LUẬT SƯ TRẢ LỜI

1. Đất đồng sở hữu là gì? Đất đồng sở hữu là thửa đất có từ hai cá nhân hoặc tổ chức trở lên cùng có chung quyền sử dụng đất. Khi đủ điều kiện, Nhà nước sẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho từng người. Trường hợp các thành viên có yêu cầu thì sẽ cấp chung 01 Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện giữ.Theo quy định tại Điều 209 và Điều 210 Bộ luật Dân sự năm 2015, sở hữu chung được phân thành hai hình thức: sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.Thứ nhất, sở hữu chung theo phần. Đây là trường hợp quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định tương ứng với một phần quyền trong tài sản chung. Mỗi người có quyền, nghĩa vụ đối với phần quyền của mình, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.Thứ hai, sở hữu chung hợp nhất. Là hình thức sở hữu chung mà phần quyền sở hữu của từng chủ sở hữu không được xác định cụ thể đối với tài sản chung. Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia. Trong trường hợp này, các chủ sở hữu cùng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định riêng. Đối với trường hợp đất do nhiều người cùng đứng tên hoặc cùng có quyền sử dụng, việc quản lý, khai thác và định đoạt tài sản có thể được thực hiện theo thỏa thuận giữa các đồng sở hữu. Tuy nhiên, việc phân chia phần quyền sử dụng đất cần căn cứ vào hình thức sở hữu, thỏa thuận của các bên và điều kiện pháp luật về đất đai, chứ không mặc nhiên được chia theo ý chí riêng của từng người. 2. Ai là người được hưởng phần đất? •    Về sở hữu chung theo phần: Tỷ lệ phần quyền của từng chủ sở hữu được xác định rõ ràng đối với tài sản chung. Do đó, mỗi chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt đối với phần quyền sở hữu của mình, bao gồm việc để lại thừa kế theo di chúc hoặc chia thừa kế theo pháp luật. Ví dụ: Anh A và anh Bcùng góp tiền mua chung một thửa đất. Trong hồ sơ và Giấy chứng nhận xác định rõ tỷ lệ phần quyền: anh A nắm 60% và anh B nắm 40% quyền sử dụng đất. Anh A qua đời. Phần 60% quyền sử dụng đất của anh A là di sản thừa kế riêng của anh A. Anh A có quyền lập di chúc để lại 60% này cho con mình mà không cần anh B đồng ý. Nếu không có di chúc, phần 60% này sẽ được chia theo pháp luật cho các thừa kế thuộc hàng thừa kế của anh A.•    Về sở hữu chung hợp nhất: Phần quyền sở hữu của từng người không được xác định cụ thể đối với tài sản chung. Việc định đoạt tài sản này bắt buộc phải có sự thỏa thuận, đồng thuận của tất cả các chủ sở hữu chung (thể hiện qua chữ ký của toàn bộ các thành viên) hoặc theo quy định của pháp luật.Ví dụ: Dòng họ Nguyễn cùng nhau quản lý, sử dụng một thửa đất gắn liền với nhà thờ họ (từ đường) do tổ tiên để lại hoặc do các thành viên trong dòng họ đóng góp tạo lập. Đây là tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng dòng họ. Do phần quyền sử dụng đất không xác định theo tỷ lệ phần trăm cho từng người, thành viên trong dòng họ không thể yêu cầu phân chia mảnh đất nhà thờ họ để lấy phần riêng. Cá nhân thành viên cũng không được phép để lại thừa kế phần đất nhà thờ họ này cho con cháu riêng của mình, vì thửa đất được giữ gìn lâu dài để phục vụ nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng chung của cả dòng họ. 3. Đất chưa tách thửa hoặc có người tự ý định đoạt thì xử lý ra sao? Chia thừa kế khi đất chưa đủ điều kiện tách thửa. Khi mảnh đất di sản thừa kế không đáp ứng đủ điều kiện hoặc diện tích tối thiểu do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, kể cả trường hợp việc phân chia được xác định theo bản án hoặc quyết định của Tòa án, cơ quan đăng ký đất đai sẽ không thực hiện thủ tục tách thửa riêng. Trong tình huống này, các đồng thừa kế có thể thỏa thuận giải quyết theo một trong các phương án pháp lý phù hợp. Phương án thứ nhất là các thừa kế cùng làm thủ tục đăng ký biến động nhận thừa kế để cùng đứng tên đồng sở hữu, khi đó Giấy chứng nhận sẽ được cấp ghi nhận quyền sử dụng đất chung của các thành viên. Phương án thứ hai là các bên thỏa thuận giao toàn bộ thửa đất cho một người nhận di sản, và người đứng tên nhận đất sẽ thanh toán lại giá trị bằng tiền tương ứng với phần di sản được hưởng cho các đồng thừa kế còn lại theo quy định dân sự. Phương án thứ ba là các đồng thừa kế thống nhất cùng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho bên thứ ba rồi phân chia số tiền thu được theo tỷ lệ suất thừa kế. Cuối cùng, nếu người nhận thừa kế đã sở hữu sẵn một thửa đất nằm liền kề, họ có thể xin tách thửa đồng thời với việc hợp thửa vào mảnh đất liền kề đó.Một đồng sở hữu tự ý chuyển nhượng toàn bộ thửa đất. Quy định về định đoạt đất đồng sở hữu nhóm người có chung quyền sử dụng đất khi quyền sử dụng đất không phân chia được theo phần thì các thành viên phải cùng nhau thực hiện hoặc ủy quyền bằng văn bản cho người đại diện để thực hiện các giao dịch chuyển nhượng. Hậu quả của việc tự ý chuyển nhượng nếu một cá nhân tự ý ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất (hoặc phần quyền sử dụng đất của người khác) mà không có sự đồng ý hay chữ ký ủy quyền của các đồng sở hữu còn lại, hợp đồng chuyển nhượng này đã vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịchDo vi phạm điều kiện có hiệu lực, hợp đồng chuyển nhượng trái pháp luật này sẽ bị Tòa án tuyên vô hiệu, từ đó khôi phục lại tình trạng ban đầu và không làm dịch chuyển quyền sử dụng đất. Nhờ vậy, khối di sản thừa kế vẫn được bảo toàn trọn vẹn và người thừa kế hợp pháp hoàn toàn có quyền hưởng phần di sản của mình theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
     Hạn chế phân chia di sản thừa kế là gì? Những trường hợp nào di sản thừa kế bị hạn chế phân chia? Trên thực tế rất nhiều trường hợp người mất để lại tài sản duy nhất nhưng lại không viết di chúc, tài sản được chia theo pháp luật. Tuy nhiên tài sản đó lại là nơi ở duy nhất của vợ con vậy trường hợp này có phải phân chia di sản cho những người thừa kế khác không - VietLawyer sẽ giải đáp thắc mắc của bạn qua bài viết dưới đây. 1. Những trường hợp nào di sản thừa kế bị hạn chế phân chia?      Nguyên tắc chia thừa kế theo quy định pháp luật, người thừa kế có quyền yêu cầu chia di sản ngay tại thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, trong một số trường hợp sau, người thừa kế không có quyền yêu cầu phân chia di sản.      Căn cứ theo Điều 661 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về những trường hợp hạn chế phân chia di sản: Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia. Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.       Theo đó, nhằm tôn trọng ý chí các bên, bảo vệ quyền lợi của các bên yếu thế và sự đoàn kết trong gia đình, pháp luật hiện nay giới hạn việc yêu cầu phân chia di sản trong những trường hợp sau: + Theo ý chí của người lập di chúc + Theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế + Việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống.       Tuy nhiên, việc hạn chế này chỉ là tạm thời trong một khoảng thời gian. Trong thời gian này, người người thừa kế vẫn có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng, nhưng không có quyền yêu cầu chia di sản. 2. Trường hợp nhà do chồng chết để lại là chỗ ở duy nhất của vợ con, thì có phải phân chia di sản cho những người thừa kế khác không? Ngoài căn cứ Bộ luật Dân sự 2015, quy định về việc hạn chế phân chia di sản trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống còn được quy định tại Khoản 3 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau: ... 3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự. ...      Căn cứ Mục 4 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn về quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng theo Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình như sau: 4. Quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng (Điều 31) Ngoài việc quy định cụ thể về quyền thừa kế tài sản của nhau, quản lý tài sản khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết, khoản 3 Điều 31 còn quy định: "Trong trường hợp yêu cầu chia tài sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định; nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế". Khi áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 31 cần chú ý: a. Việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình là trong trường hợp người chết có để lại di sản, nhưng nếu đem di sản này chia cho những người thừa kế được hưởng thì vợ hoặc chồng còn sống và gia đình gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống như: không có chỗ ở, mất nguồn tư liệu sản xuất duy nhất... b. Khi thuộc trường hợp tại điểm a mục này thì Toà án cần giải thích cho người có yêu cầu chia di sản thừa kế biết là họ mới chỉ có quyền yêu cầu xác định phần di sản mà họ được hưởng và họ chỉ có quyền yêu cầu chia di sản sau một thời hạn nhất định, cụ thể là ba năm, nếu trong thời hạn này bên còn sống là vợ hoặc chồng của người đã chết chưa kết hôn với người khác. Nếu họ có yêu cầu xác định phần di sản mà họ được hưởng thì Toà án thụ lý để giải quyết. Trong trường hợp này, nếu họ không được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, miễn án phí thì họ phải nộp tiền tạm ứng án phí như đối với vụ án không có giá ngạch. c. Toà án thụ lý yêu cầu chia di sản thừa kế đối với trường hợp được nêu tại điểm a mục 4 này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: c.1. Hết thời hạn do Toà án xác định; c.2. Bên còn sống đã kết hôn với người khác. Trong trường hợp này, nếu đương sự không được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, miễn án phí thì họ phải nộp tiền tạm ứng án phí, nộp án phí như đối với vụ án có giá ngạch.      Như vậy, trường hợp người chồng để lại di sản là nơi cư trú duy nhất của vợ con. Nếu chia di sản mà gia đình không còn chỗ để ở, thì đây được xem là ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của những người đang sống.      Trường hợp này, bên vợ/chồng còn sống có thể yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự. 3. Thời hạn hạn chế phân chia di sản trong trường hợp chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình      Căn cứ quy định tại Điều 661 Bộ luật Dân sự 2015 thì thời hạn yêu cầu không phân chia di sản là không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.      Hết thời hạn 03 năm này mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.       Như vậy, việc hạn chế phân chia di sản trong trường hợp chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình, có thể kéo dài tối đa trong 06 năm.      Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer về vấn đề Những trường hợp nào di sản thừa kế bị hạn chế phân chia. Với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
 
hotline 0936 645 695