của vật cho thuê không gây ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội và không bị pháp luật cấm.    * Giá cả và thời hạn trong hợp đồng thuê khoán:    Theo Điều 486 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về giá thuê khoán:  “Giá thuê khoán do các bên thỏa thuận; nếu thuê khoán thông qua đấu thầu thì giá thuê khoán là giá được xác định theo kết quả đấu thầu.”    Giá thuê khoán là khoản tiền mà bên thuê khoán phải ttả cho bên cho thuê khoán. Giá thuê khoán do các bên thoả thuận. Nếu thuê khoán thông qua đấu thầu thì giá thuê khoán là giá xác định khi đấu thầu. Phương thức trả tiền thuê do các bên thoả thuận.    Theo Điều 485 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:  “Thời hạn thuê khoán do các bên thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc có thỏa thuận nhưng không rõ ràng thì thời hạn thuê khoán được xác định theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh phù hợp với tính chất của đối tượng thuê khoán.”    Tuỳ thuộc vào giá trị sử dụng của vật thuê khoán mà các bên thỏa thuận về thời hạn thuê, nhưng thời hạn thuê khoán không thể thấp hơn một chu kỳ khai thác thông thường vật thuê khoán và còn phụ thuộc vào những vật chất khác mà người thuê khoán dùng để khai thác công dụng của vật thuê.    * Hình thức:    Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định cụ thể hình thức của Hợp đồng thuê khoán. Theo tinh thần của luật các bên có thể tự lựa chọn hình thức giao kết. Tùy từng đối tượng cụ thể và trong những trường hợp nhất định mà pháp luật sẽ quy định hình thức của hợp đồng.    Hợp đồng thuê khoán phải có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nếu pháp luật có quy định. Với đối tượng thuê khoán là bất động sản, là loại tài sản chịu sự giám sát, kiểm tra của Nhà nước, pháp luật có quy định phải công chứng, chứng thực nhằm ngăn chặn các hành vi khai thác tài sản thuê khoán sai mục đích sử dụng mà pháp luật đã quy định. Quyền và nghĩa vụ của các bên    * Đối với bên cho thuê khoán:    - Quyền bên cho thuê khoán    + Yêu cầu bên thuê phải trả tiền thuê như thỏa thuận và đúng phương thức. Tiền thuê có thể bằng hiện vật, bằng tiền hoặc bằng việc thực hiện một công việc.    + Yêu cầu bên thuê khai thác tài sản thuê khoán theo đúng công dụng, mục đích như đã thỏa thuận.    + Yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên thuê làm mất tài sản hoặc làm giảm sút giá trị quá mức khấu hao tài sản.    + Bên cho thuê khoán có quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng trong những trường hợp sau:    (1) Nếu bên thuê khoán vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình, dựa trên căn cứ đã thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Bên cho thuê đình chỉ thực hiện hợp đồng nhưng phải báo trước cho bên thuê với một khoảng thời gian hợp lý phù hợp với thời vụ hoặc chu kỳ khai thác.    (2) Nếu bên thuê khoán vi phạm nghĩa vụ mà việc khai thác đối tượng thuê khoán không phải là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán.    - Nghĩa vụ bên cho thuê khoán    + Giao tài sản cho thuê đúng thời hạn, đúng tình trạng đã thoả thuận.    + Nếu cho thuê gia súc, trường hợp gia súc bị chết do trở ngại khách quan thì bên cho thuê khoán phải chịu một nửa số thiệt hại đó.    + Đảm bảo quyền sử dụng cho bên thuê khoán    + Nhận tài sản khi hết hạn hợp đồng.    * Đối với bên thuê khoán:    - Quyền của bên thuê khoán    + Yêu cầu bên cho thuê giao đúng tài sản thuê khoán đã thỏa thuận    + Được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thuê khoán trong thời hạn thuê.    + Yêu cầu giảm, hoặc miễn tiền thuê khoán nếu hơi lợi, lợi tức bị mất ít nhất là một phần ba do sự kiện bất khả kháng.    + Trong thời hạn thuê khoán gia súc, bên thuê khoán được hưởng một nửa số gia súc sinh ra và phải chịu một nửa thiệt hại về gia súc thuê khoán do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.    + Yêu cầu bên cho thanh toán cho mình những chi phí hợp lý để thay thế, cải tạo tài sản theo thỏa thuận.    - Nghĩa vụ của bên thuê khoán    + Phải khai thác tài sản thuê khoán đúng mục đích ban đầu mà các bên thỏa thuận và phải báo cáo với bên cho thuê khoán biết về tình trạng tài sản và tình trạng khai thác tài sản định kỳ.    + Bên thuê khoán có nghĩa vụ bảo quản tài sản thuê, bảo dưỡng tài sản thuê bằng chi phí của mình.    + Người thuê khoán không được cho thuê khoán lại nếu không được sự đồng ý của bên cho thuê.    + Trả tiền thuê khoán đầy đủ và đúng phương thức, kể cả trong những trường hợp không khai thác được công dụng của tài sản thuê khoán.    + Khi chấm dứt hợp đồng, bên thuê khoán phải trả tài sản thuê khoán đúng thời gian, địa điểm như đã thỏa thuận. Nếu bên thuê khoán làm hư hỏng, hao mòn quá mức tài sản thuê theo thoả thuận thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cho thuê.    + Khi hợp đồng bị đơn phương đình chỉ, bên thuê khoán phải trả lại tài sản. Nếu bên thuê đã đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật vào tài sản thuê khoán thì có quyền yêu cầu bên cho thuê thanh toán những khoản chi phí đó. Ngược lại, bên thuê khoán vi phạm hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên cho thuê thì phải bồi thường thiệt hại đó. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê khoán    Trường hợp một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý; nếu thuê khoán theo thời vụ hoặc theo chu kỳ khai thác thì thời hạn báo trước phải phù hợp với thời vụ hoặc chu kỳ khai thác.    Trường hợp bên thuê khoán vi phạm nghĩa vụ mà việc khai thác đối tượng thuê khoán là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán và việc tiếp tục thuê khoán không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê khoán thì bên cho thuê khoán không được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng; bên thuê khoán phải cam kết với bên cho thuê khoán không được tiếp tục vi phạm hợp đồng.    Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.        
   Trong môi trường kinh doanh đa ngành, đa nghề tại Việt Nam, để hạn chế rủi ro và bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được ra đời. Trong đó, biện pháp cầm giữ tài sản là một biện pháp góp phần tích cực trong việc đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ. Vậy những quy định của pháp luật về cầm giữ tài sản được hiểu như thế nào?  Công ty Luật VietLawyer  xin chia sẻ về vấn đề này qua bài viết dưới đây. Cầm giữ tài sản là gì?    Theo quy định tại Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”    Để xác định là biện pháp bảo đảm cầm giữ tài sản, cần phải có các yếu tố:    Thứ nhất, việc cầm giữ tài sản phải xuất phát từ một hợp đồng song vụ. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Trong hợp đồng song vụ, bên cầm giữ đã thực hiện nghĩa vụ nhưng bên kia lại không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên có quyền.    Thứ hai, đối tượng của hợp đồng song vụ phải là tài sản. Với cách phân loại dựa theo đối tượng của hợp đồng, hợp đồng có hai loại, một loại có đối tượng là tài sản như hợp đồng mua bán, tặng cho tài sản, hợp đồng gia công… một loại có đối tượng là công việc như hợp đồng gửi giữ, hợp đồng vận chuyển… Chỉ các hợp đồng có đối tượng là tài sản thì bên có quyền mới có quyền nắm giữ tài sản.    Thứ ba, bên có quyền chiếm giữ tài sản một cách hợp pháp. Thông thường, việc chiếm giữ tài sản là do được bên có nghĩa vụ chuyển giao hoặc là kết quả của việc thực hiện nghĩa vụ của bên cầm giữ.    Thứ tư, bên có nghĩa vụ có sự vi phạm hợp đồng. Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền hay bên cầm giữ có quyền cầm giữ tài sản. Cầm giữ tài sản phát sinh ngay khi có sự vi phạm nghĩa vụ mà không cần có sự thỏa thuận của các bên. Đặc điểm của cầm giữ tài sản    - Đây là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được áp dụng mà không dựa sự thỏa thuận của các chủ thể trong giao dịch. Pháp luật cho phép bên có quyền được cầm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ mà không cần xem xét nguyên nhân khiến cho bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận.    - Nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ được phát sinh trực tiếp từ tài sản cầm giữ, những nghĩa vụ không phát sinh một cách trưc tiếp từ tài sản này thì bên có quyền không được cầm giữ nó.    - Bên cầm giữ tài sản có quyền từ chối hoàn trả tài sản đang chiếm giữ khi bên có nghĩa vụ chưa thực hiện xong nghĩa vụ của mình. Luật không giới hạn khoảng thời gian mà bên có quyền được quyền cầm giữ tài sản. Xác lập cầm giữ tài sản    - Thời điểm phát sinh cầm giữ tài sản: Cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Theo đó, quyền cầm giữ tài sản chỉ được thực hiện khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:    + Tồn tại một nghĩa vụ không thực hiện hoặc không được thực hiện đúng thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thời điểm thực hiện quyền và nghĩa vụ chính là thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực.    + Bên có quyền (bên cầm giữ tài sản) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ. Tài sản sẽ được chuyển giao cho bên có quyền nắm giữ nhưng bên có quyền không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ.    + Mối liên hệ pháp lý giữa nghĩa vụ không thực hiện hoặc không được thực hiện đúng và khả năng chiếm giữ tài sản. Mối liên hệ này phản ánh sự phụ thuộc giữa các nghĩa vụ: Một nghĩa vụ thanh toán của người có nghĩa vụ và một nghĩa vụ giao tài sản, cả hai nghĩa vụ này đều phát sinh từ một hợp đồng. Tuy vậy, bằng việc cầm giữ tài sản mà đáng lẽ phải trao lại cho người có nghĩa vụ, bên có quyền chỉ làm tạm hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình và đây chính là việc thực hiện quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng song vụ của người có quyền.    - Thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng đối với người thứ ba: Hiệu lực đối kháng với người thứ ba trong giao dịch bảo đảm là khi xác lập giao dịch bảo đảm hợp pháp thì quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong giao dịch bảo đảm không chỉ phát sinh đối với các chủ thể trực tiếp tham gia giao dịch mà trong một số trường hợp còn có giá trị pháp lý đối với người thứ ba không phải là chủ thể trong giao dịch bảo đảm. Cầm giữ tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015. Quyền và nghĩa vụ của các bên    * Quyền và nghĩa vụ của bên cầm giữ tài sản:    - Quyền của bên cầm giữ tài sản:    + Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ.    + Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ.    + Được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý.    - Nghĩa vụ của bên cầm giữ tài sản:    + Không được thay đổi tình trạng của tài sản cầm giữ.    + Không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ.    + Giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện.    + Giữ gìn, bảo quản tài sản cầm giữ và bồi thường thiệt hại nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm giữ.    Lưu ý: Mặc dù cầm giữ tài sản là biện pháp phát sinh theo quy định của pháp luật và các bên không cần có thỏa thuận với nhau, tuy nhiên, các bên cần có những thông báo cụ thể để tránh những trường hợp tranh chấp phát sinh trong quá trình cầm giữ.    * Quyền và nghĩa vụ của bên có tài sản bị cầm giữ:    - Quyền của bên có tài sản bị cầm giữ:    + Được yêu cầu bên cầm giữ tài sản giữ nguyên tình trạng tài sản cầm giữ.    + Được yêu cầu bên cầm giữ tài sản không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ khi chưa có sự đồng ý.    + Được bồi thường thiệt hại nếu bên cầm giữ tài sản làm mất, hư hỏng tài sản của mình.    + Được yêu cầu bên cầm giữ tài sản trả lại tài sản sau khi đã hoàn thành xong nghĩa vụ.    - Nghĩa vụ của bên có tài sản bị cầm giữ:    + Phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ.    + Phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản trong quá trình cầm giữ. Chấm dứt cầm giữ tài sản    Theo quy định tại Điều 350 Bộ luật Dân sự năm 2015, cầm giữ tài sản chấm dứt trong các trường hợp sau: “1, Bên cầm giữ không còn chiếm giữ tài sản trên thực tế. 2,Các bên thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm khác để thay thế cho cầm giữ. 3, Nghĩa vụ đã được thực hiện xong. 4, Tài sản cầm giữ không còn. 5, Theo thỏa thuận của các bên.”    Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.  
      Ngày nay, khi phương tiện điện tử ngày càng phát triển việc mọi người dần chuyển qua việc trao đổi công việc và thông tin hàng ngày trên các ứng dụng tin nhắn càng trở nên phổ biến bởi tính tiện dụng. Từ đó, kèm theo những tranh chấp có thể xảy ra trong những quá trình này. Vậy câu hỏi đặt ra là ảnh chụp màn hình tin nhắn có được coi là chứng cứ sử dụng trong giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án không? Trong bài viết này, Công ty Luật VietLawyer xin chia sẻ về nội dung này như sau:          Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Vậy để được coi là chứng cứ hợp pháp thì cần đáp ứng 3 điều kiện sau: (1) có thật; (2) khách quan; (3) được thu thập theo trình tự pháp luật quy định.          Căn cứ Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nguồn chứng cứ như sau:  Điều 94. Nguồn chứng cứ Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây: 1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử. …. Như vậy, các chứng cứ có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập trong quá trình tố tụng thuộc các nguồn trên thì được xem là chứng cứ trong vụ án dân sự. Bên cạnh đó, theo Điều 10 Luật Giao dịch điện tử 2005, ảnh chụp màn hình được xem là một dạng dữ liệu điện tử. Tuy nhiên, để được xem là chứng cứ hợp pháp thì tài liệu này phải được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm. Do đó, ảnh chụp màn hình tin nhắn sẽ được coi là chứng cứ hợp pháp trong vụ việc dân sự nếu đáp ứng được 3 điều kiện: (1) tin nhắn trong ảnh chụp màn hình là đúng sự thật; (2) khách quan; (3) người giao nộp xuất trình được văn bản trình bày về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan đến những tin nhắn trong hình chụp.  Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc. 
   Xuất phát từ nguyên tắc chung của pháp luật dân sự là tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức; khi các quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm, gây thiệt hại thì người vi phạm, gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự, cụ thể đó là việc bồi thường thiệt hại. Ngoài việc quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra?  Công ty Luật VietLawyer xin chia sẻ về vấn đề này qua bài viết dưới đây. 1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra là gì?      Điều 587 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.”    Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nhiều người cùng gây thiệt hại là trách nhiệm liên đới bồi thường của những người cùng gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại. Cơ sở để xác định trách nhiệm liên đới bồi thường khi nhiều người gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại là có hành vi cùng gây thiệt hại của những người gây thiệt hại.    Nhiều người cùng gây thiệt hại để phát sinh trách nhiệm bồi thường theo quy định trên có thể xảy ra một trong hai trường hợp:    - Nhiều người gây thiệt hại cho một người    - Nhiều người gây thiệt hại cho nhiều  2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra    Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015: “1, Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. 2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. 3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”    Khi xem xét về trách nhiệm bồi thường của nhiều người cùng gây thiệt hại thì cần phải căn cứ vào những điều kiện sau:    - Có việc gây thiệt hại của nhiều người    - Hành vi trái pháp luật trong việc gây thiệt hại của nhiều người có sự thống nhất với nhau    - Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của những người cùng gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra    Ngoài ra, khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần quan tâm đến yếu tố lỗi các bên. Lỗi của người vi phạm là một trong những điều kiện có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt thiệt hại chứ không phải là yếu tố bắt buộc.    Trong một số trường hợp người chịu trách nhiệm bồi thường phải bồi thường thiệt hại xảy ra không phải do lỗi của mình, ví dụ trong một số trường hợp phải bồi thường thiệt hại do súc vật hoặc cây cối gây ra. 3. Mức bồi thường thiệt hại đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra    Tại Điều 587 Bộ luật dân sự năm 2015, khi có nhiều người cùng gây ra thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định như sau:    - Theo nguyên tắc một người phải chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra cũng như hậu quả của hành vi đó. Do đó, nếu xác định được mức độ lỗi của mỗi người khi họ gây ra thiệt hại thì họ phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi đó;    - Nếu không xác định được mức độ lỗi của những người gây ra thiệt hại thì họ phải bồi thường bằng nhau.    - Trách nhiệm của người không trực tiếp gây thiệt hại. 4. Xác định mức thiệt hại phải bồi thường 4.1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm    Người chịu trách nhiệm bồi thường phải đền bù những khoản sau đây:    - Giá trị tài sản bị mất, bị hủy hoặc bị hư hỏng    - Giá trị phần lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút do hành vi gây thiệt hại    - Chị phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại    - Một số thiệt hại khác được pháp luât quy định riêng (nếu có) 4.2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm    Người có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác phải bồi thường những khoản sau đây:    - Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ    - Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại hoặc mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được    - Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị    - Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và phải có người thường xuyên chăm sóc    - Khoản bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại gánh chịu theo thỏa thuận hoặc không quá năm mươi lần mức lương cơ sở    - Một số thiệt hại khác được pháp luât quy định riêng (nếu có). 4.3. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm    Người xâm phạm đến tính mạng người khác phải có trách nhiệm bồi thường các chi phí sau đây:    - Tất cả chi phí bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm     - Chi phí hợp lý do việc mai táng    - Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng (Ví dụ: con chưa thành niên của người bị chết)    - Mức bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại theo thỏa thuận hoặc không quá 100 lần mức lương cơ sở. Nếu không có người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất (bao gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết) thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này    - Một số thiệt hại khác được pháp luât quy định riêng (nếu có). 4.4. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm    Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm các khoản chi phí sau:    - Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại    - Thu nhập thực tế bị gảm sút của người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín    - Mức bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị xâm phạm phải gánh chịu theo thỏa thuận hoặc không quá 10 lần mức lương cơ sở    - Một số thiệt hại khác được pháp luât quy định riêng (nếu có). 4.5. Thiệt hại do thi thể bị xâm phạm    Người có hành vi xâm phạm đến thi thể thì phải chịu bồi thường các chi phí sau đây:    - Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại    - Mức bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết theo thỏa thuận hoặc không quá 30 lần mức lương cơ sở với mỗi thi thể bị xâm phạm. Nếu không có người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. 4.6. Thiệt hại do mồ mả bị xâm phạm Người có hành vi xâm phạm đến mồ mả thì phải chịu bồi thường các chi phí sau đây:    - Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại    - Mức bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết theo thỏa thuận hoặc không quá 10 lần mức lương cơ sở. Nếu không có người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này.    Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Bộ luật dân sự hiện có quy định về việc áp dụng thừa kế thế vị trong trường hợp người thừa kế mất trước hoặc mất đồng thời với người để lại di sản. Thừa kế thế vị có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi thừa kế cho các thế hệ sau, đảm bảo sự công bằng trong việc phân chia tài sản thừa kế. Vậy quy định pháp luật về thừa kế thế vị như thế nào? Công ty VietLawyer xin chia sẻ về vấn đề này qua bài viết dưới đây 1. Thừa kế thế vị là gì? Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau: Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Như vậy, có thể hiểu thừa kế thế vị là việc các cháu (chắt) được hưởng di sản của ông, bà (cụ) để lại cho cha, mẹ của cháu (chắt) trong trường hợp cha hoặc mẹ mất trước hoặc mất cùng thời điểm với ông, bà (cụ). 2. Điều kiện để được thừa kế thế vị là gì? Từ nội dung quy định của Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 vừa nêu trên, có thể hiểu rằng, điều kiện hưởng thừa kế thế vị xác định như sau: - Thừa kế thế vị được đặt ra khi con hoặc cháu chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu/chắt được hưởng phần di sản mà cha/mẹ được hưởng nếu còn sống. - Thừa kế thế vị chỉ phát sinh trên cơ sở thừa kế theo pháp luật, không phát sinh từ căn cứ di chúc. Trường hợp người thừa kế theo di chúc đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì phần di chúc đó vô hiệu và phải thực hiện chia di sản theo pháp luật. – Thừa kế thế vị chỉ phát sinh ở hàng thừa kế thứ nhất. Người được “thế vị” có quan hệ thuộc hàng thừa kế thứ nhất và người “thế vị” ở vị trí đời sau (cháu/chắt). - Người thừa kế thế vị phải bảo đảm nguyên tắc chung về thừa kế được quy định tại Bộ luật Dân sự là còn sống vào thời điểm người để lại di sản chết hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Bản thân người thế vị không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản. - Khi còn sống, người cha/mẹ của người được thừa kế thế vị phải có quyền được hưởng di sản của người chết (nghĩa là không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản thì con hoặc cháu của những người này mới được thế vị). - Phần di sản mà người thừa kế thế vị được hưởng: Thừa kế thế vị không như thừa kế theo hàng thừa kế. Theo tinh thần quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tất cả những người thừa kế thế vị cùng được hưởng chung phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) là một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD trong các hoạt động mua sắm, tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử (TMĐT), nhiều quy định của Luật đã bộc lộ các hạn chế và bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay. Việc thiếu cơ chế thực thi hiệu quả dẫn đến những thiệt hại không nhỏ cho NTD, đồng thời gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ pháp luật. Hãy cùng Vietlawyer phân tích vấn đề này qua bài viết dưới đây: 1. Các nội dung cơ bản về bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Cơ chế bảo vệ minh bạch và hiệu quả: Trong thương mại điện tử, các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng cần đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả tương tự như các giao dịch truyền thống. Điều này đòi hỏi sự hợp tác giữa chính phủ, doanh nghiệp, và người tiêu dùng nhằm xác định các đặc điểm riêng biệt của môi trường thương mại điện tử, từ đó xây dựng các cơ chế rõ ràng và hiệu quả để bảo vệ người tiêu dùng.  - Thực hiện các hành vi quảng cáo và kinh doanh lành mạnh: Các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại điện tử cần chú trọng đến lợi ích của người tiêu dùng và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật liên quan đến kinh doanh, quảng cáo và marketing. Điều này bao gồm:  • Tránh các hành vi lừa dối, lừa đảo hoặc cung cấp thông tin gây nhầm lẫn, đánh lừa người tiêu dùng.  • Đảm bảo thông tin được cung cấp cho người tiêu dùng là rõ ràng, chính xác và dễ tiếp cận.  • Đặc biệt lưu ý đến các đặc điểm riêng của từng vùng miền kinh doanh khác nhau trong môi trường thương mại điện tử, để đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng được bảo vệ tốt hơn.  - Các thông tin cần tìm hiểu và cung cấp trong giao dịch thương mại điện tử: Để giao dịch thương mại điện tử diễn ra minh bạch và an toàn, các doanh nghiệp cần cung cấp các thông tin sau:  • Thông tin về doanh nghiệp: Bao gồm hồ sơ đăng ký kinh doanh, thông tin liên lạc, địa chỉ hoạt động thực tế, số điện thoại, email, và các cơ chế giải quyết khiếu nại.  • Thông tin về hàng hóa, dịch vụ: Phải được trình bày đầy đủ, rõ ràng và chính xác để người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận.  • Thông tin về giao dịch: Doanh nghiệp nên cung cấp hướng dẫn chi tiết để người tiêu dùng có thể thực hiện giao dịch một cách suôn sẻ.  • Xác nhận giao dịch: Doanh nghiệp cần thiết lập quy trình mua hàng, kiểm tra, và xác nhận giao dịch từ phía người tiêu dùng để đảm bảo họ có thời gian cân nhắc trước khi quyết định mua.  • Thanh toán: Phải đảm bảo quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, chính xác và dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch thành công.  - Giải quyết tranh chấp và luật áp dụng: Tính chất không biên giới của giao dịch thương mại điện tử đòi hỏi sự điều chỉnh và sửa đổi các văn bản luật hiện hành. Khi rà soát và bổ sung các văn bản này, các chính phủ cần đảm bảo rằng các quy định mới không cản trở sự phát triển của thương mại điện tử, đồng thời bảo vệ người tiêu dùng một cách hiệu quả như trong các giao dịch truyền thống. Cần tạo ra các phương thức giải quyết tranh chấp đơn giản, tiết kiệm chi phí và dễ tiếp cận cho người tiêu dùng.  - Chính sách thông tin: Doanh nghiệp phải xây dựng và tuân thủ các quy định về bảo vệ, sử dụng và lưu chuyển thông tin cá nhân của người tiêu dùng tại từng thị trường đăng ký kinh doanh. Chính sách thông tin cần sự phối hợp giữa chính phủ, doanh nghiệp, và các phương tiện thông tin đại chúng để định hướng người tiêu dùng trong việc thực hiện các giao dịch thương mại điện tử an toàn và hiệu quả. Sự tham gia của các phương tiện thông tin đại chúng cũng giúp đưa thông tin đến người tiêu dùng nhanh chóng và rộng rãi. 2. Thực trạng về pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử Hiện nay, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, thói quen mua sắm của người tiêu dùng đã dần chuyển đổi từ phương thức mua hàng truyền thống sang mua sắm trực tuyến qua các nền tảng thương mại điện tử (TMĐT). Các trang web như Lazada.vn, Sendo.vn, Tiki.vn, Shopee.vn, và các mạng xã hội như Facebook, Instagram, Zalo, đã trở thành những nơi phổ biến để người tiêu dùng thực hiện giao dịch mua sắm. Điều này mang lại sự tiện lợi, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong TMĐT đã được chú trọng và điều chỉnh để đáp ứng những thay đổi nhanh chóng của thị trường. Một số văn bản pháp luật quan trọng bao gồm:  • Nghị định số 98/2020/NĐ-CP: Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nghị định này đã tạo ra một cơ sở pháp lý mạnh mẽ nhằm cải thiện tình hình tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến.  • Kế hoạch hành động số 1907/QĐ-BCT: Được Bộ Công Thương ban hành nhằm triển khai Nghị quyết số 82/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này tập trung vào việc tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước trong công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.  • Quyết định số 82/QĐ-CT: Được Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng ban hành, thành lập Tổ Tư vấn, giải quyết yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của người tiêu dùng. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc hỗ trợ người tiêu dùng khi gặp phải các vấn đề trong giao dịch TMĐT. 3. Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử 3.1. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng liên quan đến đảm bảo chất lượng hàng hóa: Theo Điều 12 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 (Luật số 59/2010/QH12), tổ chức, cá nhân kinh doanh có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, chính xác và trung thực các thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ, bao gồm nguồn gốc xuất xứ, giá cả, chất lượng, và các thông tin liên quan khác. Quy định này nhằm đảm bảo rằng người tiêu dùng có đầy đủ thông tin để đưa ra quyết định mua sắm đúng đắn. Tuy nhiên, trên thực tế, khi tham gia thương mại điện tử, người tiêu dùng thường gặp khó khăn trong việc xác minh tính chính xác của thông tin do các tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp. Việc không cung cấp hóa đơn, chứng từ cho người tiêu dùng không chỉ vi phạm Điều 12 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn cản trở việc truy cứu trách nhiệm khi hàng hóa có vấn đề. Hơn nữa, việc thiếu hóa đơn cũng tạo điều kiện cho doanh nghiệp trốn tránh nghĩa vụ thuế, vi phạm các quy định pháp luật về thuế.  3.2. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thanh toán điện tử: Theo Điều 34 Nghị định 52/2013/NĐ-CP, thương nhân phải công bố rõ ràng các phương thức thanh toán áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ trên trang web của mình. Điều này bao gồm việc bảo đảm rằng người tiêu dùng có thể xem lại và xác nhận các thông tin giao dịch trước khi thực hiện thanh toán. Đồng thời, Luật Giao dịch điện tử 2005 (Luật số 51/2005/QH11) quy định rõ rằng các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải bảo vệ thông tin cá nhân trong quá trình giao dịch điện tử. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều website thương mại điện tử không tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo mật thông tin, dẫn đến nguy cơ lộ lọt dữ liệu cá nhân. Việc này không chỉ vi phạm Luật Giao dịch điện tử mà còn tạo ra rủi ro lớn cho người tiêu dùng, khiến họ dễ trở thành nạn nhân của các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.  3.3. Bảo vệ người tiêu dùng liên quan đến bí mật thông tin cá nhân: Khoản 2 Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh phải bảo đảm an toàn và bí mật thông tin của người tiêu dùng. Luật Giao dịch điện tử 2005 và Luật An ninh mạng 2018 (Luật số 24/2018/QH14) cũng quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo mật thông tin cá nhân và ngăn chặn việc chia sẻ, sử dụng thông tin trái phép.Mặc dù có các quy định pháp lý rõ ràng, nhưng việc thực thi trên thực tế lại gặp nhiều hạn chế. Các vụ lộ lọt thông tin cá nhân, tin nhắn rác, cuộc gọi quảng cáo phiền nhiễu vẫn xảy ra thường xuyên, vi phạm quyền riêng tư của người tiêu dùng. Điều này cho thấy sự thiếu nghiêm túc trong việc tuân thủ và thực thi các quy định bảo mật thông tin cá nhân.  3.4. Bảo vệ người tiêu dùng liên quan đến giải quyết các tranh chấp: Theo Điều 23 và 24 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, và các quy định từ Điều 447 đến Điều 449 Bộ luật Dân sự 2015 (Luật số 91/2015/QH13), người tiêu dùng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn chất lượng, số lượng, giá cả như đã cam kết. Tuy nhiên, quy định về bảo hành, xử lý khuyết tật hàng hóa trong thương mại điện tử còn phân tán trong nhiều văn bản pháp luật, thiếu sự đồng nhất, gây khó khăn cho người tiêu dùng trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình. Cơ chế giải quyết tranh chấp qua các hình thức như thương lượng, hòa giải, trọng tài, hay tố tụng tại Tòa án tuy đã được quy định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về thẩm quyền thụ lý, thu thập và đánh giá chứng cứ. Điều này làm giảm hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các tranh chấp liên quan đến thương mại điện tử. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế:  1. Thiếu minh bạch và trách nhiệm từ phía doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về cung cấp thông tin sản phẩm, dịch vụ, dẫn đến việc người tiêu dùng không được bảo vệ đúng mức. Điều này không chỉ vi phạm Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn gây mất niềm tin vào thương mại điện tử.  2. Hạn chế trong cơ chế bảo mật thông tin: Các biện pháp bảo mật thông tin chưa được thực thi một cách nghiêm túc, dẫn đến nguy cơ lộ lọt dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng, vi phạm các quy định của Luật Giao dịch điện tử và Luật An ninh mạng.  3. Pháp luật chưa hoàn thiện: Hệ thống pháp luật về thương mại điện tử còn phân tán, thiếu sự thống nhất và chưa đáp ứng được nhu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ. 4. Thiếu nhận thức và năng lực tự bảo vệ của người tiêu dùng: Người tiêu dùng chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình và không biết cách tự bảo vệ, dẫn đến việc chấp nhận bị thiệt hại mà không có động thái đòi hỏi bồi thường, vi phạm các quyền lợi hợp pháp mà pháp luật quy định. 4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử Thứ nhất, tăng cường hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đảm bảo chất lượng về hàng hóa Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, việc đảm bảo chất lượng hàng hóa là yếu tố then chốt để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nhà nước đã có những biện pháp nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát và hạn chế hàng giả, hàng nhái trong các giao dịch thương mại điện tử. Tiêu biểu là Quyết định số 368/QĐ-TCQLTT của Tổng cục Quản lý thị trường ban hành ngày 28/02/2020 về việc thành lập Tổ công tác về thương mại điện tử. Quyết định này nhằm mục đích tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh trên các nền tảng thương mại điện tử, từ đó hạn chế tình trạng bán hàng giả, hàng kém chất lượng. Ngoài ra, cần nâng cao nhận thức của người tiêu dùng trong việc tìm hiểu thông tin và mức độ uy tín của người bán để tránh tình trạng bị lừa đảo. Người tiêu dùng cần kiểm tra kỹ lưỡng hàng hóa khi nhận hàng và yêu cầu người bán cung cấp đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp để đảm bảo quyền lợi theo quy định pháp luật. Việc này không chỉ giúp người tiêu dùng có cơ sở yêu cầu bồi thường khi phát sinh tranh chấp mà còn thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động kinh doanh trên môi trường mạng. Thứ hai, tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử Nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch thương mại điện tử, cơ quan quản lý nhà nước cần triển khai các hoạt động giám sát chặt chẽ và thường xuyên hơn. Hoạt động này không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm sau khi giao dịch đã diễn ra, mà cần được thực hiện từ khi hàng hóa, dịch vụ được đăng thông tin trên nền tảng thương mại điện tử cho đến khi hợp đồng mua bán được xác lập và các dịch vụ hậu mãi được thực hiện. Đặc biệt, các quy định pháp luật cần được củng cố để kiểm soát tốt hơn các hoạt động của tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, nhằm bảo đảm rằng quyền lợi của người tiêu dùng được bảo vệ một cách toàn diện. Song song với việc tăng cường giám sát và quản lý, cần kết hợp với biện pháp xử lý nghiêm khắc, triệt để những hành vi vi phạm. Các hình thức xử lý cần mang tính răn đe, giáo dục để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử. Đồng thời, cơ quan chức năng cần chủ động phối hợp với các đơn vị truyền thông để cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi của người tiêu dùng trong môi trường thương mại điện tử. Thứ ba, tăng cường đảm bảo bí mật và bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng Việc bảo mật thông tin cá nhân của người tiêu dùng là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng lòng tin vào thương mại điện tử. Để đạt được điều này, cần có sự thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân. Hiện nay, chế tài xử phạt đối với những hành vi xâm hại thông tin cá nhân còn chưa đủ mạnh để răn đe. Điều 288 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, viễn thông” có thể chịu hình phạt tù lên đến 7 năm, tuy nhiên, vẫn chưa có quy định cụ thể về các hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến thông tin của người tiêu dùng trong thương mại điện tử. Vì vậy, để bảo vệ hữu hiệu quyền lợi của người tiêu dùng và đảm bảo an toàn thông tin cá nhân, cần tăng cường chế tài đối với các hành vi làm lộ, mua bán hoặc trao đổi thông tin cá nhân trái phép. Điều này không chỉ giúp lành mạnh hóa môi trường kinh doanh thương mại điện tử mà còn góp phần tạo ra một môi trường giao dịch an toàn hơn cho người tiêu dùng. Thứ tư, giải pháp đối với người tiêu dùng để bảo vệ chính mình Người tiêu dùng cũng cần có những biện pháp tự bảo vệ quyền lợi của mình khi tham gia vào các giao dịch thương mại điện tử. Một số lưu ý quan trọng bao gồm:  • Xác minh người bán: Trước khi thực hiện giao dịch, người tiêu dùng cần xác minh rõ ràng thông tin về người bán như địa chỉ, số điện thoại để có thể liên hệ khi cần thiết.  • Kiểm tra sản phẩm: Đọc kỹ các hướng dẫn sử dụng, thông tin về sản phẩm và xác định rõ giá cả, bao gồm cả các chi phí phát sinh như vận chuyển, đóng gói. Người tiêu dùng nên so sánh giá cả trên các trang web khác nhau trước khi quyết định mua hàng. • Phương thức thanh toán: Để đảm bảo an toàn, nên sử dụng các phương thức thanh toán qua thẻ tín dụng hoặc các hệ thống thanh toán trực tuyến uy tín thay vì gửi tiền mặt.  • Kiểm tra điều khoản hợp đồng: Người tiêu dùng cần kiểm tra kỹ các điều khoản về chính sách hoàn trả, bảo hành, thời gian giao hàng, và các chi phí liên quan. Đồng thời, lưu giữ các hồ sơ giao dịch, bao gồm mô tả sản phẩm, giá cả, email trao đổi và sao kê thẻ tín dụng để có thể sử dụng khi cần thiết. Việc thực hiện các biện pháp này sẽ giúp người tiêu dùng tự bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả hơn trong môi trường thương mại điện tử đang phát triển nhanh chóng. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Khi vay tiền, người vay thường phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu hay còn được gọi là lãi suất. Trên thực tế, Không ít các trường hợp  người vay  không xác định được mức lãi suất mà mình phải trả có vi phạm pháp luật hay không hoặc không biết cách xác định trước khi vay.Vậy lãi suất trong hợp đồng cho vay tài sản theo quy định pháp luật như thế nào? - Vietlawyer sẽ giải đáp thắc mắc của các bạn qua bài viết dưới đây: 1. Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản là gì? Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc sử dụng tiền mà họ vay từ một người cho vay. Cụ thể, lãi suất là phần trăm tiền gốc phải trả cho một số lượng nhất định của thời gian mỗi thời kỳ (thường được tính theo năm). Lãi suất cũng là một điều khoản quan trọng được các bên thỏa thuận với nhau khi giao kết bởi vì bản chất hợp đồng vay tài sản mang tính chất song vụ, ngoài phần nghĩa vụ trả nợ theo như thỏa thuận hoặc quy định có thêm lãi suất. Nếu như hợp đồng vay tài sản không có lãi suất thì nó sẽ mang bản chất của hợp đồng cho mượn tài sản.  2. Quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản Căn cứ theo Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 về lãi suất:   "1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. 2.Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.” Theo đó lãi suất vay được quy định như sau: Mức tối đa của lãi suất 20% mỗi năm: Bộ luật Dân sự 2015 quy định  lãi suất được thỏa thuận không được vượt quá mức 20% mỗi năm. Điều này nhằm bảo vệ người vay khỏi các điều kiện lãi suất quá cao và cản trở khả năng trả nợ của họ. Hình thức của lãi suất: + Cố định: Lãi suất cố định là loại lãi suất được xác định từ đầu và không thay đổi trong suốt thời gian hợp đồng. + Thả nổi: Lãi suất thả nổi là loại lãi suất có thể biến đổi theo điều kiện thị trường hoặc các chỉ số tài chính được xác định trước. + Điều chỉnh định kỳ: Lãi suất có thể được điều chỉnh định kỳ, tức là sau một khoảng thời gian nhất định, các bên có thể thỏa thuận điều chỉnh lại mức lãi suất dựa trên các yếu tố như tình hình thị trường hoặc tình hình tài chính của bên vay. + Và các hình thức khác được pháp luật cho phép. Căn cứ thỏa thuận lãi suất: + Tình hình thị trường: Các bên tham gia hợp đồng có thể căn cứ vào tình hình thị trường tài chính để định rõ mức độ rủi ro và cân nhắc mức lãi suất thích hợp. + Rủi ro khoản vay: Mức độ rủi ro của khoản vay cũng là một yếu tố quan trọng trong việc quyết định mức lãi suất thỏa thuận. Những khoản vay có rủi ro cao thường sẽ phải chịu mức lãi suất cao hơn để bù đắp cho nguy cơ. + Khả năng trả nợ của bên vay: Khả năng trả nợ của bên vay cũng là một yếu tố quan trọng trong việc xác định mức lãi suất hợp lý. Người cho vay sẽ xem xét khả năng trả nợ của bên vay để đảm bảo việc trả nợ được thực hiện đúng hẹn. 3. Cách tính lãi suất trong hợp đồng vay tài sản theo quy định  Trong quá trình giao kết hợp đồng vay mượn tiền, việc thỏa thuận mức lãi suất giữa các bên đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong giao dịch tài chính.  Cách tính lãi suất: Công thức cơ bản để tính lãi suất là: Lãi = nợ gốc x lãi suất x thời hạn vay.  Từ công thức này, chúng ta có thể dễ dàng tính toán mức lãi suất dựa trên các thông tin về lãi và giá trị tài sản vay, thời gian vay:  Lãi suất = [ Lãi / (nợ gốc x thời hạn vay) ] x 100% Nếu lãi suất được thỏa thuận theo năm, ta sẽ tính lãi suất hàng năm; nếu theo tháng, ta sẽ tính lãi suất hàng tháng, và tương tự cho các đơn vị thời gian khác. 4. Đến hạn không trả tiền thì lãi suất trong hợp đồng vay tài sản được tính như thế nào? Theo quy định Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, người vay phải có nghĩa vụ phải trả đủ tiền khi vay tài sản là tiền khi đến hạn, nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại (đúng số lượng, chất lượng trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đối với trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền tương ứng với trí giá trị của vật đã vay. Khoản 4 điều này cũng quy định trường hợp vay mà không có lãi thỏa thuận về lãi suất thì đến hạn bên vay không trả nợ hay không trả đủ thì khi xảy ra tranh chấp bên cho vay có quyền yêu cầu được trả tiền lãi suất với mức lãi theo quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật này. Và số tiền chậm trả phải được tình tương ứng với khoảng thời gian chậm trả (trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác) Còn đối với trường hợp vay nhưng có thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng thì bên vay phải trả lãi như sau: “5 …. a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này; b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Công thức tính Lãi suất quá hạn kể từ ngày hết hạn thanh toán đến ngày thanh toán thực tế: Lãi suất quá hạn=Số tiền gốc quá hạn x Lãi suất quá hạn x (Thời hạn quá hạn tính theo ngày / thời hạn vay) Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Trong nền kinh tế thị trường, cổ phiếu là loại tài sản có tính thanh khoản cao và đang ngày càng phổ biến, đặc biệt đối với lại cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, loại tài sản này lại gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý để thi hành án. Vậy pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về xử lý cổ phiếu để thi hành án - Vietlawyer sẽ giải đáp thắc mắc của các bạn qua bài viết dưới đây: 1) Thi hành án dân sự là gì? Căn cứ Điều 1 và Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014), thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động của nhiều tổ chức và cá nhân, bao gồm cơ quan THADS trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, Hội đồng xử lý cạnh tranh và Trọng tài thương mại. Bên cạnh đó, hoạt động THADS phải được thực hiện theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục theo quy định của Luật THADS, các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.  Theo đó, có thể hiểu THADS là là hoạt động của nhiều tổ chức, cá nhân được thực hiện theo nguyên tắc, trình tự và thủ tục theo quy định của Luật THADS và pháp luật có liên quan trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Trọng tài thương mại. 2) Cổ phiếu là gì? Khoản 2 Điều 4 Luật chứng khoán 2019 định nghĩa như sau:Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Khoản 1 Điều 121 Luật Doanh nghiệp 2020 thì giải thích như sau: Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.  Như vậy, cổ phiếu là loại chứng khoán do tổ chức phát hành để xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức đó.  3) Quy định về xử lý cổ phiếu để thi hành án Hiện nay, pháp luật về thi hành án dân sự chưa có quy định riêng về việc xử lý cổ phiếu để thi hành án mà chỉ có quy định về thu giữ, xử lý giấy tờ có giá để thi hành án. Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự năm 2015 cũng chưa định nghĩa rõ giấy tờ có giá là gì mà chỉ nêu khái quát giấy tờ có giá là một loại tài sản. Mặc dù vậy, tại khoản 8 Điều 6 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 thì quy định giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”. Đồng thời, tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, quy định rằng: “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”.  Tại khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN quy định như sau: Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và những điều kiện khác. Do đó, cổ phiếu cũng được coi là một loại tài sản và là giấy tờ có giá. Vì vậy, trên thực tế để xử lý cổ phiếu trong thi hành án dân sự sẽ áp dụng các quy định về trình tư, thủ tục xử lý giấy tờ có giá để thi hành án như sau:  Điều 82 Luật Thi hành án dân sự quy định: 1. Trường hợp phát hiện người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy tờ đó để thi hành án. 2. Người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án phải chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật. Trường hợp người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành án. Quy định tại khoản 1 nêu rõ những người đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án có thể là: người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác. Khi Chấp hành viên phát hiện những người này đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án, thì Chấp hành viên có quyền ra quyết định thu giữ các giấy tờ có giá đó để xử lý thi hành án. Những người này phải chuyển giao giấy tờ đó cho Chấp hành viên để xử lý theo quy định. Điều này có nghĩa là Chấp hành viên sẽ áp dụng các quy định của pháp luật để bán giấy tờ có giá nhằm thu lại một khoản tiền để thanh toán cho người được thi hành án. Điều 83 Luật thi hành án dân sự quy định “Việc bán giấy tờ có giá được thực hiện theo quy định của pháp luật”. Nhưng hiện nay vẫn chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục bán tài sản là giấy tờ có giá để đảm bảo thi hành án. Khi Chấp hành viên  tiến hành việc xử lý giấy tờ có giá, cổ phiếu theo các quy định trên chính là đang thực hiện thủ tục “cưỡng chế thi hành án đối với giấy tờ có giá”. Trong đó biện pháp “Cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án” được quy định tại khoản 1 Điều 71 Luật Thi hành án dân sự có thể sẽ bị áp dụng. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
            Thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp đất đai. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm "thời hiệu khởi kiện" đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thời gian mà một cá nhân hoặc tổ chức có thể khởi kiện và đưa vụ án ra tòa án. Thời hiệu khởi kiện không chỉ là quy định về thời gian mà còn liên quan đến các quy định về bảo vệ quyền lợi của các bên trong vụ án và quản lý công bằng trong hệ thống tư pháp. Vậy thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp đất đai? - Vietlawyer sẽ giải đáp thắc mắc của các bạn qua bài viết dưới đây: 1. Định nghĩa  Thời hiệu được hiểu là thời hạn do luật định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu.  2. Quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện Thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 184, Điều 185 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. "Điều 184. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự 1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự. 2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ." "Điều 185. Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu  Các quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự.” Đối chiếu với quy định tại Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 về những thời hiệu khởi kiện: "Điều 155. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây: 1. Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản. 2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. 3. Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. 4. Trường hợp khác do luật quy định.”           Như vậy, đối với những tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.    
 
hotline 0936 645 695