DỊCH VỤ LUẬT SƯ DÂN SỰ

Khi phát sinh tranh chấp thừa kế, một người thừa kế có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp người khởi kiện không kê khai đầy đủ những người có quyền hưởng di sản, do không biết, không xác định được nơi cư trú hoặc thậm chí cố tình không đưa một người thừa kế vào vụ án. Vậy việc bỏ sót người thừa kế có làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án và bản án của Tòa án hay không? 1. Những người thừa kế nào cần được xác định khi giải quyết vụ án chia di sản? -Trường hợp 1:  Nếu di sản được chia theo pháp luật + Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các hàng thừa kế theo thứ tự: Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết. --> Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau; Hàng thừa kế sau chỉ được hưởng khi không còn ai ở hàng trước do những nguyên nhân được luật quy định. +  Ngoài ra, khi có người thuộc trường hợp thừa kế thế vị, quyền hưởng di sản của người đó cũng cần được xem xét. Chẳng hạn, nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu có thể được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. - Trường hợp 2: Nếu người chết có để lại di chúc + Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một số người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động nếu đáp ứng các điều kiện luật định. --> Vì vậy, khi khởi kiện chia di sản, cần xác định đầy đủ những người có quyền hưởng thừa kế. 2. Có được bỏ sót người thừa kế khi khởi kiện không? - Theo khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đơn khởi kiện phải có thông tin về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những vấn đề mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết đối với họ. Trong vụ án chia di sản thừa kế, người có quyền hưởng một phần di sản thường là người có quyền lợi trực tiếp liên quan đến kết quả giải quyết vụ án. Vì vậy, họ cần được xác định và tham gia tố tụng để có cơ hội trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và bảo vệ quyền hưởng thừa kế của mình. - Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, nếu việc giải quyết vụ án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nhưng không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng thì Tòa án phải đưa người đó vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. --> Như vậy, trách nhiệm xác định đầy đủ người tham gia tố tụng không chỉ đặt ra đối với người khởi kiện mà còn thuộc trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. 3. Trường hợp phát hiện bỏ sót người thừa kế khi vụ án đang được giải quyết? - Nếu vụ án vẫn đang trong quá trình giải quyết tại Tòa án và phát hiện còn một người có quyền hưởng di sản chưa được đưa vào tham gia tố tụng thì cần thông báo ngay cho Tòa án. Tòa án có thể xác minh quan hệ nhân thân, quyền hưởng thừa kế và đưa người này vào vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu việc phân chia di sản có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. - Theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định người được đưa vào tham gia tố tụng có quyền trình bày ý kiến, cung cấp tài liệu và chứng cứ, tham gia phiên họp, phiên tòa và có thể đưa ra yêu cầu độc lập khi đáp ứng điều kiện của pháp luật. Ví dụ, ông A mất không để lại di chúc và có bốn người con là B, C, D và E. B khởi kiện yêu cầu chia căn nhà do ông A để lại nhưng trong đơn chỉ xác định C và D là những người thừa kế, không đề cập đến E. Nếu xác định E cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất và chưa từ chối nhận di sản, việc chia căn nhà trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của E. Vì vậy, E cần được đưa vào tham gia tố tụng trước khi vụ án được giải quyết. 4. Trường hợp Tòa án đã xét xử nhưng bỏ sót người thừa kế thì bản án có bị hủy không? - Việc Tòa án không đưa đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào quá trình giải quyết vụ án có thể được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nếu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. - Theo khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khi có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể hủy bản án sơ thẩm hoặc phần bản án có liên quan và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại. 5. Trường hợp Bản án đã có hiệu lực mới phát hiện bỏ sót người thừa kế thì xử lý thế nào? - Khoản 1 Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định bản án, quyết định đã có hiệu lực có thể bị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng và dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ; hoặc có sai lầm trong áp dụng pháp luật gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. --> Như vậy, nếu một người thực sự có quyền hưởng di sản nhưng hoàn toàn không được đưa vào tham gia vụ án và bản án đã phân chia hết khối di sản cho những người khác, người bị ảnh hưởng có thể gửi văn bản, tài liệu chứng minh quyền thừa kế của mình đến cơ quan có thẩm quyền để đề nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong nhiều gia đình, bố mẹ muốn giữ lại căn nhà của gia đình làm nơi thờ cúng tổ tiên nên khi lập di chúc thường giao căn nhà cho một người con quản lý. Sau khi bố mẹ qua đời, những người con còn lại có thể cho rằng mình cũng là con nên có quyền đối với căn nhà và yêu cầu chia đều tài sản. Vậy trong trường hợp bố mẹ đã lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà cho một người con để thờ cúng tổ tiên, những người con khác có được yêu cầu đem căn nhà đó ra chia thừa kế hay không? 1. Bố mẹ có quyền để lại tài sản trong di chúc để dùng vào việc thờ cúng không? - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, quyền của người lập di chúc: “ Điều 626. Quyền của người lập di chúcNgười lập di chúc có quyền sau đây:1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.” --> Theo đó, người để lại thừa kế có quyền dành một phần hoặc toàn bộ di sản để dùng vào việc thờ cúng.  2. Căn nhà đã được xác định là di sản thờ cúng thì những người con khác có được chia không? - Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể đối với di sản dùng vào việc thờ cúng. Theo đó, khi người lập di chúc dành một phần di sản để thờ cúng thì: phần di sản đó không được chia thừa kế; tài sản được giao cho người được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu không chỉ định người quản lý thì những người thừa kế sẽ cử người quản lý; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng nội dung di chúc hoặc không thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao tài sản cho người khác quản lý. --> Như vậy, nếu nội dung di chúc hợp pháp và căn nhà thực sự được xác định là di sản dùng vào việc thờ cúng, thì căn nhà không được đưa ra chia thừa kế như một tài sản thông thường.  Bên cạnh đó, căn nhà dùng để thờ cúng không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người thừa kế nào. Người được nhắc đến trong di chúc cũng chỉ là người quản lý và trực tiếp thờ cúng.  3. Những người con khác có thể được chia căn nhà trong trường hợp nào? Mặc dù có di chúc, vẫn có một số trường hợp những người con khác có thể yêu cầu xem xét quyền hưởng di sản: Trường hợp 1:  Di chúc không hợp pháp. - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, để di chúc hợp pháp, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; đồng thời nội dung và hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật. Ví dụ, nếu có căn cứ chứng minh bố hoặc mẹ không còn minh mẫn khi lập di chúc, chữ ký bị giả mạo hoặc việc lập di chúc xuất phát từ sự cưỡng ép thì những người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của di chúc.Nếu di chúc không hợp pháp, di sản hoặc phần di sản tương ứng có thể được chia theo pháp luật theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.  Trường hợp 2: Có người thuộc diện được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc. - Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một số người vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu họ không được cho hưởng di sản hoặc được hưởng ít hơn mức này. Nhóm này bao gồm con chưa thành niên và con thành niên không có khả năng lao động; ngoài ra còn có cha, mẹ, vợ hoặc chồng của người để lại di sản. Ví dụ, bố mẹ có 03 người con đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động bình thường và bố mẹ lập di chúc hợp pháp để lại căn nhà cho người con cả. Hai người con còn lại không thuộc trường hợp đương nhiên được hưởng 2/3 suất thừa kế theo Điều 644 chỉ vì họ là con của người chết.Ngược lại, nếu một người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì quyền hưởng phần di sản bắt buộc của người đó cần được xem xét, mặc dù di chúc không cho họ hưởng tài sản. Trường hợp 3: Căn nhà không hoàn toàn thuộc quyền định đoạt của người lập di chúc. - Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự, di sản chỉ bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Do đó, một người chỉ có quyền lập di chúc đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Ví dụ, căn nhà là tài sản chung của bố và mẹ. Nếu chỉ bố lập di chúc để lại “toàn bộ căn nhà” cho một người con nhưng mẹ không có nội dung định đoạt tương ứng thì di chúc của bố không thể làm phát sinh quyền đối với phần tài sản thuộc sở hữu của mẹ. Nếu cả bố và mẹ đều có di chúc hợp pháp định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình theo cùng một hướng thì mới có cơ sở xem xét toàn bộ căn nhà theo nội dung các di chúc đó.  Trường hợp 4: Di sản phải được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết. - Khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự quy định rằng nếu toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản để thờ cúng. Ví dụ, bố mẹ còn khoản nợ hợp pháp chưa thanh toán và tài sản để lại không đủ để thực hiện nghĩa vụ đó thì không thể viện dẫn việc căn nhà được dành để thờ cúng để loại trừ hoàn toàn quyền của chủ nợ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Cha, mẹ muốn lập di chúc để định đoạt tài sản cho các con nhưng do tuổi cao, sức khỏe yếu hoặc không biết chữ nên không thể tự mình viết di chúc. Khi đó, con cái có thể viết nội dung di chúc theo ý chí của cha, mẹ hay không? Dưới đây là những phân tích theo quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Cha, mẹ có quyền tự mình lập di chúc để định đoạt tài sản - Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Người lập di chúc có quyền: Chỉ định người thừa kế, truất quyền, phân định phần di sản,... => Như vậy, về nguyên tắc, cha, mẹ có quyền quyết định tài sản thuộc quyền sở hữu của mình sẽ được để lại cho ai sau khi qua đời. 2. Con cái có thể viết thay di chúc cho cha, mẹ không? Câu trả lời là có. Nhưng việc lập di chúc trong trường hợp này phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ của pháp luật cụ thể: Thứ nhất, di chúc hợp pháp - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: + Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;+ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Thứ hai, Không tự mình viết di chúc thì phải có người làm chứng - Theo Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: + Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc NHƯNG phải có ít nhất là 2 người làm chứng.+ Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng+ Những người làm chứng xác nhận và ký vào bản di chúc. - Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, TRỪ NHỮNG NGƯỜI SAU ĐÂY: + Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.+ Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. KẾT LUẬN: Như vậy, pháp luật không bắt buộc người lập di chúc phải tự tay viết di chúc trong mọi trường hợp. Nếu cha, mẹ không tự mình viết được thì có thể nhờ con viết hoặc đánh máy bản di chúc. Tuy nhiên, nội dung di chúc phải thể hiện ý chí của chính người lập di chúc và phải có 2 người làm chứng và con không thể tham gia với tư cách là người làm chứng di chúc của bố mẹ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Chị H hỏi: "Tôi là người được thi hành án theo bản án của Tòa án. Người phải thi hành án là bà B có nghĩa vụ trả cho tôi 500.000.000 đồng và tiền lãi chậm thi hành án. Hiện Thi hành án dân sự đã kê biên quyền sử dụng đất của bà B, nhưng đây là tài sản chung của vợ chồng nên chưa xác định được phần quyền sử dụng đất của bà B. Xin hỏi, tôi có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của bà B trong khối tài sản chung để phục vụ việc thi hành án hay không?"Trả lời: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định người thi hành án có quyền yêu cầu tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi hành án bằng cách khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án.Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án:Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật thi hành án dân sự 2025 quy định, trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác thì Chấp hành viên xử lý như sau:- Thông báo cho người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền sở hữu chung thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án. Việc xử lý tài sản thực hiện theo thỏa thuận của các đương sự hoặc quyết định của Tòa án;- Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.Về thẩm quyền giải quyết:Theo quy định tại khoản 12 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy đinh của pháp luật về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết:           - Thẩm quyền theo cấp: Căn cứ quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định: Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này. - Thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bố luật Tố tụng dân sự 2015 thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:+ Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;+ Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này.+ Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.Như vậy, Chị H hoàn toàn có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án xác định rõ phần quyền sử dụng đất của bà B. Sau khi Tòa án ban hành bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án dân sự sẽ có căn cứ để xử lý, đấu giá phần tài sản đó nhằm hoàn trả tiền cho chị H.  Trên đây là tư vấn của Luật Phương Bình, Nếu mọi người có gì thắc mắc vui lòng liên hệ đến số điện thoại để được Ls tư vấn trực tiếp 0936 645 695  
  Trong thực tế, nhiều cha mẹ khi có điều kiện thường muốn mua nhà để con đứng tên. Tuy nhiên, nếu người con chưa đủ 18 tuổi thì việc đứng tên sổ đỏ có được pháp luật cho phép hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trước tiên cần xem xét quy định của Bộ luật Dân sự liên quan đến người thành niên và người chưa thành niên, cụ thể: "Điều 20. Người thành niên 1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. 2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này. Điều 21. Người chưa thành niên 1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. 2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. 3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. 4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý." Theo đó: - Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, được tự mình xác lập, thực hiện và quyết định đối với các giao dịch dân sự, bao gồm cả việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất và đứng tên sổ đỏ.  - Đối với người chưa thành niên, việc tham gia giao dịch dân sự bị hạn chế, cụ thể: -> Dưới 6 tuổi: mọi giao dịch do cha mẹ hoặc người giám hộ xác lập và thực hiện thay.  -> Từ đủ 6 đến dưới 15 tuổi: khi tham gia giao dịch phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các nhu cầu sinh hoạt thông thường.  -> Từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi: có thể tự mình xác lập giao dịch dân sự, nhưng đối với giao dịch liên quan đến bất động sản hoặc tài sản phải đăng ký thì vẫn phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Như vậy, có thể thấy người chưa thành niên vẫn có quyền sở hữu tài sản. Tuy nhiên, việc xác lập và thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của họ, đặc biệt là bất động sản, phải thông qua hoặc được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ. Bên cạnh đó, về nguyên tắc, pháp luật không cấm người chưa thành niên đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở (sổ đỏ). Căn cứ khoản 1 Điều 134 Luật Đất đai 2024: "Điều 134. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất 1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng gắn liền với đất theo mẫu thống nhất trong cả nước." Do đó, con chưa thành niên vẫn có thể đứng tên sổ đỏ nếu tài sản đó được xác lập hợp pháp cho con. Ví dụ: cha mẹ mua nhà nhưng xác định người nhận chuyển nhượng hoặc được tặng cho là con,... Tuy nhiên, do con chưa thành niên chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nên mọi thủ tục liên quan đến việc mua bán, tặng cho, đăng ký sang tên đều phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện hoặc đồng ý. Trên thực tế, khi làm thủ tục cấp sổ đỏ đứng tên người chưa thành niên, cơ quan đăng ký đất đai sẽ yêu cầu thông tin về người đại diện theo pháp luật để ghi nhận việc quản lý, thực hiện quyền liên quan đến tài sản đó. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
  Chuyển khoản nhầm là tình huống khá phổ biến hiện nay. Khi nhận được tiền không phải của mình, người nhận cần xử lý như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ Điều 579 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ hoàn trả tài sản không có căn cứ pháp luật như sau: "Điều 579. Nghĩa vụ hoàn trả 1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này. 2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này." Như vậy, bất kỳ ai đang giữ hoặc được hưởng lợi từ tài sản mà không có căn cứ pháp luật thì đều phải hoàn trả. Trong trường hợp chuyển khoản nhầm, người nhận không có cơ sở pháp lý để giữ số tiền đó (VD: không có hợp đồng, không có giao dịch hợp lệ,...). Vì vậy, trong trường hợp này, người nhận có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ số tiền đã nhận cho chủ sở hữu hợp pháp. Trách nhiệm pháp lý khi không trả lại tiền đã nhận do chuyển khoản nhầm (1) Trách nhiệm dân sự Trước hết, người nhận tiền có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận nhầm cho người chuyển. Bên cạnh đó, người nhận còn phải hoàn trả cả phần lợi ích phát sinh (nếu có) từ số tiền đã nhận. Ví dụ, nếu số tiền này được gửi tiết kiệm, đầu tư sinh lãi hoặc mang lại bất kỳ khoản lợi nào khác, thì phần lợi ích đó cũng phải được hoàn trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Trong trường hợp việc chậm trả hoặc cố tình không trả tiền gây ra thiệt hại thực tế cho người bị chuyển nhầm, thì người nhận tiền có thể phải bồi thường thiệt hại. Nếu người nhận cố tình không hoàn trả, người bị chuyển nhầm có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. (2) Trách nhiệm hành chính Trường hợp cá nhân nhận được tiền do chuyển khoản nhầm nhưng không hoàn trả chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì vẫn có thể bị xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể, hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP: "Điều 18. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác ... 2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: ... đ) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc sử dụng, mua, bán, thế chấp, cầm cố trái phép tài sản của người khác; ..." Ngoài hình thức xử phạt chính là phạt tiền, người vi phạm còn có thể phải chịu các hình thức xử phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm. - Biện pháp khắc phục hậu quả: + Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; + Buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép đối với hành vi vi phạm. Mức phạt trên áp dụng với cá nhân vi phạm, nếu tổ chức có hành vi vi phạm tương tự thì phạt gấp đôi. (3) Trách nhiệm hình sự Trường hợp người nhận tiền nhầm cố tình không trả sau khi đã được chủ sở hữu hoặc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, mà đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) như sau: "Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản 1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. 2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm." Lưu ý: - Nếu bạn là người nhận nhầm: Nên chủ động liên hệ ngân hàng để yêu cầu hoàn trả ngay. Ngoài ra, hiện nay tình trạng lợi dụng việc chuyển khoản nhầm để lừa đảo xảy ra khá phổ biến, do vậy nếu không chắc chắn các thông tin của chủ sở hữu hoặc nghi ngờ bị lừa đảo thì cần trình báo ngay cho cơ quan công an. - Nếu bạn là người chuyển nhầm: Nên chủ động liên hệ ngân hàng để tra soát giao dịch và gửi văn bản yêu cầu người nhận hoàn trả (qua ngân hàng hoặc trực tiếp cho người nhận). Nếu người nhận không hợp tác có thể trình báo công an hoặc khởi kiện dân sự Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thực tiễn phân chia di sản thừa kế, một vấn đề thường gây tranh cãi là liệu trẻ sơ sinh – đặc biệt là những bé chưa chào đời tại thời điểm mở thừa kế – có được quyền hưởng di sản hay không. Quy định pháp luật hiện hành đã có những nguyên tắc rõ ràng về quyền thừa kế của trẻ sơ sinh, nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của các đối tượng yếu thế trong xã hội. 1. Trẻ sơ sinh có quyền thừa kế không? Căn cứ theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế như sau: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Theo đó, người thừa kế theo quy định của pháp luật là người đang sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Cho nên trẻ sơ sinh cũng thuộc đối tượng có quyền thừa kế theo quy định pháp luật. 2. Nếu chia di sản thừa kế theo pháp luật thì phần di sản của trẻ sơ sinh nhận được có bằng người khác? Căn cứ theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau: 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. 3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Theo đó, nếu trẻ sơ sinh thuộc hàng thừa kế được nhận di sản thì sẽ được nhận phần di sản bằng với những người ở cùng hàng thừa kế. Ngoài ra, do trẻ sơ sinh vẫn chưa đủ năng lực hành vi dân sự nên phần di sản mà trẻ sơ sinh được hưởng sẽ do người giám hộ quản lý cho đến khi trẻ sơ sinh thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Trong thực tế, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng vay tiền diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ thời hiệu khởi kiện để đòi lại số tiền đã cho vay. Việc hiểu đúng quy định về thời hiệu sẽ giúp người cho vay bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình một cách hiệu quả. Bài viết dưới đây sẽ trình bày chi tiết về vấn đề trên: 1. Hợp đồng vay tiền là gì? Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản (tiền) như sau: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Theo đó, việc các bên cam kết và tham gia vào hợp đồng vay tài sản không chỉ thông qua hình thức bằng văn bản mà còn có thể bằng một số hình thức khác như lời nói… Tuy nhiên, đối với hợp đồng vay tiền thì pháp luật dân sự bắt buộc phải lập thành văn bản. Trong trường hợp đã xác lập một hợp đồng vay tiền nhưng thông qua hình thức tin nhắn, hoặc bằng lời nói thì những tin nhắn, lời nói trao đổi giữa hai bên vẫn có giá trị về mặt pháp lý. Quyền và nghĩa vụ của hai bên vẫn được đảm bảo và tuân theo quy định của pháp luật. 2. Thời hiệu khởi kiện đòi tiền cho vay 1) Thời hiệu đối với nợ gốc Căn cứ Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong các trường hợp sau: - Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản. - Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan quy định khác. - Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai. - Trường hợp khác do luật quy định. Như vậy đối với nợ gốc (yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu) thì sẽ không áp dụng thời hiệu. 2) Thời hiệu đối với lãi vay Căn cứ Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng như sau: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Theo đó đối với trường hợp khởi kiện đòi nợ, thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ và các bên không có thỏa thuận gia hạn thời hạn cho vay. Kể từ thời điểm bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bên cho vay được cho là có quyền, lợi ích bị xâm phạm và được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp đã đến thời hạn phải trả nợ nhưng chưa thanh toán theo đúng thỏa thuận thì Tòa án có thể buộc bên vay phải thanh toán nợ, lãi và bồi thường thiệt hại. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Khi một người thực hiện hành vi giả mạo chữ ký, giả giấy tờ, giả danh người khác để lập hợp đồng, thì không chỉ bị tuyên hợp đồng vô hiệu theo Bộ luật Dân sự mà còn có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy theo mức độ nghiêm trọng và hậu quả của hành vi. Cụ thể: 1. Xử phạt hành chính Căn cứ: Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ – Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội. Các chế tài áp dụng: Phạt tiền: Người có hành vi làm giả giấy tờ, tài liệu, hợp đồng có thể bị phạt tiền lên đến 20.000.000 đồng, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy giấy tờ, hợp đồng, tài liệu giả mạo. Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu nếu có thể. Trường hợp giả mạo dẫn đến thiệt hại cho người khác, người vi phạm còn có thể bị buộc bồi thường dân sự. 2. Xử lý hình sự Nếu hành vi giả mạo có tính chất nghiêm trọng, gây hậu quả lớn hoặc có mục đích lừa đảo, trốn tránh nghĩa vụ pháp lý, thì người thực hiện có thể bị khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017): - Điều 174 – Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Nếu người giả mạo hợp đồng để chiếm đoạt tài sản của người khác (ví dụ: làm hợp đồng chuyển nhượng đất giả để bán cho người khác). Hình phạt: Có thể phạt tù đến chung thân, nếu chiếm đoạt số tiền lớn hoặc có tổ chức. - Điều 341 – Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chứcLàm giả hoặc sử dụng giấy tờ, tài liệu giả (ví dụ: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng giả công chứng...).Hình phạt: Phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm tùy mức độ và số lượng. - Điều 339 – Tội giả mạo chức vụ, chức danh, vị trí công tác: Khi người vi phạm giả danh cán bộ, công chức, công chứng viên để ký hợp đồng, thực hiện hành vi trái pháp luật. Hình phạt: Phạt tù đến 3 năm hoặc phạt cải tạo không giam giữ.   Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Trong thực tiễn đời sống, việc phân chia di sản thừa kế là một nội dung pháp lý quan trọng, đặc biệt trong các trường hợp có nhiều người thuộc hàng thừa kế hoặc khi phát sinh tranh chấp. Hiểu đúng về thời điểm mở thừa kế và thời hiệu yêu cầu chia di sản là điều kiện cần thiết để cá nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Dưới đây là các quy định cơ bản cần lưu ý theo Bộ luật Dân sự năm 2015: 1. Thời điểm mở thừa kế Theo quy định tại Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Tại thời điểm này, quyền thừa kế của người thừa kế phát sinh một cách hợp pháp và đầy đủ theo quy định pháp luật. Ngoài trường hợp người để lại di sản chết rõ ràng, pháp luật còn quy định các trường hợp đặc biệt, trong đó Tòa án tuyên bố một người đã chết để làm căn cứ xác định thời điểm mở thừa kế, cụ thể: Trường hợp người bị tuyên bố mất tích: Nếu một người bị Tòa án tuyên bố mất tích và sau 03 năm kể từ ngày quyết định có hiệu lực mà vẫn không có tin tức xác thực về việc còn sống, thời điểm mở thừa kế là ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực. Trường hợp biệt tích trong chiến tranh: Nếu một người biệt tích trong chiến tranh và sau 05 năm kể từ khi chiến tranh kết thúc mà không có tin tức xác thực về việc còn sống, thời điểm mở thừa kế là ngày chiến tranh kết thúc. Trường hợp mất tích do tai nạn hoặc thiên tai: Nếu một người bị mất tích do tai nạn hoặc thiên tai và sau 02 năm kể từ khi sự kiện kết thúc mà không có tin tức xác thực, thì thời điểm mở thừa kế là ngày sự kiện đó kết thúc, trừ khi có quy định khác của pháp luật. Trường hợp biệt tích 05 năm liên tiếp: Nếu một người biệt tích liên tục trong 05 năm mà không có tin tức xác thực về việc còn sống, thì thời điểm mở thừa kế cũng được xác định theo quy định tương tự. Việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết quyền và nghĩa vụ tài sản, bảo đảm tính hợp pháp, minh bạch và ổn định trong phân chia di sản. 2. Thời hiệu thừa kế Căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu được xác định như sau: Đối với bất động sản: Thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế. Bất động sản bao gồm nhà ở, đất đai, công trình xây dựng gắn liền với đất. Sau thời hạn này, nếu người thừa kế không thực hiện quyền yêu cầu chia di sản thì sẽ mất quyền khởi kiện đối với phần di sản là bất động sản. Đối với động sản: Thời hiệu yêu cầu chia di sản là 10 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế. Động sản là tài sản không gắn liền với đất như tiền, phương tiện, máy móc, trang sức... Sau thời hạn này, quyền yêu cầu chia di sản đối với phần tài sản này không còn hiệu lực. Việc thực hiện quyền thừa kế đúng thời hiệu là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ lợi ích hợp pháp của người thừa kế, đồng thời góp phần hạn chế tranh chấp và đảm bảo trật tự trong quan hệ dân sự. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Thừa kế tài sản là một quyền nhân thân quan trọng được pháp luật dân sự ghi nhận và bảo vệ. Khi một người qua đời, toàn bộ tài sản của họ sẽ được chuyển giao cho những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trong thực tế, con cái thường được xem là đối tượng ưu tiên trong việc nhận thừa kế từ cha mẹ. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người con đều được hưởng di sản của cha mẹ để lại. Pháp luật hiện hành đã quy định rõ ràng các trường hợp mà quyền thừa kế có thể bị tước bỏ hoặc không phát sinh. 1. Khái quát về quyền thừa kế theo quy định pháp luật Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự nhằm điều chỉnh việc chuyển quyền sở hữu tài sản từ người đã mất cho người còn sống. Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết; có quyền để lại di sản cho người thừa kế theo pháp luật; đồng thời, cũng có quyền được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.. Quy định này thể hiện nguyên tắc tôn trọng ý chí của cá nhân trong việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, con cái đều mặc nhiên được hưởng di sản của cha mẹ. Pháp luật hiện hành đã có những quy định cụ thể nhằm loại trừ quyền thừa kế đối với những trường hợp không đủ điều kiện hoặc vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội. 2. Các trường hợp con không được hưởng thừa kế từ cha mẹ Căn cứ các quy định hiện hành của Bộ luật Dân sự năm 2015, các trường hợp sau đây sẽ dẫn đến việc con không được hưởng thừa kế tài sản, bao gồm cả nhà đất và các loại tài sản khác của cha mẹ để lại: 2.1. Con không còn sống vào thời điểm mở thừa kế Theo Điều 613 Bộ luật Dân sự, người thừa kế là cá nhân chỉ được xác định là hợp pháp nếu còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và còn sống sau khi sinh ra. Như vậy, nếu người con đã qua đời trước thời điểm cha hoặc mẹ mất hoặc chưa thành thai vào thời điểm mở thừa kế thì không được xem là người thừa kế và đương nhiên không được hưởng di sản. 2.2. Con thuộc nhóm người không có quyền hưởng di sản  Có 04 trường hợp cụ thể theo Điều 621 Bộ luật Dân sự mà người thừa kế sẽ không được hưởng di sản nếu có các hành vi sau: Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc có hành vi ngược đãi nghiêm trọng đối với người để lại di sản; xâm phạm danh dự, nhân phẩm của họ. Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản khi họ còn sống. Có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác để chiếm đoạt phần di sản. Có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản việc lập di chúc; giả mạo, sửa chữa, hủy, che giấu di chúc nhằm hưởng di sản trái với ý chí của người lập di chúc. Tuy nhiên, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc thì họ được hưởng di sản.  2.3. Con không được chỉ định trong di chúc Trường hợp cha mẹ có lập di chúc hợp pháp, nhưng không ghi tên con trong nội dung di chúc (con đã thành niên và có khả năng lao động) thì người con đó không có quyền thừa kế theo di chúc. Theo quy định chung, di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân, do đó chỉ những người được chỉ định cụ thể trong di chúc mới được hưởng di sản. Nếu không có di chúc, việc phân chia di sản sẽ tuân theo quy định tại các Điều 650 và 651 Bộ luật Dân sự về thừa kế theo pháp luật. 2.4. Con bị truất quyền thừa kế Điều 626 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho phép người lập di chúc có quyền truất quyền hưởng di sản của bất kỳ người thừa kế nào, kể cả trong trường hợp người đó đủ điều kiện theo pháp luật. Việc truất quyền phải được thể hiện rõ ràng trong nội dung di chúc. Khi bị truất quyền, người con sẽ không được hưởng bất kỳ phần di sản nào, trừ trường hợp di chúc có quy định khác hoặc việc truất quyền bị tuyên là không hợp pháp bởi cơ quan có thẩm quyền. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Ngày 26/06/2025, Quốc hội đã thông qua Dự thảo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, Luật chính thức có hiệu lực thi thành từ ngày 01/01/2026. Luật đã bổ sung thêm những quy định rất nghiêm ngặt đối với việc chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài. Đây là một bước tiến lớn nhằm bảo vệ quyền riêng tư của công dân Việt Nam trong bối cảnh dữ liệu số bùng nổ như hiện nay. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cụ thể liên quan đến vấn đề này: 1. Chuyển dữ liệu xuyên biên giới là gì? Chuyển dữ liệu xuyên biên giới có thể hiểu là hành vi tổ chức, cá nhân sử dụng các phương tiện điện tử để đưa dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam ra ngoài lãnh thổ Việt Nam. Ví dụ: Các công ty đa quốc gia lưu trữ dữ liệu khách hàng Việt Nam trên máy chủ đặt tại Singapore hoặc Mỹ; Các app/website có máy chủ ở nước ngoài nhưng thu thập dữ liệu người dùng Việt Nam 2. Quy định pháp luật mới về việc chuyển dữ liệu xuyên biên giới Luật đã sửa đổi định nghĩa “chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài” phù hợp với Luật Dữ liệu. Bên cạnh đó, cũng có sự sửa đổi “Bên chuyển Dữ liệu cá nhân ra nước ngoài” thành “Bên chuyển Dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam ra nước ngoài”. Việc sửa đổi định nghĩa và thuật ngữ trong Luật mới giúp tạo ra sự nhất quán trong hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề chuyển dữ liệu xuyên biên giới. Đồng thời, điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng hơn trong quá trình áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định về mức xử phạt vi phạm chuyển dữ liệu ra nước ngoài tại khoản 4, Điều 8, cụ thể mức phạt tối đa lên tới 5% doanh thu năm trước liền kề của tổ chức có hành vi vi phạm. Ngoài ra, có thể bị đình chỉ hoạt động có liên quan đến xử lý dữ liệu trong thời gian nhất định. Trong trường hợp tái phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 3. Doanh nghiệp cần làm gì? - Kiểm tra ngay các hợp đồng thuê máy chủ, phần mềm lưu trữ dữ liệu ở nước ngoài. - Đánh giá rủi ro bảo mật, quyền riêng tư khi sử dụng dịch vụ điện toán đám mây ngoài Việt Nam. - Chuẩn bị hồ sơ pháp lý đầy đủ để đăng ký chuyển dữ liệu với cơ quan nhà nước. - Tổ chức tập huấn nhân viên về tuân thủ luật mới. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695