BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về ma túy, không ít trường hợp người bị bắt cho rằng mình chỉ nhận "giao hàng", "vận chuyển hộ" hoặc "cầm giúp" ma túy nên nếu bị xử lý thì chỉ có thể bị truy cứu về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Trong một số trường hợp, người trực tiếp vận chuyển ma túy vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm nếu đáp ứng các điều kiện luật định.Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào? Khi nào hành vi vận chuyển bị xem là tham gia vào hoạt động mua bán ma túy? Người không biết mình đang vận chuyển ma túy có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây. 1. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy ? Theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) - Tội vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi chuyển dịch trái phép chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào khi đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Hành vi vận chuyển có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như:+ Mang theo người;+ Cất giấu trong hành lý, túi xách hoặc phương tiện;+ Vận chuyển bằng xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy hoặc máy bay;+ Gửi qua dịch vụ vận chuyển hoặc các hình thức khác.Và không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác.- Hình phạt:+ Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: nếu thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này+ Tùy thuộc vào loại, khối lượng chất ma túy và các tình tiết định khung, mức hình phạt có thể lên đến tù chung thân. 2. Tội mua bán trái phép chất ma túy ? - Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy.+ Mua bán trái phép chất ma túy không chỉ giới hạn ở hành vi trực tiếp mua hoặc bán ma túy mà còn có thể bao gồm những hành vi tham gia vào quá trình mua bán nếu người thực hiện có sự thống nhất ý chí và cùng thực hiện hành vi phạm tội theo quy định về đồng phạm tại Điều 17 Bộ luật Hình sự. - Có thể bao gồm thuộc 1 trong các hành vi sau đây: ++ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;++ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);++ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;++ Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. - Hình phạt:+ Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt cơ bản của tội danh này là 03 năm đến 07 năm tù. + Đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình. 3. Khi nào người vận chuyển trái phép chất ma túy có thể bị truy cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy? - Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 quy định "đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm."- Nếu người vận chuyển biết rõ việc mình đang tham gia vào hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và có hành vi giúp sức hoặc cùng thực hiện việc mua bán thì tùy từng trường hợp, họ có thể bị TRUY CỨU TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.- Việc xác định người vận chuyển có phải là đồng phạm hay không sẽ căn cứ vào toàn bộ chứng cứ của vụ án, như:+ Có biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Có sự bàn bạc, thống nhất với các đối tượng khác hay không;+ Có tham gia giao nhận ma túy, giao nhận tiền hoặc hỗ trợ việc mua bán hay không;+ Có được hưởng lợi từ hoạt động mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Vai trò của người đó trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: một người biết rõ ma túy sẽ được giao cho khách mua, đồng ý nhận vận chuyển theo sự phân công của các đối tượng trong đường dây và thực hiện việc giao ma túy đúng theo kế hoạch đã thống nhất thì hành vi của người này có thể được xem xét với vai trò đồng phạm trong tội mua bán trái phép chất ma túy nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. 4. Nếu người vận chuyển không biết bên trong gói hàng là ma túy thì có phải chịu trách nhiệm hình sự không? - Theo nguyên tắc của pháp luật hình sự, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có yếu tố lỗi.=> Do đó, nếu một người thực sự không biết bên trong kiện hàng, vali hoặc gói đồ mà mình nhận vận chuyển là chất ma túy và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được điều đó thì không đủ căn cứ để xác định họ đã cố ý thực hiện tội phạm về ma túy. - Tuy nhiên, việc người vận chuyển có biết hay không biết không chỉ được xác định dựa trên lời khai mà sẽ được cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá thông qua toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ án, bao gồm:+ Mối quan hệ giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển;+ Cách thức giao nhận hàng hóa;+ Tiền công có bất thường hay không;+ Nội dung tin nhắn, cuộc gọi hoặc dữ liệu điện tử;+ Các chứng cứ khác chứng minh nhận thức và ý chí của người vận chuyển.=> Nếu các chứng cứ chứng minh người vận chuyển thực sự không biết mình đang vận chuyển ma túy thì họ có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định họ biết hoặc cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Tôi có người bạn đang chấp hành án phạt tù, hiện tại bạn tôi vẫn chưa có gia đình. Trước khi phạm tội bạn tôi có thửa đất và muốn bán. Tôi có thắc mắc bạn tôi có thực hiện được các thủ tục mua bán đất đai cho người khác hay không? Trả lời: Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Thi hành án Hình sự 2025 quy định về Nguyên tắc thi hành án án hình sự: “4. Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất, mức độ phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học vấn và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án.” Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;d) Trong thời hạn sử dụng đất;đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.Theo đó, pháp luật không cấm người đang chấp hành án phạt tù thực hiện thủ tục mua bán đất đai cho người khác nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024.Bên cạnh đó, theo điểm g khoản 1 Điều 23 Luật Thi hành án hình sự năm 2025, phạm nhân có quyền được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật. Do đó, hình phạt tù chỉ hạn chế quyền tự do thân thể, đi lại và cư trú của người bị kết án trong một thời gian nhất định, chứ không mặc nhiên tước bỏ các quyền dân sự, quyền sở hữu hoặc quyền định đoạt tài sản hợp pháp của họ. Vì vậy, nếu quyền sử dụng đất thuộc sở hữu hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù và thửa đất đáp ứng đầy đủ các điều kiện giao dịch theo Luật Đất đai như có Giấy chứng nhận, không có tranh chấp, còn thời hạn sử dụng, không bị kê biên, phong tỏa hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn thì người đó vẫn có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình.Tuy nhiên, do người đang chấp hành án phạt tù bị hạn chế quyền tự do và chịu sự quản lý của cơ sở giam giữ nên việc thực hiện giao dịch sẽ được tiến hành thông qua các phương thức phù hợp với quy định của pháp luật.Thứ nhất, phạm nhân có thể thực hiện công chứng trực tiếp tại trại giam. Căn cứ  điểm c khoản 2 Điều 46 Luật Công chứng năm 2024, việc công chứng  có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng nếu người yêu cầu công chứng thuộc các trường hợp “ Đang bị tạm giữ, tạm giam; đang thi hành án phạt tù; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;”Thứ hai, phạm nhân có thể lập hợp đồng ủy quyền được công chứng tại trại giam để ủy quyền cho người thân hoặc người được tin tưởng thay mặt mình thực hiện các thủ tục ký kết hợp đồng chuyển nhượng, nộp thuế và đăng ký sang tên quyền sử dụng đất.Tuy nhiên, nếu phạm nhân có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ nộp tiền theo bản án của Tòa án nhưng thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì giao dịch này có thể bị cơ quan có thẩm quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu để kê biên, xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Tình huống: Tình huống: Đầu năm 2021, do gặp khó khăn về tài chính nên anh T có vay của tôi 200.000.000 đồng để trang trải cuộc sống. Hai bên có lập giấy vay tiền, trong đó thỏa thuận rõ số tiền vay, lãi suất và thời hạn thanh toán là tháng 9/2025. Tuy nhiên, khi đến hạn, tôi nhiều lần liên hệ yêu cầu anh T trả nợ thì anh đều lấy lý do khất lần. Gần đây, tôi đến nhà để đòi tiền thì anh T không những từ chối thanh toán mà còn giật lấy và xé giấy vay tiền ngay trước mặt tôi, đồng thời cho rằng không còn giấy vay thì tôi sẽ không thể đòi được khoản tiền này. Xin hỏi, trong trường hợp anh T đã xé giấy vay tiền thì tôi còn có thể yêu cầu anh T trả 200.000.000 đồng đã cho vay hay không?Trả lời: Theo quy định định tại Điều 463 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.” Như vậy, nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ việc trả nợ khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chi trả lãi cho bên cho vay. Việc bên vay xé giấy vay sẽ không làm chấm dưt dứt hợp đồng vay trước đó và bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ cả gốc lẫn lãi cho bên vay. Trên thực tế khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, tòa án không chỉ căn cứ vào giấy vay tiền mà sẽ xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp. Do đó, mặc dù giấy vay tiền đã bị anh T xé bỏ nhưng nếu người cho vay vẫn có các chứng cứ khác chứng minh việc vay tiền thì vẫn có cơ sở để yêu cầu Tòa án buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Những chứng cứ này có thể bao gồm tin nhắn, email, nội dung trao đổi qua Zalo hoặc Messenger, ghi âm, ghi hình, sao kê chuyển khoản ngân hàng, biên nhận giao tiền, lời khai của người làm chứng hoặc hình ảnh camera ghi lại việc anh T xé giấy vay tiền. Đây đều là những nguồn chứng cứ hợp pháp mà Tòa án có thể xem xét khi giải quyết vụ án.Đối với trường hợp trên, việc anh T cố ý xé giấy vay tiền có dấu hiệu nhằm che giấu hoặc làm mất chứng cứ để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, người cho vay cần nhanh chóng thu thập và bảo quản toàn bộ các chứng cứ còn lại, tránh để dữ liệu điện tử bị xóa hoặc thất lạc. Đồng thời, người cho vay nên yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng để ghi nhận các tin nhắn, hình ảnh, dữ liệu điện tử hoặc việc anh T từ chối trả nợ.Như vậy, việc anh T xé giấy vay tiền không đồng nghĩa với việc khoản nợ bị xóa bỏ hay người cho vay mất quyền đòi nợ. Nếu có đủ căn cứ chứng minh giữa hai bên đã phát sinh quan hệ vay tài sản thì người cho vay hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh T thanh toán khoản nợ gốc 200.000.000 đồng, tiền lãi theo thỏa thuận và các khoản lãi chậm trả (nếu có) theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Việc thả rông trâu, bò, ngựa, chó,... hoặc các loại vật nuôi khác trên đường hoặc tại nơi công cộng không chỉ tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông mà còn có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Vậy khi thả rông vật nuôi gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông thì sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự theo quy định của pháp luật. Dưới đây là những phân tích về các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Vật nuôi bao gồm?  - Theo Khoản 5 Điều 2 Luật Chăn nuôi năm 2018 quy định "Vật nuôi bao gồm gia súc, gia cầm và động vật khác trong chăn nuôi." Các vật nuôi phổ biến gồm: trâu, bò, ngựa, dê, cừu, lợn, chó, mèo, gà, vịt...- Hiện nay, pháp luật chưa có quy định giải thích cụ thể về khái niệm thả rông vật nuôi. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là việc chủ sở hữu hoặc người đang quản lý để vật nuôi tự do đi lại mà không có người trong coi hoặc không áp dụng các biện pháp quản lý cần thiết, dẫn đến vật nuôi đi vào đường bộ, cản trở giao thông hoặc gây thiệt hại cho người tham gia giao thông.- Và theo Khoản 3 Điều 32 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: “Không được thả vật nuôi trên đường bộ”. Do đó, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có trách nhiệm quản lý, trong giữ vật nuôi của mình, không để vật nuôi tự do đi trên đường bộ làm ảnh hưởng, gây cản trở đến giao thông. 2.  Những trách nhiệm pháp lý có thể phải chịu ? Tùy theo hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang chiếm giữ, sử  vật nuôi có thể phải chịu một hoặc nhiều loại trách nhiệm sau đây: 2.1. Trách nhiệm dân sự - Nếu có thiệt hại xảy ra thì đây là trách nhiệm đầu tiên đối với chủ nuôi, người quản lý vật nuôi. Theo quy định tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: + Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Các khoản thiệt hại phải đền bù có thể bao gồm: +++ Thiệt hại về tài sản (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.+++ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; Thu nhập thực tế bị mất của người bị nạn; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị và cả khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. + Nếu vật nuôi đang được giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người chiếm hữu, sử dụng đó phải có trách nhiệm bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2.2. Trách nhiệm hành chính - Theo Điều 11 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định người điều khiển dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ có thể bị phạt hành chính như sau:+ Phạt tiền từ 150.000 đồng đến 250.000 đồng đối với hành vi để vật nuôi đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người, phương tiện đang tham gia giao thông;+ Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với hành vi dẫn dắt vật nuôi chạy theo khi đang điều khiển hoặc ngồi trên phương tiện giao thông đường bộ;+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển, dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo đi vào đường cao tốc. - Theo Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng: + Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi thả rông động vật nuôi ở nơi công cộng. 2.3. Trách nhiệm hình sự Trường hợp chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi do cẩu thả, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý vật nuôi, để vật nuôi chạy ra đường gây tai nạn làm chết người thì tùy tính chất, mức độ của hành vi và hậu quả xảy ra, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội vô ý làm chết người" theo quy định của Bộ luật Hình sự. + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 01 người;+ Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 02 người trở lên. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Trước khi kết hôn, anh A ký hợp đồng mua một căn nhà theo hình thức trả góp. Sau khi kết hôn, anh A vẫn là người trực tiếp thanh toán các khoản tiền trả góp. Do cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng có ý định ly hôn. Trong trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A hay tài sản chung của vợ chồng? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Theo quy định của pháp luật, thời diểm ký hợp đồng mua nhà trước khi kết hôn không phải là căn cứ duy nhất để xác định căn nhà trên là tài sản chung hay tài sản riêng. Đối với tình huống, tài sản là căn nhà mua theo hình thức trả góp do đó, cần phải xem xét thời điểm hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và khoản tiền dùng để thanh toán là của A hay của hai vợ chồng? Theo đó, nếu việc trả góp đã được anh A hoàn tát trước thời điểm đăng ký kết hôn thì căn nhà được hình thành hoàn toàn từ tài sản của anh A trước khi kết hôn. Trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, anh A phải có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán trước khi đăng ký kết hôn.Ngược lại, nếu việc trả góp vẫn tiếp tục sau khi hai bên đăng ký kết hôn thì cần xem xét đến số tiền dùng để thanh toán các khoản trả góp trong thời kỳ hôn nhân. Trường hợp dùng tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân… thì căn nhà trên được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 còn quy định, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được mặc nhiên xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, nghĩa vụ chứng minh căn nhà là tài sản riêng thuộc về người đưa ra yêu cầu xác định tài sản riêng. Nếu không chứng minh được, căn nhà sẽ được coi là tài sản chung theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Tình huống: Do mâu thuẫn vợ chồng, chị A bỏ nhà đi làm việc tại Bắc Ninh. Sau gần một năm sống ly thân nhưng chưa ly hôn, chị A quen người khác và thực hiện chung sống với người này như vợ chồng. Trong trường hợp này, việc chung sống với người khác như vợ chồng của chị A có vi phạm pháp luật không? Người vi phạm có thể bị xử lý theo những hình thức nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.Trả lời: Theo quy định, quan hệ hôn nhân của vợ chồng chỉ chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực của pháp luật. Việc hai vợ chồng mâu thuẫn, bỏ nhà đi làm xa hoặc ly thân (dù 1 hoặc nhiều năm) mà chưa ly hôn về mặt pháp lý, họ vẫn đang là vợ chồng. Do đó, việc chị tự ý chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi chế độ một vợ một chồng theo quy định của Pháp luật. Dưới đây là hình thức xử lý cụ thể đối với hành vi này như sau: 1.    Về hành chínhTheo quy định tại khoản 1 Điều 62 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi; phán sản doanh nghiệp, hợp tác xã: - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:• Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;• Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;• Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;• Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;• Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.2. Trách nhiệm hình sự Theo quy định của pháp luật hình sự, hành vi chung sống với người khác như vợ chồng khi chưa ly hôn có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. - Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:• Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;• Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:• Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;• Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.Kết luận: Việc sống ly thân hoặc bỏ nhà đi làm xa không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chỉ khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ vợ chồng mới chấm dứt. Vì vậy, nếu đang có vợ hoặc chồng mà đã chung sống với người khác như vợ chồng thì đây là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Trong thực tế kinh doanh, không ít trường hợp hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng các bên vẫn tiếp tục giao nhận hàng hóa như trước. Vậy khi phát sinh tranh chấp, liệu bên nhận hàng có phải tiếp tục thanh toán hay không? Căn cứ khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự 1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản." Đồng thời, Điều 24 Luật Thương mại 2005 cũng quy định: "Điều 24. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá 1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. 2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó." Như vậy, pháp luật hiện hành không bắt buộc mọi giao dịch mua bán đều phải được lập thành hợp đồng giấy có ký tên, đóng dấu thì mới có giá trị. Trong nhiều trường hợp, việc các bên tiếp tục thực hiện giao dịch trên thực tế vẫn có thể được xem là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồng. Ví dụ: Sau khi hợp đồng hết thời hạn hiệu lực nhưng bên bán vẫn tiếp tục giao hàng, bên mua vẫn nhận hàng, đối chiếu công nợ, thanh toán hoặc trao đổi qua email, tin nhắn về việc giao dịch thì những hành vi này có thể được xem là sự tiếp tục thực hiện quan hệ thương mại giữa các bên. Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án không chỉ căn cứ vào hợp đồng cũ mà còn xem xét toàn bộ quá trình giao dịch thực tế để xác định có phát sinh quyền và nghĩa vụ hay không?  Ngoài ra, pháp luật thương mại còn ghi nhận: "Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại." Đây là cách thức giao dịch được các bên lặp đi lặp lại trong thời gian dài và mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền, nghĩa vụ của nhau. Chẳng hạn, trước đây các bên thường thực hiện việc giao hàng trước, đối chiếu công nợ sau; hoặc đặt hàng qua email, xác nhận qua bảng kê mà không ký trực tiếp. Nếu phương thức này đã được duy trì ổn định trong quá trình hợp tác thì dù hợp đồng cũ đã hết hiệu lực, Tòa án vẫn có thể xem xét đây là căn cứ xác định quan hệ giao dịch tiếp tục tồn tại. Lưu ý: Để được công nhận trách nhiệm thanh toán, bên yêu cầu phải chứng minh được việc giao dịch thực tế vẫn tiếp tục diễn ra theo thông lệ trước đó. Nếu trước đây các bên có thỏa thuận hoặc duy trì thông lệ bắt buộc phải có xác nhận, chữ ký, đóng dấu trên bảng kê, biên bản hoặc chứng từ vận chuyển thì các tài liệu phát sinh sau khi hợp đồng hết hiệu lực cũng cần đáp ứng hình thức này hoặc có chứng cứ tương đương chứng minh bên còn lại đã chấp nhận giao dịch. Ngược lại, nếu chứng từ do một bên tự lập, không có xác nhận của bên còn lại và cũng không có căn cứ thể hiện việc tiếp tục thuê dịch vụ, nhận hàng hoặc thanh toán thì rất khó xác định trách nhiệm thanh toán phát sinh sau khi hợp đồng hết hiệu lực. Do đó, trong hoạt động thương mại, dù hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng các bên vẫn tiếp tục giao nhận hàng hóa hoặc thực hiện dịch vụ theo thông lệ cũ thì trách nhiệm thanh toán vẫn có thể phát sinh. Việc có được pháp luật công nhận hay không sẽ phụ thuộc vào hành vi thực tế của các bên và các chứng cứ chứng minh quá trình giao dịch liên tục sau khi hợp đồng hết hạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Chỉ với một chiếc điện thoại, bất kỳ ai cũng có thể quay video hoặc chụp ảnh và đăng tải lên mạng xã hội trong vài phút. Tuy nhiên, việc quay và đăng tải hình ảnh người khác không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách tùy ý. Vậy pháp luật hiện nay quy định thế nào về việc quay và đăng hình ảnh người khác? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ theo khoản 1 Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, cụ thể: "Điều 32. Bảo vệ dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng, hoạt động công cộng 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được ghi âm, ghi hình và xử lý dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng, hoạt động công cộng mà không cần có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân trong các trường hợp sau đây: a) Để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; b) Âm thanh, hình ảnh, các thông tin nhận dạng khác thu được từ các hoạt động công cộng bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể dữ liệu cá nhân; c) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật." Theo đó, trong một số trường hợp, cá nhân có thể ghi hình tại nơi công cộng mà không cần xin phép từng người xuất hiện trong video hoặc hình ảnh. Ví dụ: - Ghi hình tại sự kiện đông người; - Quay video tại hội nghị, chương trình biểu diễn; - Ghi lại hình ảnh phục vụ mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; - Camera an ninh ghi hình tại khu vực công cộng... Tuy nhiên, việc được phép ghi hình không đồng nghĩa với việc được sử dụng hình ảnh đó một cách tùy ý trên mạng xã hội. Khi đăng tải hình ảnh hoặc video của người khác lên Facebook, TikTok hay các nền tảng trực tuyến khác, người đăng tải vẫn phải bảo đảm không xâm phạm quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân xuất hiện trong nội dung đó. Theo Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, dù hình ảnh được ghi nhận tại nơi công cộng, thì việc ghi hình và sử dụng hình ảnh vẫn phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định, cụ thể: Có trách nhiệm thông báo hoặc bằng hình thức phù hợp khác để người bị ghi hình biết mình đang được ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; - Dữ liệu cá nhân thu được chỉ được sử dụng đúng mục đích xử lý, không được dùng vào mục đích trái pháp luật hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; - Có trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân thu thập được; - Không được xâm phạm quyền riêng tư của người khác; - Không được làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân xuất hiện trong hình ảnh, video; - Không được cắt ghép, xuyên tạc nội dung gây hiểu nhầm; - Không được sử dụng hình ảnh để công kích, bôi nhọ hoặc xúc phạm cá nhân... Như vậy, việc quay và đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hội tại nơi công cộng hoặc trong hoạt động công cộng là quyền của cá nhân, nhưng không đồng nghĩa được sử dụng hình ảnh một cách tùy ý. Việc đăng tải vẫn phải bảo đảm đúng mục đích, tôn trọng quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm và lợi ích hợp pháp của người khác. Nếu nội dung đăng tải mang tính xúc phạm, xuyên tạc hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực thì người đăng tải vẫn có thể bị xử lý theo quy định pháp luật. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Chào Luật sư, tháng 5/2025 tôi có cho bạn là H vay số tiền 10.000.000 đồng khi vay thì hai bên có làm hợp đồng vay tiền, có chữ ký tên và ghi họ tên của H, không có ai chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có thời hạn trả nợ, không lãi suất. Đến tháng 01/2026, H đã trả lại đầy đủ số tiền này cho tôi. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026, H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và qua quá trình điều tra, xác minh xác định rằng số tiền H dùng để trả cho tôi là tiền do phạm tội mà có. Hiện nay, tôi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự nêu trên. Tôi hoàn toàn không biết và cũng không có căn cứ để biết số tiền H trả cho tôi là tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Vậy, xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết các quy định của pháp luật liên quan đến vụ án. Trả lời: Trong vụ việc trên, hành vi cho anh H vay số tiền 10.000.000 đồng là giao dịch dân sự được thể hiện qua hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hai bên đã thỏa thuận cho vay tài sản, Bên A đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng số lượng với số tiền 10.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nợ, tuy nhiên tháng 1/2026 anh H đã thanh toán khoản vay cho anh bên A số tiền 10.000.000 đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 1 Điều 466 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Như vây, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với giao dịch vay tài sản giữa bên A và anh H. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026 anh H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản, đối với số tiền anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A cũng được xác định là số tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của anh H. Anh A mong muốn được tư vấn 02 vấn đề sau: 1. Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi 1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. 2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Theo quy định, đối với hành vi của anh H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ quan chức năng sẽ điều tra, xác minh về các số tiền mà anh H đã lừa đảo để trả lại tài sản cho chủ ở hữu (bị hại). Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm trên đều phải được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, dù bạn nhận được tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không thể biết nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền, theo nguyên tắc, bạn sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để phục vụ trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để xem xét việc anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A trong trường hợp này có làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, việc anh H thanh toán khoản vay trên là hợp pháp và bên A cũng không biết được nguồn gốc số tiền trên thì không có căn cứ để cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ cho rằng số tiền anh H thanh toán khoản trên có nguồn gốc về hành vi phạm tội của anh H, như vậy số tiền 10.000.000 đồng sẽ được cơ quan chức năng thu hồi. Đối với việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi số tiền anh H đã thực hiện việc thanh toán khoản nợ với số tiền 10.000.000 đồng cho bên A, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên A. Căn cứ khoản 11 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ xác định bên A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bạn có quyền yêu cầu độc lập buộc anh H (bị cáo) hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bạn đã co anh H vay. Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:   “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù bạn là người cho vay hợp pháp và đã nhận lại tiền từ anh H, nhưng do số tiền này được xác định là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thu hồi nhằm trả lại cho người bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, việc nhận tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không có căn cứ để biết về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản không làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với bạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn cần chủ động thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay là có thật và hợp pháp, đồng thời gửi yêu cầu bồi thường thiệt hại đến Tòa án. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bản án sẽ buộc bị cáo có nghĩa vụ thanh toán lại khoản tiền tương ứng cho bạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Thời gian gần đây, nhiều người lựa chọn mua vàng tại nước ngoài do mức giá có sự chênh lệch so với thị trường trong nước. Vậy cá nhân có được mua vàng ở nước ngoài rồi đem về Việt Nam hay không? Trường hợp nào bị cấm?  Căn cứ Điều 2 Thông tư 11/2014/TT-NHNN Căn cứ Điều 2 Thông tư 11/2014/TT-NHNN quy định về mang vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu: "Điều 2. Mang vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu 1. Cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu không được phép mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu. Trường hợp cá nhân nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu phải làm thủ tục gửi tại kho Hải quan để mang ra khi xuất cảnh hoặc làm thủ tục chuyển ra nước ngoài và phải chịu mọi chi phí liên quan phát sinh. 2. Cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu mang theo vàng trang sức, mỹ nghệ có tổng khối lượng từ 300g (ba trăm gam) trở lên phải khai báo với cơ quan Hải quan." Như vậy, cá nhân Việt Nam nhập cảnh không được phép mang theo vàng miếng vào Việt Nam. Do đó, trường hợp người Việt Nam đi nước ngoài rồi mua vàng miếng mang về Việt Nam thì hành vi này là không phù hợp với quy định pháp luật, dù số lượng nhiều hay ít. Lưu ý: Đối với vàng trang sức, mỹ nghệ, pháp luật vẫn cho phép mang theo khi nhập cảnh. Tuy nhiên, nếu tổng khối lượng từ 300 gam trở lên thì phải khai báo với cơ quan Hải quan theo quy định. Mang vàng miếng từ nước ngoài về Việt Nam sẽ bị xử lý như thế nào? Theo điểm b khoản 8 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, trường hợp nhập khẩu vàng miếng hoặc vàng nguyên liệu vào Việt Nam mà không có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì có thể bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 400 triệu đồng. Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị tịch thu toàn bộ số vàng mang theo trái quy định Lưu ý: Cần phân biệt rõ giữa vàng miếng và vàng trang sức. Pháp luật hiện nay không cho phép cá nhân tự ý mang vàng miếng từ nước ngoài vào Việt Nam thông qua hình thức xách tay thông thường. Do đó, trước khi mua vàng ở nước ngoài để mang về Việt Nam, người dân nên tìm hiểu kỹ quy định pháp luật nhằm tránh trường hợp bị xử phạt hành chính và tịch thu tài sản. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
  Chuyển khoản nhầm là tình huống khá phổ biến hiện nay. Khi nhận được tiền không phải của mình, người nhận cần xử lý như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ Điều 579 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ hoàn trả tài sản không có căn cứ pháp luật như sau: "Điều 579. Nghĩa vụ hoàn trả 1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này. 2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này." Như vậy, bất kỳ ai đang giữ hoặc được hưởng lợi từ tài sản mà không có căn cứ pháp luật thì đều phải hoàn trả. Trong trường hợp chuyển khoản nhầm, người nhận không có cơ sở pháp lý để giữ số tiền đó (VD: không có hợp đồng, không có giao dịch hợp lệ,...). Vì vậy, trong trường hợp này, người nhận có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ số tiền đã nhận cho chủ sở hữu hợp pháp. Trách nhiệm pháp lý khi không trả lại tiền đã nhận do chuyển khoản nhầm (1) Trách nhiệm dân sự Trước hết, người nhận tiền có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận nhầm cho người chuyển. Bên cạnh đó, người nhận còn phải hoàn trả cả phần lợi ích phát sinh (nếu có) từ số tiền đã nhận. Ví dụ, nếu số tiền này được gửi tiết kiệm, đầu tư sinh lãi hoặc mang lại bất kỳ khoản lợi nào khác, thì phần lợi ích đó cũng phải được hoàn trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Trong trường hợp việc chậm trả hoặc cố tình không trả tiền gây ra thiệt hại thực tế cho người bị chuyển nhầm, thì người nhận tiền có thể phải bồi thường thiệt hại. Nếu người nhận cố tình không hoàn trả, người bị chuyển nhầm có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. (2) Trách nhiệm hành chính Trường hợp cá nhân nhận được tiền do chuyển khoản nhầm nhưng không hoàn trả chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì vẫn có thể bị xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể, hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP: "Điều 18. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác ... 2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: ... đ) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc sử dụng, mua, bán, thế chấp, cầm cố trái phép tài sản của người khác; ..." Ngoài hình thức xử phạt chính là phạt tiền, người vi phạm còn có thể phải chịu các hình thức xử phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm. - Biện pháp khắc phục hậu quả: + Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; + Buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép đối với hành vi vi phạm. Mức phạt trên áp dụng với cá nhân vi phạm, nếu tổ chức có hành vi vi phạm tương tự thì phạt gấp đôi. (3) Trách nhiệm hình sự Trường hợp người nhận tiền nhầm cố tình không trả sau khi đã được chủ sở hữu hoặc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, mà đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) như sau: "Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản 1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. 2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm." Lưu ý: - Nếu bạn là người nhận nhầm: Nên chủ động liên hệ ngân hàng để yêu cầu hoàn trả ngay. Ngoài ra, hiện nay tình trạng lợi dụng việc chuyển khoản nhầm để lừa đảo xảy ra khá phổ biến, do vậy nếu không chắc chắn các thông tin của chủ sở hữu hoặc nghi ngờ bị lừa đảo thì cần trình báo ngay cho cơ quan công an. - Nếu bạn là người chuyển nhầm: Nên chủ động liên hệ ngân hàng để tra soát giao dịch và gửi văn bản yêu cầu người nhận hoàn trả (qua ngân hàng hoặc trực tiếp cho người nhận). Nếu người nhận không hợp tác có thể trình báo công an hoặc khởi kiện dân sự Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Thời gian gần đây, thông tin về quy định mới liên quan đến dạy thêm, học thêm có hiệu lực từ ngày 15/05/2026 khiến nhiều phụ huynh và giáo viên không khỏi băn khoăn. Vậy thực tế quy định mới quy định như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Theo quy định tại Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được ban hành ngày 30/12/2024 và có hiệu lực từ ngày 14/02/2025 thì Bộ Giáo dục Đào tạo không cấm dạy thêm học thêm. Theo đó, hoạt động dạy thêm, học thêm được phân thành hai hình thức: (1) Dạy thêm, học thêm trong nhà trường  (2) Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường Và khi Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT sửa đổi Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT quy định về dạy thêm, học thêm do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành có hiệu lực từ ngày 15/05/2026 sửa đổi một số quy định của Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT cũng không cấm dạy thêm học thêm, mà quy định rõ hơn về cách tổ chức và điều kiện dạy thêm, học thêm. Theo đó, đối với Dạy thêm, học thêm trong nhà trường, Thông tư mới quy định như sau: (1) Việc dạy thêm, học thêm trong nhà trường không được thu tiền của học sinh và chỉ dành cho các đối tượng học sinh đăng kí học thêm theo từng môn học như sau: - Học sinh có kết quả học tập môn học cuối học kì liền kề ở mức chưa đạt; - Học sinh được nhà trường lựa chọn để bồi dưỡng học sinh giỏi; - Học sinh lớp cuối cấp tự nguyện đăng kí ôn thi tuyển sinh, ôn thi tốt nghiệp theo kế hoạch giáo dục của nhà trường. Lưu ý: Học sinh thuộc các nhóm trên phải viết đơn đăng ký học thêm theo từng môn. (2) Căn cứ vào số học sinh đăng kí, nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức dạy thêm đối với từng môn học ở từng khối lớp. (3) Việc xếp lớp, xếp thời khóa biểu và tổ chức dạy thêm, học thêm phải bảo đảm yêu cầu sau: - Mỗi lớp có không quá 45 (bốn mươi lăm) học sinh; - Không được xếp giờ dạy thêm chen vào giờ học chính khóa và Không được dạy trước chương trình - Mỗi môn học được tổ chức dạy thêm không quá 02 (hai) tiết/tuần. Trường hợp học sinh thuộc đối tượng đăng kí học thêm có nhu cầu học thêm vượt quá 02 (hai) tiết/tuần, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo xem xét, quyết định cho phép điều chỉnh thời lượng tổ chức dạy thêm theo đề nghị của Hiệu trưởng hoặc Giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng). (4) Kế hoạch tổ chức dạy thêm, học thêm được công khai trên trang thông tin điện tử của nhà trường hoặc niêm yết tại nhà trường. Đối với Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường: (1) Tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh (sau đây gọi chung là cơ sở dạy thêm) phải thực hiện các yêu cầu sau: - Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật; - Công khai, cập nhật thường xuyên trên trang thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm để bảo đảm sự tham gia giám sát của học sinh, gia đình và cộng đồng xã hội (2) Người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm. (3) Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm tuân thủ quy tắc ứng xử của nhà giáo theo quy định, có trách nhiệm báo cáo với Hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thế đứng tên đăng kí kinh doanh cơ sở dạy thêm, thời gian tham gia dạy thêm trước khi bắt đầu và cập nhật kịp thời khi có thay đổi đối với các nội dung đã báo cáo, bảo đảm minh bạch, phòng ngừa xung đột lợi ích trong hoạt động dạy thêm Như vậy, từ 15/05/2026, không cấm dạy thêm, học thêm chính đáng, nhưng sẽ bị quản lý chặt hơn để hạn chế tiêu cực. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695