LUẬT SƯ TRẢ LỜI

Trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp có quyền xây dựng chính sách giá, mở rộng mạng lưới phân phối và thu hút khách hàng. Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh không đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp được bắt tay với nhau để gây khó khăn, ngăn cản hoặc loại bỏ đối thủ khỏi thị trường. Đặc biệt, khi các doanh nghiệp đang cạnh tranh trên cùng thị trường cùng thống nhất không giao dịch với một doanh nghiệp khác, tác động của hành vi không chỉ dừng lại ở quan hệ thương mại giữa các bên mà có thể trở thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị pháp luật cấm. Tình huống:Trên thị trường phân phối một loại thiết bị điện, có 5 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó A, B và C là ba doanh nghiệp có thị phần lớn. Thời gian gần đây, D và E là hai doanh nghiệp mới gia nhập thị trường và bắt đầu cạnh tranh bằng cách đưa ra giá bán thấp hơn, tăng chiết khấu cho đại lý và mở rộng mạng lưới phân phối. Lo ngại D và E tiếp tục mở rộng thị phần, A, B và C đã bí mật thỏa thuận với nhau: + Không ký hợp đồng cung cấp hàng hóa cho các đại lý đang hợp tác với D và E;+ Cùng yêu cầu một số nhà cung cấp không bán hàng cho D và E;+ Nếu một đại lý tiếp tục nhập hàng của D hoặc E thì A, B và C sẽ ngừng cung cấp hàng cho đại lý đó; Vấn đề đặt ra: A, B và C có đang thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không? 1. Thế nào là thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường? - Theo Điều 20 trong Nghị định 116/2005/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Cạnh tranh năm 2004 tuy đã hết hiệu lực nhưng vẫn được xem là tài liệu tham khảo, nhấn mạnh những trường hợp cụ thể của các thỏa thuận nhằm loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận là:+ Cùng thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận + Cùng hành động MỘT trong CÁC hình thức quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 19 như sau: ++ Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ khách hàng của mình không mua, bán hàng hoá, không sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận; ++ Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ các nhà phân phối, các nhà bán lẻ đang giao dịch với mình phân biệt đối xử khi mua, bán hàng hóa của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận theo hướng gây khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp này; ++ Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể mở rộng thêm quy mô kinh doanh; ++ Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận phải rút lui khỏi thị trường liên quan. 2. Đây có phải là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm? - Trong tình huống trên, A, B và C đều là những doanh nghiệp trên cùng 1 thị trường liên quan (doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận) không cạnh tranh với nhau để loại bỏ D và E (doanh nghiệp không tham gia vào thỏa thuận) một cách độc lập mà đã cùng phối hợp và thống nhất hành động với các nội dung thỏa thuận nhằm loại bỏ khiến hai doanh nghiệp này không thể tiếp tục hoạt động bình thường. => Hành vi trên thuộc một trong các dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo khoản 6 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018: “Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận.” => Được xác định là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh BỊ CẤM quy định tại Khoản 2 Điều 12 Luật cạnh tranh 2018 cụ thể “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 11 của Luật này” => Không cần phải xét đến rằng việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này có gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường chỉ cần có hành vi cùng thỏa thuận loại bỏ thì đã là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. 3. Mức xử phạt? - Không chỉ bị cấm, hành vi này còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo Điểm e Khoản 1 Điều 6 Nghị định 75/2019/NĐ-CP, hành vi thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận của các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan có thể bị:+ Phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của từng doanh nghiệp là các bên tham gia thỏa thuận ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về ma túy, không ít trường hợp người bị bắt cho rằng mình chỉ nhận "giao hàng", "vận chuyển hộ" hoặc "cầm giúp" ma túy nên nếu bị xử lý thì chỉ có thể bị truy cứu về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Trong một số trường hợp, người trực tiếp vận chuyển ma túy vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm nếu đáp ứng các điều kiện luật định.Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào? Khi nào hành vi vận chuyển bị xem là tham gia vào hoạt động mua bán ma túy? Người không biết mình đang vận chuyển ma túy có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây. 1. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy ? Theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) - Tội vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi chuyển dịch trái phép chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào khi đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Hành vi vận chuyển có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như:+ Mang theo người;+ Cất giấu trong hành lý, túi xách hoặc phương tiện;+ Vận chuyển bằng xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy hoặc máy bay;+ Gửi qua dịch vụ vận chuyển hoặc các hình thức khác.Và không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác.- Hình phạt:+ Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: nếu thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này+ Tùy thuộc vào loại, khối lượng chất ma túy và các tình tiết định khung, mức hình phạt có thể lên đến tù chung thân. 2. Tội mua bán trái phép chất ma túy ? - Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy.+ Mua bán trái phép chất ma túy không chỉ giới hạn ở hành vi trực tiếp mua hoặc bán ma túy mà còn có thể bao gồm những hành vi tham gia vào quá trình mua bán nếu người thực hiện có sự thống nhất ý chí và cùng thực hiện hành vi phạm tội theo quy định về đồng phạm tại Điều 17 Bộ luật Hình sự. - Có thể bao gồm thuộc 1 trong các hành vi sau đây: ++ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;++ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);++ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;++ Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. - Hình phạt:+ Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt cơ bản của tội danh này là 03 năm đến 07 năm tù. + Đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình. 3. Khi nào người vận chuyển trái phép chất ma túy có thể bị truy cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy? - Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 quy định "đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm."- Nếu người vận chuyển biết rõ việc mình đang tham gia vào hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và có hành vi giúp sức hoặc cùng thực hiện việc mua bán thì tùy từng trường hợp, họ có thể bị TRUY CỨU TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.- Việc xác định người vận chuyển có phải là đồng phạm hay không sẽ căn cứ vào toàn bộ chứng cứ của vụ án, như:+ Có biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Có sự bàn bạc, thống nhất với các đối tượng khác hay không;+ Có tham gia giao nhận ma túy, giao nhận tiền hoặc hỗ trợ việc mua bán hay không;+ Có được hưởng lợi từ hoạt động mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Vai trò của người đó trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: một người biết rõ ma túy sẽ được giao cho khách mua, đồng ý nhận vận chuyển theo sự phân công của các đối tượng trong đường dây và thực hiện việc giao ma túy đúng theo kế hoạch đã thống nhất thì hành vi của người này có thể được xem xét với vai trò đồng phạm trong tội mua bán trái phép chất ma túy nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. 4. Nếu người vận chuyển không biết bên trong gói hàng là ma túy thì có phải chịu trách nhiệm hình sự không? - Theo nguyên tắc của pháp luật hình sự, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có yếu tố lỗi.=> Do đó, nếu một người thực sự không biết bên trong kiện hàng, vali hoặc gói đồ mà mình nhận vận chuyển là chất ma túy và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được điều đó thì không đủ căn cứ để xác định họ đã cố ý thực hiện tội phạm về ma túy. - Tuy nhiên, việc người vận chuyển có biết hay không biết không chỉ được xác định dựa trên lời khai mà sẽ được cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá thông qua toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ án, bao gồm:+ Mối quan hệ giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển;+ Cách thức giao nhận hàng hóa;+ Tiền công có bất thường hay không;+ Nội dung tin nhắn, cuộc gọi hoặc dữ liệu điện tử;+ Các chứng cứ khác chứng minh nhận thức và ý chí của người vận chuyển.=> Nếu các chứng cứ chứng minh người vận chuyển thực sự không biết mình đang vận chuyển ma túy thì họ có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định họ biết hoặc cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Sau khi ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là trách nhiệm của cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con nhằm bảo đảm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Tuy nhiên, trên thực tế, chi phí nuôi con có thể thay đổi theo thời gian do con lớn lên, học tập ở cấp học cao hơn, phát sinh chi phí khám chữa bệnh hoặc giá cả sinh hoạt tăng. Vậy trong trường hợp này, mức cấp dưỡng đã thỏa thuận hoặc đã được Tòa án quyết định có thể được thay đổi hay không? 1. Mức cấp dưỡng sau ly hôn được xác định như thế nào? - Theo Khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định mức cấp dưỡng được xác định căn cứ vào:+ Thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;+ Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.Cha, mẹ có thể tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng và thời điểm cấp dưỡng. Trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, mức cấp dưỡng không phải là một con số cố định cho mọi trường hợp mà được xác định dựa trên điều kiện thực tế của các bên tại thời điểm giải quyết. 2. Chi phí nuôi con tăng thì có được thay đổi mức cấp dưỡng không? - Theo Khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."- Như vậy, mức cấp dưỡng có thể thay đổi khi có lí do chính đáng ví dụ như: + Chi phí học tập của con tăng; + Con bị bệnh, cần điều trị hoặc chăm sóc y tế thường xuyên; + Giá cả hàng hóa, chi phí sinh hoạt tăng đáng kể khiến mức cấp dưỡng hiện tại không còn đáp ứng nhu cầu thiết yếu;+ Người trực tiếp nuôi con gặp khó khăn về kinh tế ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền lợi của con; ....=>Việc có được điều chỉnh mức cấp dưỡng hay không sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và các tài liệu, chứng cứ chứng minh sự thay đổi về nhu cầu của con hoặc khả năng thực tế của người cấp dưỡng. 3. Cần chuẩn bị những tài liệu gì khi yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng? - Để yêu cầu Tòa xem xét, người yêu cầu nên chuẩn bị các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình chẳng hạn:+ Bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án;+ Giấy khai sinh của con;+ Tài liệu chứng minh liên quan đến chi phí học tập, khám chữa bệnh, sinh hoạt của con hoặc các tài liệu khác chứng minh hoàn cảnh thực tế đã thay đổi;+ Tài liệu chứng minh thu nhập hoặc sự thay đổi về điều kiện kinh tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;+ Tài liệu chứng minh liên quan đến chi phí học tập, khám chữa bệnh, sinh hoạt của con hoặc các tài liệu khác chứng minh hoàn cảnh thực tế đã thay đổi. 4. Kết luận - Mức cấp dưỡng sau ly hôn không phải là cố định. Khi có lý do chính đáng, chẳng hạn chi phí nuôi con tăng hoặc khả năng tài chính của cha, mẹ thay đổi, các bên có quyền thỏa thuận điều chỉnh mức cấp dưỡng. Nếu không thể thống nhất, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định mức cấp dưỡng phù hợp nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của con. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chào Luật sư, tháng 5/2025 tôi có cho bạn là H vay số tiền 10.000.000 đồng khi vay thì hai bên có làm hợp đồng vay tiền, có chữ ký tên và ghi họ tên của H, không có ai chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có thời hạn trả nợ, không lãi suất. Đến tháng 01/2026, H đã trả lại đầy đủ số tiền này cho tôi. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026, H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và qua quá trình điều tra, xác minh xác định rằng số tiền H dùng để trả cho tôi là tiền do phạm tội mà có. Hiện nay, tôi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự nêu trên. Tôi hoàn toàn không biết và cũng không có căn cứ để biết số tiền H trả cho tôi là tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Vậy, xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết các quy định của pháp luật liên quan đến vụ án. Trả lời: Trong vụ việc trên, hành vi cho anh H vay số tiền 10.000.000 đồng là giao dịch dân sự được thể hiện qua hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hai bên đã thỏa thuận cho vay tài sản, Bên A đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng số lượng với số tiền 10.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nợ, tuy nhiên tháng 1/2026 anh H đã thanh toán khoản vay cho anh bên A số tiền 10.000.000 đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 1 Điều 466 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Như vây, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với giao dịch vay tài sản giữa bên A và anh H. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026 anh H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản, đối với số tiền anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A cũng được xác định là số tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của anh H. Anh A mong muốn được tư vấn 02 vấn đề sau: 1. Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi 1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. 2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Theo quy định, đối với hành vi của anh H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ quan chức năng sẽ điều tra, xác minh về các số tiền mà anh H đã lừa đảo để trả lại tài sản cho chủ ở hữu (bị hại). Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm trên đều phải được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, dù bạn nhận được tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không thể biết nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền, theo nguyên tắc, bạn sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để phục vụ trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để xem xét việc anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A trong trường hợp này có làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, việc anh H thanh toán khoản vay trên là hợp pháp và bên A cũng không biết được nguồn gốc số tiền trên thì không có căn cứ để cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ cho rằng số tiền anh H thanh toán khoản trên có nguồn gốc về hành vi phạm tội của anh H, như vậy số tiền 10.000.000 đồng sẽ được cơ quan chức năng thu hồi. Đối với việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi số tiền anh H đã thực hiện việc thanh toán khoản nợ với số tiền 10.000.000 đồng cho bên A, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên A. Căn cứ khoản 11 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ xác định bên A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bạn có quyền yêu cầu độc lập buộc anh H (bị cáo) hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bạn đã co anh H vay. Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:   “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù bạn là người cho vay hợp pháp và đã nhận lại tiền từ anh H, nhưng do số tiền này được xác định là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thu hồi nhằm trả lại cho người bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, việc nhận tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không có căn cứ để biết về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản không làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với bạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn cần chủ động thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay là có thật và hợp pháp, đồng thời gửi yêu cầu bồi thường thiệt hại đến Tòa án. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bản án sẽ buộc bị cáo có nghĩa vụ thanh toán lại khoản tiền tương ứng cho bạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Trong thời gian vừa qua, nhiều vụ việc thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng. Theo quy định của pháp luật, hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý liên quan: Theo khoản 1, Điều 8 Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2020 quy định về hóa đơn chứng từ, theo đó: Hóa đơn giá trị gia tăng được hiểu là hóa đơn giá trị gia tăng (hay còn gọi là hóa đơn đỏ, hóa đơn VAT) là chứng từ do người bán lập để ghi nhận giá trị hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp, phục vụ cho việc kê khai và nộp thuế GTGT. Hóa đơn GTGT được sử dụng bởi các tổ chức, cá nhân áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, áp dụng cho các hoạt động: - Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong nội địa. - Hoạt động vận tải quốc tế. - Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu. - Xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài. - Hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Như vậy, các giao dịch được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức khi có thu chi phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng để có dữ liệ cho cơ quan thuế quản lý. Tuy nhiên, nhiều chủ thể là cá nhân, tổ chức vì những mục đích khác nhau mà đã thực hiện hành vi mua hóa đơn giá trị gia tăng dù trên thực tế không phát sinh giao dịch. 1. Quy định các hành vi mua bán hóa đơn giá tăng Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS), Thông tư liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC quy định về việc hướng dẫn áp dụng một số Điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính và chứng khoán, như sau: - Căn cứ Khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC, quy định mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: “3. Các hành vi qui định tại Điều 164a của BLHS được hiểu như sau: a) In trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi tự in hóa đơn hoặc tự khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ điều kiện hoặc không đúng, không đầy đủ các nội dung theo qui định của pháp luật; In hóa đơn giả hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả; b) Phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi lập tờ thông báo phát hành không đầy đủ nội dung; không gửi hoặc không niêm yết tờ thông báo phát hành hóa đơn theo đúng qui định; c) Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: c.1) Mua, bán hoá đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác theo qui định; c.2) Mua, bán hoá đơn đã ghi nội dung, nhưng không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo; c.3) Mua, bán hoá đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn đã hết giá trị sử dụng, hóa đơn của cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc cấp cho khách hàng khi bán hàng hóa dịch vụ; c.4) Mua, bán, sử dụng hoá đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hoá, dịch vụ giữa các liên của hoá đơn.” Về chủ thể thực hiện các hành vi trên, bao gồm: Cá nhân bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc người của tổ chức kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; người của tổ chức nhận in hoặc đặt in hóa đơn; cá nhân hoặc người của tổ chức mua hàng hóa, dịch vụ. 2. Về hình thức xử lý hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng Căn cứ điều 203 Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định: “1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên; g) Tái phạm nguy hiểm. 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. 4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và g khoản 2 Điều này , thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng; c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.” Như vậy, từ quy định trên hành vi mua bán hóa đơn giá trị gia tăng cấu thành tội mua bán trái phép hóa đơn thì hành vi mua bán hóa đơn phải thuộc trong các trường hợp: Dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số; Hóa đơn, chứng từ ghi nội dung từ 10 số đến 30 số; Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng thì phạt tiền từ 50.000.000đ đến 200.000.000đ; hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Ngoài ra, trong phạm tội thuộc các trường hợp tại khoản 2 như: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng các điều kiện về số lượng, giá trị hoặc mức độ thiệt hại theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng, không chỉ gây thất thu ngân sách nhà nước mà còn làm méo mó môi trường kinh doanh. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Trong thời gian vừa qua, xôn sao trên mạng xã hội về hành vi đưa thịt lợn bệnh vào trường học. Vậy hành vi trên có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý liên quan: Theo quy định khoản 4 Điều 5 Luật an toàn thực phẩm 2010 quy định: “Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.” Theo đó hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc không rõ nguyên nhân để sản xuất thuộc hành vi bị cấm theo quy định. Đối với tình huống trên, hành vi đưa thịt lợn bệnh vào trường học vi phạm điều cấm của luật gây ảnh hưởng đến nhiều chủ thể trong đó là các em học sinh, mầm non. Đối với hành vi trên, mức xử lý vi phạm như sau: Căn cứ theo quy định khoản 1, 3 điều 6 Luật an toàn thực phẩm 2010 như sau: “1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật. …. 3. Mức phạt tiền đối với vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt được áp dụng không quá 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm; tiền thu được do vi phạm mà có bị tịch thu theo quy định của pháp luật.” Về hình thức xử phạt: 1. Về xử phạt vi phạm hành chính: Căn cứ khoản 3, 4, 5, 6, 7 Điều 4 Nghị 115/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm: “3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá dưới 10.000.000 đồng. 4. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm; b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 5. Phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 6. Hình thức xử phạt bổ sung: a) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với vi phạm quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này; b) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 tháng đến 12 tháng đối với vi phạm quy định tại khoản 5 Điều này; c) Tước quyền sử dụng Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm từ 20 tháng đến 24 tháng đối với sản phẩm thuộc diện đăng ký bản công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này. 7. Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc tiêu hủy nguyên liệu, thực phẩm vi phạm quy định tại Điều này; b) Buộc thu hồi bản tự công bố sản phẩm đối với sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này.” Như vậy, đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để sản xuất, chế biến thực phẩm tùy theo mức độ vi phạm, cũng như giá trị sản phẩm để xử phạt hành chính. Ngoài ra, còn áp dụng quy định về xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như sau: Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất từ 1 đến 3 tháng đối với việc sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm;Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đỉnh chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 đến 12 tháng đối với hành vi phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài biện pháp xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, còn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. 2. Về trách nhiệm hình sự Căn cứ điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau: “Ðiều 317. Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …..  b.  Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.” Đối chiếu với vụ việc “tuồn thịt lợn bệnh vào trường học”, có thể đưa ra ý kiến tư vấn như sau, về hành vi vi phạm, nếu cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện việc thu mua lợn chết do bệnh, dịch bệnh, sau đó giết mổ, chế biến và cung cấp vào bếp ăn trường học thì hành vi này thuộc trường hợp “sử dụng động vật chết do bệnh để chế biến thực phẩm”. Trường hợp các đơn vị cung cấp suất ăn hoặc thực phẩm cho nhà trường vẫn phân phối thịt lợn khi đã biết rõ nguồn gốc không đảm bảo an toàn thì thuộc hành vi “cung cấp, bán thực phẩm mà biết rõ có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh”. Về yếu tố lỗi, điều luật yêu cầu người thực hiện hành vi phải “biết rõ” nguồn gốc thực phẩm là từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh. Trong thực tiễn, yếu tố này có thể được chứng minh thông qua các tình tiết như: thu mua lợn bệnh với giá rẻ bất thường, không có giấy kiểm dịch, có hành vi che giấu nguồn gốc hoặc hợp thức hóa giấy tờ. Nếu chứng minh được yếu tố nhận thức này thì xác định là lỗi cố ý trực tiếp và đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi chỉ bị xử lý hình sự khi giá trị thực phẩm vi phạm từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, hoặc dưới mức này nhưng người vi phạm đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về cùng hành vi mà chưa được xóa án tích. Đối với bếp ăn trường học, đặc biệt là các trường có tổ chức ăn bán trú, giá trị thực phẩm cung cấp thường lớn, do đó trên thực tế rất dễ vượt ngưỡng định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp, hành vi nêu trên không chỉ xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm mà còn trực tiếp đe dọa đến sức khỏe cộng đồng, trong đó đối tượng bị ảnh hưởng là học sinh – nhóm người chưa phát triển về thể chất và có sức đề kháng yếu. Đây là yếu tố làm gia tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, có thể được xem xét khi lượng hình hoặc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị áp dụng mức hình phạt theo khoản 1 Điều 317, bao gồm phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Trường hợp hành vi gây hậu quả nghiêm trọng như ngộ độc thực phẩm hàng loạt, ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều học sinh thì có thể bị áp dụng các khung hình phạt nặng hơn theo các khoản tiếp theo của điều luật. Căn cứ khoản 2 Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Làm chết người; c) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; h) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” Với vụ việc trên, hiện nay cơ quan điều tra vẫn đang điều tra, xác minh làm rõ về hành vi sai phạm. Tuy nhiên, đánh giá khách quan về vụ việc tuồn thịt lợn bệnh vào trường học thì không chỉ dừng lại ở khoản 1 nêu trên mà có căn cứ chứng minh sẽ áp dụng khoản 2 Điều 317 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 với khung hình phạt từ 3 năm đến 7 năm tù để xử lý và giải quyết.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Theo quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ quân sự, các hành vi trốn tránh thực hiện quyết định gọi nhập ngũ đều bị xử lý nghiêm để đảm bảo tính công bằng và tuân thủ pháp luật. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nội dung này: Vào ngày 05/08/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 218 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng và cơ yếu. Nghị định này quy định cụ thể về việc xử phạt công dân Việt Nam có hành vi gian dối nhằm trốn tránh quyết định gọi nhập ngũ, bao gồm các mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm liên quan. Căn cứ theo khoản 2 Điều 10 Nghị định 218/2025/NĐ-CP quy định: 2. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Cản trở công dân thực hiện quyết định gọi nhập ngũ; quyết định gọi thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân sau khi đã có kết quả khám tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự đủ điều kiện nhập ngũ, điều kiện thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân theo quy định, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; b) Gian dối nhằm trốn tránh thực hiện quyết định gọi nhập ngũ; quyết định gọi thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân sau khi đã có kết quả khám tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự đủ điều kiện nhập ngũ, đủ điều kiện thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân theo quy định. 3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với hành vi không chấp hành quyết định gọi nhập ngũ; quyết định gọi thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. 4. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự; nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân đối với người có hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Chính phủ ban hành Nghị định 168/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2025 quy định về đăng ký doanh nghiệp. Trong đó, quy định về việc ủy quyền đăng ký doanh nghiệp phải xác thực điện tử, cụ thể:  Căn cứ theo Điều 12 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định về ủy quyền đăng ký doanh nghiệp như sau: Điều 12. Ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp Người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định sau đây: 1. Trường hợp ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, kèm theo hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có văn bản ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp. Văn bản ủy quyền này không bắt buộc phải công chứng, chứng thực. 2. Trường hợp ủy quyền cho tổ chức thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, kèm theo hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có bản sao hợp đồng ủy quyền cho tổ chức thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp, giấy giới thiệu hoặc văn bản phân công nhiệm vụ của tổ chức đó cho cá nhân trực tiếp thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp. 3. Trường hợp ủy quyền cho đơn vị cung cấp dịch vụ bưu chính công ích thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, nhân viên bưu chính phải nộp bản sao phiếu gửi hồ sơ theo mẫu do doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích phát hành có chữ ký xác nhận của nhân viên bưu chính và người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp. 4. Trường hợp ủy quyền cho đơn vị cung cấp dịch vụ bưu chính không phải là bưu chính công ích thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì việc ủy quyền thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này. 5. Người ủy quyền và người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của việc ủy quyền. Người ủy quyền và người được ủy quyền phải xác thực điện tử để được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Nghị định này. Trường hợp chưa có tài khoản định danh điện tử để thực hiện xác thực điện tử thì hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải kèm theo bản sao thẻ Căn cước hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ chiếu nước ngoài hoặc các giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực của người ủy quyền. Như vậy, người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Theo quy định, người ủy quyền và người được ủy quyền phải xác thực điện tử để được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Nghị định 168/2025/NĐ-CP. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.  
Chính phủ ban hành Nghị định 76/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 sửa đổi Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Bài viết dưới đây sẽ trình bày rõ về nội dung quy định trên:  Mức chuẩn trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội từ 01/7/2024 - Mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức trợ cấp nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội và các mức trợ giúp xã hội khác. - Mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 01/7/2024 là 500.000 đồng/tháng. Tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng bảo trợ xã hội, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho phù hợp; bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác. - Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định: + Mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định này; + Đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách trợ giúp xã hội. Như vậy, từ ngày 01/7/2024 mức chuẩn trợ giúp xã hội sẽ tăng từ 360.000 đồng lên 500.000 đồng.  (Điều 4 Nghị định 20/2021/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 76/2024/NĐ-CP) Mức trợ cấp xã hội hằng tháng đối với các đối tượng bảo trợ xã hội từ 01/7/2024 Theo đó, khi tăng mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng lên 500.000 đồng/tháng thì mức trợ cấp xã hội hàng tháng cũng có sự thay đổi như sau:    Điều 6. Mức trợ cấp xã hội hàng tháng 1. Đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này được trợ cấp xã hội hàng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại Điều 4 Nghị định này nhân với hệ số tương ứng quy định như sau: a) Đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này: - Hệ số 2,5 đối với trường hợp dưới 4 tuổi; - Hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 4 tuổi trở lên. b) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này. c) Đối với đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này: - Hệ số 2,5 đối với đối tượng dưới 4 tuổi; - Hệ số 2,0 đối với đối tượng từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi. d) Đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này: Hệ số 1,0 đối với mỗi một con đang nuôi. đ) Đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị định này: - Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 60 tuổi đến 80 tuổi; - Hệ số 2,0 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 80 tuổi trở lên; - Hệ số 1,0 đối với đối tượng quy định tại các điểm b và c khoản 5; - Hệ số 3,0 đối với đối tượng quy định tại điểm d khoản 5. e) Đối với đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 Nghị định này: - Hệ số 2,0 đối với người khuyết tật đặc biệt nặng; - Hệ số 2,5 đối với trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng; - Hệ số 1,5 đối với người khuyết tật nặng; - Hệ số 2,0 đối với trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng. g) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại các khoản 7 và 8 Điều 5 Nghị định này. 2. Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức theo các hệ số khác nhau quy định tại khoản 1 Điều này hoặc tại các văn bản khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất. Riêng người đơn thân nghèo đang nuôi con là đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 5 Nghị định này thì được hưởng cả chế độ đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 và chế độ đối với đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 5 Nghị định này. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.  
Chính phủ ban hành Nghị định số 207/2025/NĐ-CP ngày 15/7/2025 quy định về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Cụ thể:  Nghị định này quy định về việc hiến, nhận, sử dụng, lưu giữ, gửi tinh trùng, noãn, phôi; sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; điều kiện, hồ sơ, thủ tục, thẩm quyền cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Nghị định quy định, việc thực hiện hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải tuân theo nguyên tắc chỉ được hiến tại một cơ sở được phép lưu giữ tinh trùng, lưu giữ noãn, lưu giữ phôi. Tinh trùng, noãn, phôi hiến chỉ được sử dụng cho một phụ nữ hoặc một cặp vợ chồng để sinh con. Việc hiến và nhận tinh trùng, hiến và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người hiến và người nhận.  Chỉ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đối với các cặp vợ chồng vô sinh hoặc có chỉ định về y tế và phụ nữ độc thân có nguyện vọng.  Vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ, trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được đảm bảo an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.   Điều kiện của cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Điều 12 Nghị định quy định rõ điều kiện của cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Có ít nhất 02 năm kinh nghiệm thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, trong đó 02 năm gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ phải thực hiện được tối thiểu là 500 chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm mỗi năm.  Có người tư vấn về y tế là bác sĩ chuyên khoa phụ sản, người tư vấn về tâm lý có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên hoặc bác sĩ có chứng chỉ đào tạo về lĩnh vực tâm lý, người tư vấn về pháp lý có trình độ cử nhân luật trở lên. Người tư vấn về y tế phải là nhân sự của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Người tư vấn về tâm lý, tư vấn pháp lý là nhân sự của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc là nhân sự hợp tác theo quy định của pháp luật.   Thẩm quyền cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Hồ sơ, thủ tục đề nghị cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thực hiện theo hồ sơ, thủ tục điều chỉnh giấy phép hoạt động của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh, trong đó phải bao gồm các tài liệu chứng minh đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 12 Nghị định này.  Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định việc cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.   Hồ sơ, thủ tục đề nghị mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Theo Nghị định, cặp vợ chồng vô sinh gửi hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật này, gồm: Đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này. Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ. Bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của bên mang thai hộ hoặc bên nhờ mang thai hộ hoặc giấy tờ tự chứng minh mối quan hệ thân thích cùng hàng của bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ theo quy định trên cơ sở các giấy tờ hộ tịch có liên quan có công chứng, chứng thực và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các giấy tờ. Giấy tờ chứng minh người mang thai hộ đã từng sinh con gồm một trong các giấy tờ sau: Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng sinh của con người mang thai hộ hoặc bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người mang thai hộ. Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình.   Sau khi nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải khám sức khỏe cho người mang thai hộ, cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ; xác nhận về việc người vợ bên nhờ mang thai hộ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; xác nhận khả năng mang thai hộ của người phụ nữ mang thai hộ.  Trường hợp người mang thai hộ và cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ đáp ứng đủ điều kiện sức khỏe để thực hiện việc mang thai hộ, cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thực hiện và xác nhận về việc tư vấn cho các bên về y tế, tâm lý (lợi ích và rủi ro có thể xảy ra trong quá trình mang thai hộ), pháp lý (quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật); thực hiện kỹ thuật mang thai hộ. Trường hợp người mang thai hộ và cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không đáp ứng đủ điều kiện sức khỏe để thực hiện việc mang thai hộ, trong thời hạn 10 ngày làm việc, cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.   Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025.   Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Thủ tục và hồ sơ xin cấp phép sử dụng tàu bay không người lái và phương tiện bay siêu nhẹ thực hiện theo mã thủ tục hành chính số 3.000132 do Bộ Quốc phòng quản lý cho đến khi Chính phủ ban hành Nghị định mới quy định về quản lý tàu bay không người lái và phương tiện bay khác. Bài viết dưới đây sẽ giải thích rõ về nội dung trên: a) Thủ tục xin cấp phép bay Cá nhân, tổ chức có nhu cầu cấp phép sử dụng tàu bay không người lái và phương tiện bay siêu nhẹ nộp hồ sơ chậm nhất 07 ngày làm việc, trước ngày dự kiến tổ chức thực hiện các chuyến bay, các tổ chức, cá nhân nộp đơn đề nghị cấp phép bay đến Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng (nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa Bộ Quốc phòng hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đến Cục Tác chiến, số 01 Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội hoặc nộp trực tuyến trên cổng dịch vụ công Bộ Quốc phòng). Trong thời hạn 05 ngày làm việc, Cục Tác chiến cấp phép tổ chức thực hiện các chuyến bay hoặc ra văn bản từ chối cấp phép bay (trong các trường hợp để đảm bảo an ninh, quốc phòng, an toàn hàng không và khi chưa cung cấp đầy đủ thông tin quy định trong đơn đề nghị cấp phép bay). Trường hợp có vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn trong quá trình nộp hồ sơ, đề nghị công dân/tổ chức liên hệ Cục Tác chiến qua số điện thoại 0987567606 để được hỗ trợ. b) Thành phần hồ sơ: - Đơn đề nghị cấp phép bay; - Ảnh chụp tàu bay, phương tiện bay (kích thước tối thiểu 18 x 24cm); - Bản thuyết minh kỹ thuật hàng không của tàu bay, phương tiện bay; - Giấy phép hoặc giấy ủy quyền hợp pháp cho phép tàu bay, phương tiện bay thực hiện cất, hạ cánh tại sân bay, khu vực trên mặt đất, mặt nước; - Các giấy tờ, tài liệu khác liên quan đến tàu bay, phương tiện bay. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Ngày 15/6/2025, Bộ Quốc phòng chính thức công bố khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác trong vùng trời Việt Nam. Theo đó, thực hiện Quyết định số 18/2020/QĐ-TTg ngày 10-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ về thiết lập khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ, ngày 30-5-2025, Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Quyết định số 18/2020/QĐ-TTg (Ban Chỉ đạo) đã ban hành Kế hoạch Công bố khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng. Cụ thể, từ ngày 15-6-2025, Bộ Quốc phòng công bố khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác trong vùng trời Việt Nam trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng tại địa chỉ http://cambay.mod.gov.vn; trang/cổng thông tin điện tử các địa phương sử dụng đường link trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng để công bố khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay trên phạm vi địa giới hành chính của mình. Việc công bố khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng nhằm cung cấp thông tin cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có hoạt động liên quan đến quản lý, khai thác, sử dụng tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác trong vùng trời Việt Nam (không áp dụng đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác sử dụng cho mục đích công vụ); phục vụ công tác quản lý, giám sát và kiểm tra đối chiếu thông tin khu vực bay. Cơ sở dữ liệu bản đồ khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay được quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước và được cập nhật theo chu kỳ 2 năm một lần hoặc cập nhật ngay khi có thay đổi (tập trung vào đối tượng là khu vực cảng hàng không, sân bay, khu vực quốc phòng, an ninh trọng yếu và các khu vực khác theo yêu cầu). Thủ tục cấp phép bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác có thể thực hiện trực tuyến thông qua Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính Bộ Quốc phòng tại địa chỉ https://dichvucong.mod.gov.vn/web/bo-quoc-phong/thu-tuc-hanh-chinh#/thu-tuc-hanh-chinh/5377 Chậm nhất 7 ngày làm việc, trước ngày dự kiến tổ chức thực hiện các chuyến bay, các tổ chức, cá nhân nộp đơn đề nghị cấp phép bay đến Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam (nộp trực tiếp tại Bộ phận Một cửa Bộ Quốc phòng hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đến Cục Tác chiến, số 1 Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội hoặc nộp trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công Bộ Quốc phòng). Cục Tác chiến cấp phép tổ chức thực hiện các chuyến bay; hoặc ra văn bản từ chối cấp phép bay (trong các trường hợp: Để đảm bảo an ninh, quốc phòng, an toàn hàng không và khi chưa cung cấp đầy đủ thông tin quy định trong đơn đề nghị cấp phép bay). Hồ sơ xin cấp phép bay bao gồm: đơn đề nghị cấp phép bay; ảnh chụp tàu bay, phương tiện bay (kích thước tối thiểu 18 x 24 cm); bản thuyết minh kỹ thuật hàng không của tàu bay, phương tiện bay; giấy phép hoặc giấy ủy quyền hợp pháp cho phép tàu bay, phương tiện bay thực hiện cất, hạ cánh tại sân bay, khu vực trên mặt đất, mặt nước; các giấy tờ, tài liệu khác liên quan đến tàu bay, phương tiện bay. Ban Chỉ đạo yêu cầu sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, hiệu quả giữa Bộ Quốc phòng và địa phương trong tổ chức công bố khu vực cấm bay, hạn chế bay; tổ chức thực hiện đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng; tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, Luật Tiếp cận thông tin và các văn bản hướng dẫn thi hành Quyết định số 18/2020/QĐ-TTg. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695