DỊCH VỤ LUẬT SƯ DÂN SỰ

Anh Đạt hỏi: Bố mẹ tôi mất có để lại một mảnh đất cho 7 anh chị em. Hiện nay, 6 người đều thống nhất muốn bán đất để chia tiền, nhưng người em út nhất quyết không đồng ý vì muốn giữ lại đất. Xin hỏi, 6 người còn lại có quyền tự bán mảnh đất này không? Nếu người em út không chịu ký giấy tờ thì chúng tôi phải làm thế nào? 1. Sáu người có được tự ý bán toàn bộ mảnh đất không? Theo khoản 2 Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015, việc định đoạt tài sản chung hợp nhất phải được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định pháp luật. => Do đó, nếu mảnh đất vẫn thuộc quyền sử dụng chung của cả 7 người thì 6 người không thể tự ý bán toàn bộ thửa đất khi người còn lại không đồng ý.Tuy nhiên, nếu quyền sử dụng đất đã được phân chia và xác định phần quyền riêng của từng người thì mỗi người có thể định đoạt phần quyền của mình theo quy định pháp luật, không được tự ý chuyển nhượng phần của người khác. 2. Cần làm gì khi một người nhất quyết không đồng ý bán đất? Thứ nhất, ưu tiên thỏa thuận với người không đồng ý bán.Các thành viên có thể trao đổi về phương án mua lại phần quyền của người không muốn bán, phân chia đất thành các phần riêng hoặc thống nhất phương án bán đất và chia tiền theo tỷ lệ được hưởng. Thứ hai, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nếu không thể thỏa thuận.Nếu việc thương lượng không đạt kết quả, người có quyền lợi liên quan có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung hoặc di sản thừa kế. Theo Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp những người thừa kế không thống nhất được việc phân chia di sản bằng hiện vật thì di sản có thể được bán để chia giá trị. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng. 
Nhiều người thường truyền tai nhau một quan niệm sai lầm rằng: “Chủ nợ mất rồi thì xem như xóa nợ”. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Việc chủ nợ đột ngột qua đời không đồng nghĩa với việc khoản nợ tự động “bốc hơi”.Vậy pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ trả nợ trong trường hợp này? Ai sẽ là người có quyền đứng ra đòi lại số tiền đó? 1. Khoản nợ không tự biến mất mà biến thành “Di sản thừa kế” Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Di sản của một người để lại sau khi chết bao gồm: tài sản riêng của người đó và phần tài sản của người đó trong tài sản chung với người khác.+ Quyền đòi nợ (quyền tài sản) là một phần của di sản thừa kế. => Do đó, khi chủ nợ qua đời, quyền đòi lại số tiền đã cho vay sẽ được chuyển giao toàn bộ cho những người thừa kế hợp pháp của họ. Người vay tiền vẫn phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi theo đúng thỏa thuận ban đầu. 2. Trường hợp duy nhất con nợ “thoát nợ” hợp pháp khi chủ nợ mất - Người vay tiền sẽ chỉ thực sự được miễn nghĩa vụ trả nợ khi rơi vào một trong các trường hợp sau: + Có thỏa thuận trước: Trong hợp đồng vay tài sản ban đầu có điều khoản ghi rõ: “Hợp đồng vay sẽ tự động chấm dứt và miễn toàn bộ nghĩa vụ trả nợ nếu bên cho vay (chủ nợ) qua đời”.+ Được người thừa kế xóa nợ+ Chủ nợ không có người thừa kế: Theo Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản này sẽ thuộc về Nhà nước. Lúc này con nợ phải nộp trả số tiền đó vào ngân sách nhà nước theo đúng thủ tục, chứ không được giữ lại. 3. Con nợ cố tình bùng nợ khi chủ nợ mất sẽ bị xử lý thế nào? - Nếu con nợ nảy sinh lòng tham, cố tình che giấu khoản nợ hoặc không chịu trả tiền cho người thừa kế, họ có thể phải đối mặt với các chế tài pháp lý nghiêm trọng: + Bị khởi kiện dân sự+ Bị xử lý hình sự: Nếu con nợ dùng các thủ đoạn gian dối hoặc có điều kiện trả nhưng cố tình tẩu tán tài sản để trốn nợ => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015). ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Trường hợp phải bồi thường Căn cứ theo điều 604 Bộ Luật Dân sự 2015 bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra: “chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.” Như vậy trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người được giao quản lý cây cối. Trường hợp tài sản gây thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu chiếm giữ tài sản có nghĩa vụ phải chịu bồi thường căn cứ theo khoản 3 điều 584 của Bộ Luật Dân sự 2015 quy định “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh” 2. Các trường hợp không phải bồi thường Và có một số trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu không phải bồi thường căn cứ vào khoản 3 điều 584 Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định như khi có một sự kiện bất khả kháng như thiên tai, bão lũ lớn nằm ngoài tầm kiểm soát mà chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu không thể lường trước được và đã khắc phục mọi biện pháp như cắt tỉa chống đỡ cần thiết trước đó.Lưu ý nếu cây đã mục rỗng có nguy cơ gãy đổ từ lâu mà chủ sở hữu bỏ mặc không xử lý thì vẫn phải bồi thường chứ không được tính là sự kiện bất khả khángTrường hợp tiếp theo mà chủ sở hữu người chiếm hữu không phải bồi thường là hoàn toàn do lỗi bên người bị thiệt hại thì chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu cây sẽ được miễn hoàn toàn trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp chỉ có phần lỗi của chủ cây và phần lỗi người bị hại thì chỉ cần bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Ví dụ hàng xóm cố tình trèo lên cành cây nhà mình để đục đẽo hoặc kéo vật mà không thông báo thỏa thuận gì và cành cây bị gãy làm hỏng mái tôn nhà hàng xóm. Thì trong trường hợp này chủ cây không phải bồi thường cho hàng xóm. 3.    Phạm vi thiệt hại được bồi thường Căn cứ điều 585 luật dân sự 2015 thì thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời căn cứ điều 589 bộ luật dân sự 2015 gồm:-    Giá trị tài sản bị hư hỏng, hỏng học hoặc bị hủy hoại-    Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại -    Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất hoặc giảm sút. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trao vàng cho cô dâu trong lễ đính hôn nhưng hai bên hủy hôn: Có đòi lại vàng đã trao được không? Trong lễ đính hôn, việc gia đình nhà trai trao vàng, nhẫn hoặc các món nữ trang cho cô dâu là phong tục phổ biến tại Việt Nam. Những món quà này thường mang ý nghĩa chúc phúc, thể hiện sự trân trọng và mong muốn tiến tới hôn nhân giữa hai bên gia đình. Tuy nhiên, nếu sau lễ đính hôn, hai bên quyết định không tổ chức đám cưới hoặc chấm dứt việc tiến tới hôn nhân, một vấn đề thường phát sinh là: Nhà trai có quyền yêu cầu cô dâu trả lại số vàng đã trao hay không? 1. Bản chất việc trao vàng trong lễ đính hôn? - Trao tặng vàng nhằm mục đích chúc phúc, là tặng cho không có điều kiện. + Căn cứ Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tặng cho tài sản được xác định như sau: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.” + Đồng thời, khoản 1 Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định "1. Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác." => Nữ trang trao tại lễ đính hôn là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm giao nhận tài sản theo Điều 458 Bộ luật Dân sự. Việc tặng cho tại lễ hỏi nhằm mục đích chúc phúc không đồng nghĩa là tặng cho có điều kiện bắt buộc phải kết hôn theo Điều 462 BLDS vì các bên không có thỏa thuận cụ thể về nghĩa vụ hoàn trả nếu hủy hôn. Do đó, việc hai bên không tiến tới kết hôn không phải là căn cứ để đòi lại tài sản. - Trao tặng vàng nhưng có điều kiện. + Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tặng cho tài sản có điều kiện: "1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. ..... 3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại." => Từ quy định này, có thể xem xét quyền đòi lại vàng trong một số trường hợp sau: Trường hợp thứ nhất: Hai bên có thỏa thuận rõ ràng về điều kiện trao vàng. Chẳng hạn, khi trao vàng, gia đình nhà trai nói rõ đây là nữ trang trao cho cô dâu để chuẩn bị cho việc kết hôn, nếu hôn lễ không diễn ra thì phải hoàn trả. Nếu thỏa thuận này được xác lập hợp pháp và có đủ căn cứ chứng minh, nhà trai có thể viện dẫn quy định về tặng cho có điều kiện để yêu cầu hoàn trả. Trường hợp thứ hai: Hai bên đã thỏa thuận hoàn trả sau khi hủy hôn. Nếu sau khi quyết định không tổ chức đám cưới, hai gia đình thống nhất cô dâu phải trả lại vàng hoặc trả một khoản tiền tương ứng nhưng sau đó không thực hiện, thỏa thuận này có thể là căn cứ để bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ. Khi phát sinh tranh chấp, nội dung và hiệu lực của thỏa thuận cần được xem xét dựa trên chứng cứ cụ thể. Trường hợp thứ ba: Vàng không phải là tài sản được tặng cho vô điều kiện. Nếu vàng chỉ được giao để giữ hộ, sử dụng tạm thời hoặc giao cho cô dâu thay mặt gia đình quản lý, thì việc hoàn trả cần được xem xét theo bản chất của quan hệ pháp lý đó, chứ không mặc nhiên áp dụng quy định về quà tặng. => Khi đó, nhà trai có cơ sở yêu cầu trả lại vàng khi chứng minh được căn cứ pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả. Ngược lại, nếu vàng đã được tặng cho hoàn tất và không có điều kiện hoàn trả hợp pháp, việc hủy hôn không tự động tạo ra quyền đòi lại tài sản. 2. Nếu nhà trai tự ý hủy hôn hoặc nhà gái là bên hủy hôn thì có ảnh hưởng đến quyền đòi vàng không? Việc bên nào chủ động hủy hôn không phải là căn cứ duy nhất để xác định nghĩa vụ trả lại vàng. Pháp luật không quy định chung rằng bên hủy hôn phải hoàn trả toàn bộ sính lễ hoặc bên không có lỗi đương nhiên được giữ toàn bộ số vàng đã trao. Nếu vàng đã được tặng cho vô điều kiện và quyền sở hữu đã chuyển sang người nhận, việc một bên đơn phương chấm dứt kế hoạch kết hôn không đương nhiên làm mất hiệu lực của việc tặng cho trước đó. Ngược lại, nếu có thỏa thuận hợp pháp về điều kiện hoàn trả khi hủy hôn, việc xác định nghĩa vụ phải căn cứ vào nội dung thỏa thuận và chứng cứ chứng minh. => Dù nhà trai hay nhà gái là bên chủ động hủy hôn, quyền đòi lại vàng vẫn phải được xác định dựa trên bản chất của việc trao vàng, thỏa thuận giữa các bên và căn cứ pháp luật tương ứng, không thể chỉ dựa vào lỗi của một bên. 3. Nếu cô dâu không trả vàng, nhà trai có thể khởi kiện ra Tòa án không? Nếu đã thương lượng nhưng không đạt được thỏa thuận, bên cho rằng mình có quyền nhận lại vàng có thể cân nhắc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp dân sự. Theo Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật."  => Nhà trai có thể khởi kiện nếu cho rằng mình có căn cứ pháp luật để đòi lại vàng. Khi yêu cầu Tòa án giải quyết, bên khởi kiện cần trình bày rõ căn cứ đòi lại tài sản và cung cấp những chứng cứ mình có. Các tài liệu có thể hữu ích bao gồm: - Hình ảnh, video ghi nhận việc trao vàng trong lễ đính hôn.- Tin nhắn, ghi âm hợp pháp hoặc tài liệu thể hiện thỏa thuận về điều kiện trao vàng và nghĩa vụ hoàn trả.- Lời khai của những người trực tiếp tham gia, chứng kiến việc trao vàng.- Hóa đơn mua vàng, giấy giao nhận hoặc tài liệu chứng minh số lượng, loại vàng và người giao, người nhận.- Tin nhắn hoặc văn bản thể hiện việc hai bên thống nhất trả lại vàng sau khi hủy hôn, nếu có. Kết luận Trao nữ trang cho cô dâu trong lễ đính hôn nhưng sau đó hai bên hủy hôn không đồng nghĩa với việc nhà trai đương nhiên được đòi lại vàng. Nếu vàng đã được tặng cho vô điều kiện và việc tặng cho đã hoàn thành, nhà trai thường không thể chỉ dựa vào lý do hủy hôn để yêu cầu hoàn trả. Ngược lại, nếu có thỏa thuận hợp pháp về điều kiện tặng cho và nghĩa vụ hoàn trả, hoặc có căn cứ pháp lý khác chứng minh người nhận phải trả lại tài sản, nhà trai có thể yêu cầu hoàn trả và đề nghị Tòa án giải quyết nếu phát sinh tranh chấp. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp, điều quan trọng nhất không chỉ là xác định ai là người hủy hôn mà còn phải làm rõ: Vàng được trao để tặng riêng cô dâu hay cho mục đích khác? Hai bên có thỏa thuận về điều kiện hoàn trả hay không? Có chứng cứ nào chứng minh thỏa thuận đó? Đây mới là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định quyền đòi lại vàng đã trao trong lễ đính hôn. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Mới đây thì xảy ra vụ mâu thuẫn giữa chủ nhà và người nhận phá dỡ công trình tại phường Tương Mai, Hà Nội được chia sẻ trên mạng xã hội và thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận.  Vụ việc xuất phát từ những bất đồng trong quá trình thực hiện phá dỡ công trình. Vậy thì việc chủ nhà cho rằng KHÔNG có hợp đồng nên KHÔNG phải trả tiền là đúng hay sai? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Ảnh: Báo mới  1. Hợp đồng không nhất thiết phải lập thành văn bản Theo Điều 116 BLDS 2015 quy định:+ Giao dịch dân sự là hợp đồng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định + Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. => Như vậy, nếu chủ nhà và người nhận phá dỡ đã thỏa thuận bằng lời nói, tin nhắn hoặc thể hiện sự thống nhất thông qua hành vi thực tế thì thỏa thuận này vẫn được pháp luật công nhận, mặc dù hai bên không ký kết hợp đồng bằng văn bản. => Do đó, việc chủ nhà cho rằng “không có hợp đồng nên không phải trả tiền” là không đúng Theo Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, còn bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ.=>Do đó, nếu có căn cứ chứng minh chủ nhà đã thuê người phá dỡ công trình và hai bên có thỏa thuận về tiền công thì không thể chỉ dựa vào việc không có “hợp đồng giấy” để phủ nhận nghĩa vụ thanh toán. 2. Nếu đã thực hiện công việc thì nghĩa vụ trả tiền được xác định thế nào? - Theo Điều 515 Bộ luật Dân sự 2015, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ: “Trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận.” - Đồng thời, Điều 519 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả tiền dịch vụ. Theo đó, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận về mức tiền thì tiền dịch vụ được xác định theo giá thị trường hoặc phương thức mà pháp luật quy định. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Thời gian gần đây, các vụ việc gạch, đá, sắt thép từ các công trình xây dựng hoặc tháo dỡ nhà cửa rơi trúng người đi đường vẫn liên tiếp xảy ra, gây thương tích nghiêm trọng, thậm chí mất đi tính mạng. Phía sau mỗi tai nạn đó là câu hỏi pháp lý cấp bách: Khi sự cố xảy ra, ai là người phải gánh chịu trách nhiệm và bồi thường? 1. Về trách nhiệm bồi thường dân sự - Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp luật có quy định khác.+ Trước hết cần xác định ai trực tiếp gây ra việc tấm bê tông rơi xuống người đi đường và nguyên nhân vì sao xảy ra sự cố. Nếu người công nhân thực hiện không đúng quy trình, thiếu biện pháp bảo đảm an toàn dẫn đến tấm bê tông rơi xuống đường thì người trực tiếp thực hiện hành vi có thể phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do mình gây ra. 2. Nếu công nhân là người làm thuê cho đơn vị phá dỡ thì sao? - Theo Điều 597 và Điều 600 BLDS 2015 quy định:+ “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao..." + Sau khi bồi thường, pháp nhân CÓ QUYỀN yêu cầu người có lỗi hoàn trả một khoản tiền theo quy định. => Vì vậy, nếu công nhân là người được đơn vị phá dỡ thuê và đang thực hiện công việc theo sự phân công của đơn vị, trách nhiệm bồi thường về nguyên tắc có thể đặt ra đối với đơn vị sử dụng người lao động/người làm công. Sau đó, đơn vị có thể xem xét trách nhiệm của người trực tiếp gây ra thiệt hại theo quy định pháp luật. 3. Chủ công trình có phải chịu trách nhiệm không? + Nếu chủ nhà chỉ thuê một đơn vị độc lập thực hiện việc phá dỡ và đơn vị này trực tiếp tổ chức, quản lý công việc => trách nhiệm có thể thuộc về đơn vị phá dỡ nếu lỗi phát sinh từ quá trình tổ chức thi công. + Nếu chủ công trình trực tiếp tổ chức việc phá dỡ, chỉ đạo công nhân hoặc có lỗi trong việc bảo đảm an toàn => trách nhiệm có thể thuộc về chủ công trình nếu lỗi phát sinh từ quá trình tổ chức thi công. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tế, có trường hợp người vay không còn tiền hoặc không có tài sản để thanh toán khoản nợ. Từ đó, nhiều người cho rằng “con nợ không có tài sản thì cũng không đòi được, khoản nợ coi như mất”. Tuy nhiên, không có khả năng thanh toán tại một thời điểm không đồng nghĩa với việc nghĩa vụ trả nợ tự động chấm dứt. 1. Không có tài sản không làm mất nghĩa vụ trả nợ - Theo Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.”=>Người vay đến hạn nhưng không có tiền hoặc tài sản để thanh toán thì nghĩa vụ trả nợ vẫn còn. - Ngoài khoản tiền gốc, người vay còn có thể phải chịu lãi, lãi quá hạn hoặc khoản bồi thường nếu có căn cứ theo thỏa thuận và quy định pháp luật. 2. Không có tài sản hiện tại không đồng nghĩa với không thể thi hành án - Nếu chủ nợ khởi kiện => có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật => người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong bản án. - Tại thời điểm thi hành án, người phải thi hành án CHƯA CÓ tài sản hoặc thu nhập để thi hành => cơ quan thi hành án dân sự xác minh điều kiện thi hành án => Sau này phát sinh tài sản, thu nhập hoặc CÓ điều kiện thi hành án => Việc thi hành án được tiếp tục theo quy định pháp luật. 3. Khi nào nghĩa vụ trả nợ mới chấm dứt? - Theo Điều 372 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ có thể chấm dứt trong các trường hợp như:+ Nghĩa vụ được hoàn thành;+ Theo thỏa thuận của các bên;+ Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;+ Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác;+ Nghĩa vụ được bù trừ;+ Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một;+ Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết;+ Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;+ Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác;+ Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác;+ Trường hợp khác do luật quy định. Như vậy, việc người vay không có tài sản để trả nợ chỉ phản ánh tình trạng tài chính tại thời điểm đó, không phải căn cứ để khoản nợ tự động mất đi. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Cha, mẹ muốn lập di chúc để định đoạt tài sản cho các con nhưng do tuổi cao, sức khỏe yếu hoặc không biết chữ nên không thể tự mình viết di chúc. Khi đó, con cái có thể viết nội dung di chúc theo ý chí của cha, mẹ hay không? Dưới đây là những phân tích theo quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Cha, mẹ có quyền tự mình lập di chúc để định đoạt tài sản - Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Người lập di chúc có quyền: Chỉ định người thừa kế, truất quyền, phân định phần di sản,... => Như vậy, về nguyên tắc, cha, mẹ có quyền quyết định tài sản thuộc quyền sở hữu của mình sẽ được để lại cho ai sau khi qua đời. 2. Con cái có thể viết thay di chúc cho cha, mẹ không? Câu trả lời là có. Nhưng việc lập di chúc trong trường hợp này phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ của pháp luật cụ thể: Thứ nhất, di chúc hợp pháp - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: + Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;+ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Thứ hai, Không tự mình viết di chúc thì phải có người làm chứng - Theo Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: + Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc NHƯNG phải có ít nhất là 2 người làm chứng.+ Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng+ Những người làm chứng xác nhận và ký vào bản di chúc. - Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, TRỪ NHỮNG NGƯỜI SAU ĐÂY: + Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.+ Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. KẾT LUẬN: Như vậy, pháp luật không bắt buộc người lập di chúc phải tự tay viết di chúc trong mọi trường hợp. Nếu cha, mẹ không tự mình viết được thì có thể nhờ con viết hoặc đánh máy bản di chúc. Tuy nhiên, nội dung di chúc phải thể hiện ý chí của chính người lập di chúc và phải có 2 người làm chứng và con không thể tham gia với tư cách là người làm chứng di chúc của bố mẹ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, không phải mọi vụ án đều được Tòa án giải quyết liên tục cho đến khi đưa ra bản án. Trong một số trường hợp, Tòa án có thể tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hai khái niệm này có điểm giống nhau là đều làm cho quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án không tiếp tục theo thủ tục thông thường, nhưng tạm đình chỉ và đình chỉ có bản chất và hậu quả pháp lý khác nhau. Vậy tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án dân sự là gì? Khi nào được áp dụng? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. 1. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án TẠM THỜI DỪNG giải quyết vụ án khi xuất hiện một trong những căn cứ luật định. Việc tạm đình chỉ KHÔNG làm CHẤM DỨT vụ án. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong CÁC TRƯỜNG HỢP chủ yếu sau (Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Đương sự là cá nhân chết hoặc cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động mà chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; + Đương sự mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên nhưng chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; + Chấm dứt việc đại diện hợp pháp nhưng chưa có người thay thế; + Cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan hoặc phải chờ cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước; + Cần chờ kết quả ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc chờ cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; + Cần chờ kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ:A khởi kiện B yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp. Trong trường hợp này, nếu đáp ứng điều kiện luật định, Tòa án có thể tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả của vụ án có liên quan.=> Khi nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ được khắc phục, vụ án có thể được tiếp tục giải quyết. 2. Hậu quả của việc tạm đình chỉ vụ án dân sự - Vụ án không bị xóa khỏi sổ thụ lý mà chỉ được ghi chú về quyết định tạm đình chỉ; - Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và sẽ được xử lý khi vụ án tiếp tục được giải quyết; - Thẩm phán được phân công vẫn có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc để khắc phục nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ; - Quyết định tạm đình chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. 3. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Khác với tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án CHẤM DỨT việc giải quyết vụ án sau khi đã thụ lý vì xuất hiện căn cứ theo quy định của pháp luật. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong CÁC TRƯỜNG HỢP như (Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; + Cơ quan, tổ chức đã giải thể, phá sản mà không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; + Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; + Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không thuộc trường hợp được pháp luật loại trừ (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan); + Đã có quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là đương sự và việc giải quyết vụ án liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; + Nguyên đơn không nộp tiền, ,chi phí tạm ứng chi phí định giá tài sản và các chi phí tố tụng khác theo quy định; + Đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định mà thời hiệu khởi kiện đã hết; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ: A khởi kiện B yêu cầu thanh toán khoản nợ. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, A tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Nếu việc rút yêu cầu đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. 4. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự - Theo Điều 217 và Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự, khi đình chỉ giải quyết vụ án:+ Tòa án xóa tên vụ án trong sổ thụ lý; + Trong trường hợp đương sự có yêu cầu, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và lưu bản sao theo quy định; + Trong nhiều trường hợp, đương sự không được khởi kiện lại cùng vụ án nếu vụ án sau không có gì khác về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác; + Việc xử lý tiền tạm ứng án phí phụ thuộc vào lý do đình chỉ. Ví dụ: Nếu người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện => tiền tạm ứng án phí được trả lại cho họ Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt => tiền tạm ứng án phí được sung vào công quỹ nhà nước. + Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cũng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Kết luận: Tạm đình chỉ = Tạm dừng → khắc phục lý do → tiếp tục giải quyết.Đình chỉ = Chấm dứt → không tiếp tục giải quyết  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Việc thả rông trâu, bò, ngựa, chó,... hoặc các loại vật nuôi khác trên đường hoặc tại nơi công cộng không chỉ tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông mà còn có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Vậy khi thả rông vật nuôi gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông thì sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự theo quy định của pháp luật. Dưới đây là những phân tích về các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Vật nuôi bao gồm?  - Theo Khoản 5 Điều 2 Luật Chăn nuôi năm 2018 quy định "Vật nuôi bao gồm gia súc, gia cầm và động vật khác trong chăn nuôi." Các vật nuôi phổ biến gồm: trâu, bò, ngựa, dê, cừu, lợn, chó, mèo, gà, vịt...- Hiện nay, pháp luật chưa có quy định giải thích cụ thể về khái niệm thả rông vật nuôi. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là việc chủ sở hữu hoặc người đang quản lý để vật nuôi tự do đi lại mà không có người trong coi hoặc không áp dụng các biện pháp quản lý cần thiết, dẫn đến vật nuôi đi vào đường bộ, cản trở giao thông hoặc gây thiệt hại cho người tham gia giao thông.- Và theo Khoản 3 Điều 32 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: “Không được thả vật nuôi trên đường bộ”. Do đó, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có trách nhiệm quản lý, trong giữ vật nuôi của mình, không để vật nuôi tự do đi trên đường bộ làm ảnh hưởng, gây cản trở đến giao thông. 2.  Những trách nhiệm pháp lý có thể phải chịu ? Tùy theo hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang chiếm giữ, sử  vật nuôi có thể phải chịu một hoặc nhiều loại trách nhiệm sau đây: 2.1. Trách nhiệm dân sự - Nếu có thiệt hại xảy ra thì đây là trách nhiệm đầu tiên đối với chủ nuôi, người quản lý vật nuôi. Theo quy định tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: + Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Các khoản thiệt hại phải đền bù có thể bao gồm: +++ Thiệt hại về tài sản (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.+++ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; Thu nhập thực tế bị mất của người bị nạn; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị và cả khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. + Nếu vật nuôi đang được giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người chiếm hữu, sử dụng đó phải có trách nhiệm bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2.2. Trách nhiệm hành chính - Theo Điều 11 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định người điều khiển dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ có thể bị phạt hành chính như sau:+ Phạt tiền từ 150.000 đồng đến 250.000 đồng đối với hành vi để vật nuôi đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người, phương tiện đang tham gia giao thông;+ Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với hành vi dẫn dắt vật nuôi chạy theo khi đang điều khiển hoặc ngồi trên phương tiện giao thông đường bộ;+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển, dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo đi vào đường cao tốc. - Theo Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng: + Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi thả rông động vật nuôi ở nơi công cộng. 2.3. Trách nhiệm hình sự Trường hợp chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi do cẩu thả, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý vật nuôi, để vật nuôi chạy ra đường gây tai nạn làm chết người thì tùy tính chất, mức độ của hành vi và hậu quả xảy ra, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội vô ý làm chết người" theo quy định của Bộ luật Hình sự. + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 01 người;+ Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 02 người trở lên. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Khi được tặng cho nhà, đất hoặc các loại bất động sản khác, nhiều người băn khoăn liệu có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không. Dưới đây là các quy định của pháp luật hiện hành. 1.  Bất động sản, Hợp đồng tặng cho tài sản là gì ? - Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015, bất động sản bao gồm những loại tài sản sau đây:+ Đất đai;+ Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;+ Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; + Tài sản khác theo quy định của pháp luật.- Theo Điều 457 Bộ luật Dân sự 2015, Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. 2.  Bất động sản được tặng cho có thuộc đối tượng chịu thuế không ? - Theo Khoản 9 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 quy định về đối tượng chịu thuế như sau: "Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm: thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng .... là bất động sản."Như vậy, người nhận tặng cho bất động sản phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định. 3. Trường hợp Bất động sản được tặng cho được miễn thuế ? - Theo Khoản 1 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2025 việc nhận tặng cho bất động sản sẽ được miễn thuế nếu diễn ra giữa các đối tượng sau:+ Vợ với chồng; + Cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; + Cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; + Cha chồng, mẹ chồng với con dâu; + Cha vợ, mẹ vợ với con rể; + Ông nội, bà nội với cháu nội; + Ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; + Anh, chị, em ruột với nhau.Kết luậnViệc nhận tặng cho bất động sản nhìn chung phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, nếu việc tặng cho được thực hiện giữa các thành viên trong gia đình thuộc diện được miễn thuế theo quy định của pháp luật thì người nhận không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
  Trong thực tế, nhiều cha mẹ khi có điều kiện thường muốn mua nhà để con đứng tên. Tuy nhiên, nếu người con chưa đủ 18 tuổi thì việc đứng tên sổ đỏ có được pháp luật cho phép hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trước tiên cần xem xét quy định của Bộ luật Dân sự liên quan đến người thành niên và người chưa thành niên, cụ thể: "Điều 20. Người thành niên 1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. 2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này. Điều 21. Người chưa thành niên 1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. 2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. 3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. 4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý." Theo đó: - Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, được tự mình xác lập, thực hiện và quyết định đối với các giao dịch dân sự, bao gồm cả việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất và đứng tên sổ đỏ.  - Đối với người chưa thành niên, việc tham gia giao dịch dân sự bị hạn chế, cụ thể: -> Dưới 6 tuổi: mọi giao dịch do cha mẹ hoặc người giám hộ xác lập và thực hiện thay.  -> Từ đủ 6 đến dưới 15 tuổi: khi tham gia giao dịch phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các nhu cầu sinh hoạt thông thường.  -> Từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi: có thể tự mình xác lập giao dịch dân sự, nhưng đối với giao dịch liên quan đến bất động sản hoặc tài sản phải đăng ký thì vẫn phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Như vậy, có thể thấy người chưa thành niên vẫn có quyền sở hữu tài sản. Tuy nhiên, việc xác lập và thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của họ, đặc biệt là bất động sản, phải thông qua hoặc được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ. Bên cạnh đó, về nguyên tắc, pháp luật không cấm người chưa thành niên đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở (sổ đỏ). Căn cứ khoản 1 Điều 134 Luật Đất đai 2024: "Điều 134. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất 1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng gắn liền với đất theo mẫu thống nhất trong cả nước." Do đó, con chưa thành niên vẫn có thể đứng tên sổ đỏ nếu tài sản đó được xác lập hợp pháp cho con. Ví dụ: cha mẹ mua nhà nhưng xác định người nhận chuyển nhượng hoặc được tặng cho là con,... Tuy nhiên, do con chưa thành niên chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nên mọi thủ tục liên quan đến việc mua bán, tặng cho, đăng ký sang tên đều phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện hoặc đồng ý. Trên thực tế, khi làm thủ tục cấp sổ đỏ đứng tên người chưa thành niên, cơ quan đăng ký đất đai sẽ yêu cầu thông tin về người đại diện theo pháp luật để ghi nhận việc quản lý, thực hiện quyền liên quan đến tài sản đó. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695