DỊCH VỤ LUẬT SƯ DÂN SỰ

Anh Đạt hỏi: Bố mẹ tôi mất có để lại một mảnh đất cho 7 anh chị em. Hiện nay, 6 người đều thống nhất muốn bán đất để chia tiền, nhưng người em út nhất quyết không đồng ý vì muốn giữ lại đất. Xin hỏi, 6 người còn lại có quyền tự bán mảnh đất này không? Nếu người em út không chịu ký giấy tờ thì chúng tôi phải làm thế nào? 1. Sáu người có được tự ý bán toàn bộ mảnh đất không? Theo khoản 2 Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015, việc định đoạt tài sản chung hợp nhất phải được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định pháp luật. => Do đó, nếu mảnh đất vẫn thuộc quyền sử dụng chung của cả 7 người thì 6 người không thể tự ý bán toàn bộ thửa đất khi người còn lại không đồng ý.Tuy nhiên, nếu quyền sử dụng đất đã được phân chia và xác định phần quyền riêng của từng người thì mỗi người có thể định đoạt phần quyền của mình theo quy định pháp luật, không được tự ý chuyển nhượng phần của người khác. 2. Cần làm gì khi một người nhất quyết không đồng ý bán đất? Thứ nhất, ưu tiên thỏa thuận với người không đồng ý bán.Các thành viên có thể trao đổi về phương án mua lại phần quyền của người không muốn bán, phân chia đất thành các phần riêng hoặc thống nhất phương án bán đất và chia tiền theo tỷ lệ được hưởng. Thứ hai, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nếu không thể thỏa thuận.Nếu việc thương lượng không đạt kết quả, người có quyền lợi liên quan có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung hoặc di sản thừa kế. Theo Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp những người thừa kế không thống nhất được việc phân chia di sản bằng hiện vật thì di sản có thể được bán để chia giá trị. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng. 
Người đi bộ sang đường cao tốc bị ô tô đâm: Tài xế có phải chịu trách nhiệm? Đường cao tốc là tuyến đường dành riêng cho các phương tiện cơ giới, nơi các xe lưu thông với tốc độ cao. Vì vậy, việc người đi bộ tự ý đi vào hoặc băng qua đường cao tốc tiềm ẩn nguy cơ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi xảy ra tai nạn giữa ô tô và người đi bộ, liệu tài xế có đương nhiên phải chịu trách nhiệm pháp lý hay không? Vấn đề này cần được xem xét trên cơ sở quy định pháp luật và nguyên nhân cụ thể của vụ tai nạn. 1. Người đi bộ sang đường cao tốc bị ô tô đâm có vi phạm pháp luật không? Theo khoản 3 Điều 25 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: "Xe máy chuyên dùng có tốc độ thiết kế nhỏ hơn tốc độ tối thiểu quy định đối với đường cao tốc, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ, xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô, xe gắn máy, xe thô sơ, người đi bộ không được đi trên đường cao tốc, trừ người, phương tiện giao thông đường bộ và thiết bị phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc." => Như vậy, nếu một người tự ý đi bộ hoặc băng qua đường cao tốc mà không thuộc trường hợp ngoại lệ thì hành vi này là vi phạm quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Theo khoản 2 Điều 10 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, người đi bộ đi vào đường cao tốc có thể bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng. 2. Người đi bộ sang đường cao tốc bị ô tô đâm, tài xế có phải chịu trách nhiệm? Trách nhiệm của tài xế được xác định căn cứ vào lỗi, hành vi vi phạm và hậu quả thực tế của vụ tai nạn.  - Trường hợp tài xế điều khiển ô tô đúng tốc độ, đúng làn đường, tuân thủ quy định về an toàn giao thông và không có khả năng tránh tai nạn khi người đi bộ bất ngờ xuất hiện thì hậu quả pháp lý: + Về trách nhiệm hình sự: Tài xế không mặc nhiên chịu trách nhiệm hình sự khi không có yếu tố lỗi trong trường hợp này + Về trách nhiệm bội thường: Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây: a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác." => Do trường hợp này lỗi hoàn toàn là ở phía người đi bộ nên tài xế không phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. - Trường hợp tài xế có hành vi vi phạm như chạy quá tốc độ, thiếu chú ý quan sát, không xử lý tình huống trong khả năng cho phép hoặc vi phạm quy định an toàn giao thông khác dẫn đến tai nạn thì có thể phải chịu hậu quả pháp lý sau: + Về trách nhiệm hình sự: Điều 260 Bộ luật Hình sự, người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây ra hậu quả thuộc các trường hợp luật định có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. + Về trách nhiệm bồi thường: Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới,..." và "Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây: a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác." => Do thiệt hại xảy ra do cả lỗi của tài xế chứ không do hoàn toàn lỗi của người đi bộ nên tài xế vẫn phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật quy định nếu có hành vi vi phạm. Kết luận Người đi bộ tự ý sang đường cao tốc là hành vi vi phạm pháp luật và tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi xảy ra va chạm với ô tô, trách nhiệm của tài xế không được xác định một cách mặc nhiên mà phải căn cứ vào nguyên nhân, lỗi của các bên và hậu quả thực tế. Nếu tài xế không vi phạm quy định giao thông và tai nạn xảy ra hoàn toàn do lỗi của người đi bộ thì có thể được miễn trách nhiệm trong những trường hợp pháp luật quy định. Ngược lại, nếu tài xế có lỗi dẫn đến tai nạn thì vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Việc nhận thù lao (như 200 triệu đồng) để đứng tên hộ bất động sản (đất đai) tưởng chừng là công việc đơn giản nhưng ẩn chứa những rủi ro pháp lý rất lớn. Tùy thuộc vào bản chất dòng tiền, mục đích của người nhờ đứng tên và hành vi cụ thể, người đứng tên hộ có thể vướng vào các rủi ro Dân sự và Tội danh Hình sự 1. Giao dịch đứng tên hộ có được nhà nước thừa nhận không? Mục đích của người nhờ đứng tên là gì? Theo quy định của pháp luật đất đai, người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) là chủ thể được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Điều 28 Luật Đất đai 2024 đã xác định cụ thể các đối tượng được phép nhận quyền sử dụng đất bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài (với điều kiện được phép nhập cảnh vào Việt Nam). Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành hoàn toàn không có quy định nào đề cập hay ghi nhận việc “đứng tên hộ”. Về mặt quyền hạn pháp lý, Điều 26 và Điều 27 Luật Đất đai 2024 trao cho người sử dụng đất đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản đất đai của mình. Trong công tác quản lý thực tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ căn cứ duy nhất vào thông tin đăng ký trên Giấy chứng nhận để xác định chủ thể sử dụng đất. Về rủi ro pháp lý, người có tên trên Sổ đỏ mặc nhiên được pháp luật xem là chủ thể có toàn quyền đối với thửa đất. Ngược lại, thỏa thuận nhờ người khác đứng tên hộ là giao dịch không được pháp luật thừa nhận, không được Nhà nước bảo vệ khi xảy ra mâu thuẫn hay tranh chấp.Thực chất, việc thuê người đứng tên hộ đất đai là thủ đoạn không minh bạch nhằm lách luật, trốn thuế hoặc tẩu tán và che giấu tài sản bất minh:- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, do bị hạn chế quyền tiếp cận và đứng tên bất động sản tại Việt Nam, nhiều kiều bào đã gửi tiền về nhờ người thân trong nước đứng tên trên Giấy chứng nhận nhằm "lách" các rào cản pháp lý.- Cá nhân không đáp ứng điều kiện nhận chuyển nhượng phổ biến nhất là việc nhờ người dân địa phương đứng tên mua đất trồng lúa hoặc nhờ người khác mua nhà ở xã hội, nhằm hợp thức hóa các tiêu chuẩn khắt khe theo quy định như "trực tiếp sản xuất nông nghiệp" hay thuộc đối tượng được hưởng chính sách nhà ở.- Che giấu hoặc tẩu tán tài sản nhờ đứng tên hộ còn được dùng như một phương hại nhằm cất giấu tài sản bất minh, né tránh nghĩa vụ tài chính hoặc ngăn chặn việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong và trước thời điểm ly hôn. 2.  Rủi ro pháp lý về hình sự đối với người được nhờ đứng tên Nhận đứng tên hộ tài sản không rõ nguồn gốc khiến bạn đối mặt với nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội rửa tiền, Tội chứa chấp tài sản do phạm tội mà có hoặc bị xác định là đồng phạm tẩu tán tài sản phạm tội.-    Tội rửa tiền (Điều 324 Bộ luật Hình sự): Đây là rủi ro hình sự lớn nhất. Nếu tiền mua đất do người nhờ đứng tên phạm tội mà có (như tham ô, lừa đảo, trốn thuế, buôn lậu...) và người đứng tên hộ biết hoặc có cơ sở để biết nguồn gốc bất hợp pháp nhưng vẫn nhận đứng tên giúp nhằm hợp thức hóa dòng tiền.-    Đồng phạm giúp sức các Tội phạm kinh tế, tham nhũng: Người đứng tên hộ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm giúp sức trong các tội danh như Tội tham ô tài sản (Điều 353), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội trốn thuế (Điều 200) nếu tiếp tay tẩu tán, hợp thức hóa tài sản phạm tội.-    Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323) hoặc Tội che giấu tội phạm (Điều 389) áp dụng nếu biết rõ tài sản do vi phạm pháp luật mà có nhưng vẫn nhận đứng tên giữ hộ, cản trở điều tra.-    Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) hoặc Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) phát sinh nếu sau khi đứng tên hộ, người này nảy sinh ý định chiếm đoạt, tự ý đem nhà đất đi bán, thế chấp, gạt nợ hoặc cố tình không trả lại cho người nhờ.-    Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 341) nếu trong quá trình hoàn thiện hồ sơ sang tên, cấp giấy chứng nhận có hành vi tạo lập hoặc sử dụng hợp đồng, giấy tờ giả. 3.    Rủi ro pháp lý về dân sự đối với người được nhờ đứng tênTheo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, các giao dịch nhờ đứng tên thường bị xem là giao dịch giả tạo, hình thức chuyển nhượng công khai nhằm che giấu thỏa thuận sở hữu thực tế. Nên có thể xảy ra các trường hợp: -    Khi phát sinh mâu thuẫn giữa người nhờ và người đứng tên, hoặc khi một trong hai bên chết (phát sinh thừa kế), ly hôn (phát sinh chia tài sản vợ chồng), người đứng tên hộ sẽ bị lôi kéo vào các vụ kiện tụng dân sự kéo dài.-    Vì là chủ thể đứng tên hợp pháp trên giấy tờ, người đứng tên hộ phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về các khoản thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, hoặc bị xử phạt hành chính nếu đất bị sử dụng sai mục đích/vi phạm trật tự xây dựng.-    Nếu người đứng tên hộ vướng vào nghĩa vụ nợ nần cá nhân khác, cơ quan thi hành án hoặc ngân hàng có quyền phong tỏa, kê biên bất động sản đứng tên họ để xử lý nợ.-    Số tiền thù lao nhận được khi giao dịch bị tuyên vô hiệu hoặc bị xác định là tiền thu lợi bất chính từ hành vi vi phạm sẽ bị buộc hoàn trả hoặc tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Nhiều người thường truyền tai nhau một quan niệm sai lầm rằng: “Chủ nợ mất rồi thì xem như xóa nợ”. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Việc chủ nợ đột ngột qua đời không đồng nghĩa với việc khoản nợ tự động “bốc hơi”.Vậy pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ trả nợ trong trường hợp này? Ai sẽ là người có quyền đứng ra đòi lại số tiền đó? 1. Khoản nợ không tự biến mất mà biến thành “Di sản thừa kế” Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Di sản của một người để lại sau khi chết bao gồm: tài sản riêng của người đó và phần tài sản của người đó trong tài sản chung với người khác.+ Quyền đòi nợ (quyền tài sản) là một phần của di sản thừa kế. => Do đó, khi chủ nợ qua đời, quyền đòi lại số tiền đã cho vay sẽ được chuyển giao toàn bộ cho những người thừa kế hợp pháp của họ. Người vay tiền vẫn phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi theo đúng thỏa thuận ban đầu. 2. Trường hợp duy nhất con nợ “thoát nợ” hợp pháp khi chủ nợ mất - Người vay tiền sẽ chỉ thực sự được miễn nghĩa vụ trả nợ khi rơi vào một trong các trường hợp sau: + Có thỏa thuận trước: Trong hợp đồng vay tài sản ban đầu có điều khoản ghi rõ: “Hợp đồng vay sẽ tự động chấm dứt và miễn toàn bộ nghĩa vụ trả nợ nếu bên cho vay (chủ nợ) qua đời”.+ Được người thừa kế xóa nợ+ Chủ nợ không có người thừa kế: Theo Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản này sẽ thuộc về Nhà nước. Lúc này con nợ phải nộp trả số tiền đó vào ngân sách nhà nước theo đúng thủ tục, chứ không được giữ lại. 3. Con nợ cố tình bùng nợ khi chủ nợ mất sẽ bị xử lý thế nào? - Nếu con nợ nảy sinh lòng tham, cố tình che giấu khoản nợ hoặc không chịu trả tiền cho người thừa kế, họ có thể phải đối mặt với các chế tài pháp lý nghiêm trọng: + Bị khởi kiện dân sự+ Bị xử lý hình sự: Nếu con nợ dùng các thủ đoạn gian dối hoặc có điều kiện trả nhưng cố tình tẩu tán tài sản để trốn nợ => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015). ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Trường hợp phải bồi thường Căn cứ theo điều 604 Bộ Luật Dân sự 2015 bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra: “chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.” Như vậy trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người được giao quản lý cây cối. Trường hợp tài sản gây thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu chiếm giữ tài sản có nghĩa vụ phải chịu bồi thường căn cứ theo khoản 3 điều 584 của Bộ Luật Dân sự 2015 quy định “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh” 2. Các trường hợp không phải bồi thường Và có một số trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu không phải bồi thường căn cứ vào khoản 3 điều 584 Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định như khi có một sự kiện bất khả kháng như thiên tai, bão lũ lớn nằm ngoài tầm kiểm soát mà chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu không thể lường trước được và đã khắc phục mọi biện pháp như cắt tỉa chống đỡ cần thiết trước đó.Lưu ý nếu cây đã mục rỗng có nguy cơ gãy đổ từ lâu mà chủ sở hữu bỏ mặc không xử lý thì vẫn phải bồi thường chứ không được tính là sự kiện bất khả khángTrường hợp tiếp theo mà chủ sở hữu người chiếm hữu không phải bồi thường là hoàn toàn do lỗi bên người bị thiệt hại thì chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu cây sẽ được miễn hoàn toàn trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp chỉ có phần lỗi của chủ cây và phần lỗi người bị hại thì chỉ cần bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Ví dụ hàng xóm cố tình trèo lên cành cây nhà mình để đục đẽo hoặc kéo vật mà không thông báo thỏa thuận gì và cành cây bị gãy làm hỏng mái tôn nhà hàng xóm. Thì trong trường hợp này chủ cây không phải bồi thường cho hàng xóm. 3.    Phạm vi thiệt hại được bồi thường Căn cứ điều 585 luật dân sự 2015 thì thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời căn cứ điều 589 bộ luật dân sự 2015 gồm:-    Giá trị tài sản bị hư hỏng, hỏng học hoặc bị hủy hoại-    Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại -    Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất hoặc giảm sút. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Mới đây thì xảy ra vụ mâu thuẫn giữa chủ nhà và người nhận phá dỡ công trình tại phường Tương Mai, Hà Nội được chia sẻ trên mạng xã hội và thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận.  Vụ việc xuất phát từ những bất đồng trong quá trình thực hiện phá dỡ công trình. Vậy thì việc chủ nhà cho rằng KHÔNG có hợp đồng nên KHÔNG phải trả tiền là đúng hay sai? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Ảnh: Báo mới  1. Hợp đồng không nhất thiết phải lập thành văn bản Theo Điều 116 BLDS 2015 quy định:+ Giao dịch dân sự là hợp đồng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định + Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. => Như vậy, nếu chủ nhà và người nhận phá dỡ đã thỏa thuận bằng lời nói, tin nhắn hoặc thể hiện sự thống nhất thông qua hành vi thực tế thì thỏa thuận này vẫn được pháp luật công nhận, mặc dù hai bên không ký kết hợp đồng bằng văn bản. => Do đó, việc chủ nhà cho rằng “không có hợp đồng nên không phải trả tiền” là không đúng Theo Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, còn bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ.=>Do đó, nếu có căn cứ chứng minh chủ nhà đã thuê người phá dỡ công trình và hai bên có thỏa thuận về tiền công thì không thể chỉ dựa vào việc không có “hợp đồng giấy” để phủ nhận nghĩa vụ thanh toán. 2. Nếu đã thực hiện công việc thì nghĩa vụ trả tiền được xác định thế nào? - Theo Điều 515 Bộ luật Dân sự 2015, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ: “Trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận.” - Đồng thời, Điều 519 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả tiền dịch vụ. Theo đó, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận về mức tiền thì tiền dịch vụ được xác định theo giá thị trường hoặc phương thức mà pháp luật quy định. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Thời gian gần đây, các vụ việc gạch, đá, sắt thép từ các công trình xây dựng hoặc tháo dỡ nhà cửa rơi trúng người đi đường vẫn liên tiếp xảy ra, gây thương tích nghiêm trọng, thậm chí mất đi tính mạng. Phía sau mỗi tai nạn đó là câu hỏi pháp lý cấp bách: Khi sự cố xảy ra, ai là người phải gánh chịu trách nhiệm và bồi thường? 1. Về trách nhiệm bồi thường dân sự - Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp luật có quy định khác.+ Trước hết cần xác định ai trực tiếp gây ra việc tấm bê tông rơi xuống người đi đường và nguyên nhân vì sao xảy ra sự cố. Nếu người công nhân thực hiện không đúng quy trình, thiếu biện pháp bảo đảm an toàn dẫn đến tấm bê tông rơi xuống đường thì người trực tiếp thực hiện hành vi có thể phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do mình gây ra. 2. Nếu công nhân là người làm thuê cho đơn vị phá dỡ thì sao? - Theo Điều 597 và Điều 600 BLDS 2015 quy định:+ “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao..." + Sau khi bồi thường, pháp nhân CÓ QUYỀN yêu cầu người có lỗi hoàn trả một khoản tiền theo quy định. => Vì vậy, nếu công nhân là người được đơn vị phá dỡ thuê và đang thực hiện công việc theo sự phân công của đơn vị, trách nhiệm bồi thường về nguyên tắc có thể đặt ra đối với đơn vị sử dụng người lao động/người làm công. Sau đó, đơn vị có thể xem xét trách nhiệm của người trực tiếp gây ra thiệt hại theo quy định pháp luật. 3. Chủ công trình có phải chịu trách nhiệm không? + Nếu chủ nhà chỉ thuê một đơn vị độc lập thực hiện việc phá dỡ và đơn vị này trực tiếp tổ chức, quản lý công việc => trách nhiệm có thể thuộc về đơn vị phá dỡ nếu lỗi phát sinh từ quá trình tổ chức thi công. + Nếu chủ công trình trực tiếp tổ chức việc phá dỡ, chỉ đạo công nhân hoặc có lỗi trong việc bảo đảm an toàn => trách nhiệm có thể thuộc về chủ công trình nếu lỗi phát sinh từ quá trình tổ chức thi công. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Có thể. Sau khi đã khởi kiện, nguyên đơn vẫn có thể sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, nhưng việc bổ sung phải nằm trong giới hạn pháp luật tố tụng cho phép. 1. Có được bổ sung yêu cầu khởi kiện không? Căn cứ Khoản 4 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định về quyền của đương sự như sau:“4. Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này.”Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Các đương sự có quyền bảo lưu toàn bộ nội dung yêu cầu ban đầu đã nộp cho Tòa án. Hoặc đương sự có quyền sửa đổi, điều chình một phần hoặc toàn bộ nội dung yêu cầu. Ngoài ra có quyền bổ sung thêm quyền và nghĩa vụ mới bên cạnh các yêu cầu đã có trước đó. Đương sự có quyền từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu đã đưa ra, làm chấm dứt việc Tòa án xem xét đối với phần yêu cầu bị rút. 2. Thế nào là “không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu”? Phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu không đo lường bằng con số, mà được xác định dựa trên Quan hệ pháp luật (QHPL) tranh chấp được đưa ra giải quyết.Theo quy định của BLTTDS, tại khoản 1 Điều 188 BLTTDS quy định về phạm vi khởi kiện: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều  cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.” BLTTDS 2015 tại khoản 1 Điều 244 quy định: “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi  yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu.”Trường hợp 1: Không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu.•    Cùng QHPL nhưng điều chỉnh về định lượng. VD: Tranh chấp đòi lại đất lấn chiếm (QHPL: Bồi thường/Đòi lại tài sản). Việc điều chỉnh từ 30m² lên 35m² sau khi đo đạc thực tế vẫn thuộc cùng một QHPL đòi lại diện tích đất bị lấn chiếm đó.•    Bổ sung yêu cầu phát sinh từ cùng QHPL hoặc QHPL liên quan. VD: Tranh chấp hợp đồng vay (QHPL: Vay tài sản). Việc bổ sung yêu cầu trả lãi chậm trả là nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ QHPL vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.Trường hợp 2: vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu.Đưa ra một QHPL hoàn toàn mới, không liên quan đến QHPL đã khởi kiện ban đầu. VD: Ban đầu nguyên đơn khởi kiện đòi B trả nợ tiền vay (QHPL hợp đồng vay). Quá trình giải quyết, nguyên đơn bổ sung thêm yêu cầu B phải chia thừa kế một mảnh đất khác không liên quan đến khoản tiền vay. Đây là hai QHPL độc lập, việc bổ sung này bị xem là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Trường hợp này sẽ không được HĐXX giải quyết vì không thể thu thập xác minh thêm chứng cứ. Nhưng đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác để yêu cầu giải quyết quan hệ pháp luật đó Tóm lại, Vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu phải được hiểu là vượt quá phạm vi Quan hệ pháp luật tranh chấp ban đầu, chứ không phải vượt quá về mặt con số, diện tích hay số tiền. 3. Thời điểm bổ sung? Tại khoản 7 Mục IV Văn bản 01/2017/GĐ-TANDTC– Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.– Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tế, có trường hợp người vay không còn tiền hoặc không có tài sản để thanh toán khoản nợ. Từ đó, nhiều người cho rằng “con nợ không có tài sản thì cũng không đòi được, khoản nợ coi như mất”. Tuy nhiên, không có khả năng thanh toán tại một thời điểm không đồng nghĩa với việc nghĩa vụ trả nợ tự động chấm dứt. 1. Không có tài sản không làm mất nghĩa vụ trả nợ - Theo Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.”=>Người vay đến hạn nhưng không có tiền hoặc tài sản để thanh toán thì nghĩa vụ trả nợ vẫn còn. - Ngoài khoản tiền gốc, người vay còn có thể phải chịu lãi, lãi quá hạn hoặc khoản bồi thường nếu có căn cứ theo thỏa thuận và quy định pháp luật. 2. Không có tài sản hiện tại không đồng nghĩa với không thể thi hành án - Nếu chủ nợ khởi kiện => có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật => người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong bản án. - Tại thời điểm thi hành án, người phải thi hành án CHƯA CÓ tài sản hoặc thu nhập để thi hành => cơ quan thi hành án dân sự xác minh điều kiện thi hành án => Sau này phát sinh tài sản, thu nhập hoặc CÓ điều kiện thi hành án => Việc thi hành án được tiếp tục theo quy định pháp luật. 3. Khi nào nghĩa vụ trả nợ mới chấm dứt? - Theo Điều 372 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ có thể chấm dứt trong các trường hợp như:+ Nghĩa vụ được hoàn thành;+ Theo thỏa thuận của các bên;+ Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;+ Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác;+ Nghĩa vụ được bù trừ;+ Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một;+ Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết;+ Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;+ Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác;+ Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác;+ Trường hợp khác do luật quy định. Như vậy, việc người vay không có tài sản để trả nợ chỉ phản ánh tình trạng tài chính tại thời điểm đó, không phải căn cứ để khoản nợ tự động mất đi. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong nhiều gia đình, bố mẹ muốn giữ lại căn nhà của gia đình làm nơi thờ cúng tổ tiên nên khi lập di chúc thường giao căn nhà cho một người con quản lý. Sau khi bố mẹ qua đời, những người con còn lại có thể cho rằng mình cũng là con nên có quyền đối với căn nhà và yêu cầu chia đều tài sản. Vậy trong trường hợp bố mẹ đã lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà cho một người con để thờ cúng tổ tiên, những người con khác có được yêu cầu đem căn nhà đó ra chia thừa kế hay không? 1. Bố mẹ có quyền để lại tài sản trong di chúc để dùng vào việc thờ cúng không? - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, quyền của người lập di chúc: “ Điều 626. Quyền của người lập di chúcNgười lập di chúc có quyền sau đây:1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.” --> Theo đó, người để lại thừa kế có quyền dành một phần hoặc toàn bộ di sản để dùng vào việc thờ cúng.  2. Căn nhà đã được xác định là di sản thờ cúng thì những người con khác có được chia không? - Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể đối với di sản dùng vào việc thờ cúng. Theo đó, khi người lập di chúc dành một phần di sản để thờ cúng thì: phần di sản đó không được chia thừa kế; tài sản được giao cho người được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu không chỉ định người quản lý thì những người thừa kế sẽ cử người quản lý; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng nội dung di chúc hoặc không thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao tài sản cho người khác quản lý. --> Như vậy, nếu nội dung di chúc hợp pháp và căn nhà thực sự được xác định là di sản dùng vào việc thờ cúng, thì căn nhà không được đưa ra chia thừa kế như một tài sản thông thường.  Bên cạnh đó, căn nhà dùng để thờ cúng không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người thừa kế nào. Người được nhắc đến trong di chúc cũng chỉ là người quản lý và trực tiếp thờ cúng.  3. Những người con khác có thể được chia căn nhà trong trường hợp nào? Mặc dù có di chúc, vẫn có một số trường hợp những người con khác có thể yêu cầu xem xét quyền hưởng di sản: Trường hợp 1:  Di chúc không hợp pháp. - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, để di chúc hợp pháp, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; đồng thời nội dung và hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật. Ví dụ, nếu có căn cứ chứng minh bố hoặc mẹ không còn minh mẫn khi lập di chúc, chữ ký bị giả mạo hoặc việc lập di chúc xuất phát từ sự cưỡng ép thì những người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của di chúc.Nếu di chúc không hợp pháp, di sản hoặc phần di sản tương ứng có thể được chia theo pháp luật theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.  Trường hợp 2: Có người thuộc diện được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc. - Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một số người vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu họ không được cho hưởng di sản hoặc được hưởng ít hơn mức này. Nhóm này bao gồm con chưa thành niên và con thành niên không có khả năng lao động; ngoài ra còn có cha, mẹ, vợ hoặc chồng của người để lại di sản. Ví dụ, bố mẹ có 03 người con đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động bình thường và bố mẹ lập di chúc hợp pháp để lại căn nhà cho người con cả. Hai người con còn lại không thuộc trường hợp đương nhiên được hưởng 2/3 suất thừa kế theo Điều 644 chỉ vì họ là con của người chết.Ngược lại, nếu một người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì quyền hưởng phần di sản bắt buộc của người đó cần được xem xét, mặc dù di chúc không cho họ hưởng tài sản. Trường hợp 3: Căn nhà không hoàn toàn thuộc quyền định đoạt của người lập di chúc. - Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự, di sản chỉ bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Do đó, một người chỉ có quyền lập di chúc đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Ví dụ, căn nhà là tài sản chung của bố và mẹ. Nếu chỉ bố lập di chúc để lại “toàn bộ căn nhà” cho một người con nhưng mẹ không có nội dung định đoạt tương ứng thì di chúc của bố không thể làm phát sinh quyền đối với phần tài sản thuộc sở hữu của mẹ. Nếu cả bố và mẹ đều có di chúc hợp pháp định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình theo cùng một hướng thì mới có cơ sở xem xét toàn bộ căn nhà theo nội dung các di chúc đó.  Trường hợp 4: Di sản phải được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết. - Khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự quy định rằng nếu toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản để thờ cúng. Ví dụ, bố mẹ còn khoản nợ hợp pháp chưa thanh toán và tài sản để lại không đủ để thực hiện nghĩa vụ đó thì không thể viện dẫn việc căn nhà được dành để thờ cúng để loại trừ hoàn toàn quyền của chủ nợ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, không phải mọi vụ án đều được Tòa án giải quyết liên tục cho đến khi đưa ra bản án. Trong một số trường hợp, Tòa án có thể tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hai khái niệm này có điểm giống nhau là đều làm cho quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án không tiếp tục theo thủ tục thông thường, nhưng tạm đình chỉ và đình chỉ có bản chất và hậu quả pháp lý khác nhau. Vậy tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án dân sự là gì? Khi nào được áp dụng? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. 1. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án TẠM THỜI DỪNG giải quyết vụ án khi xuất hiện một trong những căn cứ luật định. Việc tạm đình chỉ KHÔNG làm CHẤM DỨT vụ án. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong CÁC TRƯỜNG HỢP chủ yếu sau (Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Đương sự là cá nhân chết hoặc cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động mà chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; + Đương sự mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên nhưng chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; + Chấm dứt việc đại diện hợp pháp nhưng chưa có người thay thế; + Cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan hoặc phải chờ cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước; + Cần chờ kết quả ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc chờ cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; + Cần chờ kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ:A khởi kiện B yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp. Trong trường hợp này, nếu đáp ứng điều kiện luật định, Tòa án có thể tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả của vụ án có liên quan.=> Khi nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ được khắc phục, vụ án có thể được tiếp tục giải quyết. 2. Hậu quả của việc tạm đình chỉ vụ án dân sự - Vụ án không bị xóa khỏi sổ thụ lý mà chỉ được ghi chú về quyết định tạm đình chỉ; - Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và sẽ được xử lý khi vụ án tiếp tục được giải quyết; - Thẩm phán được phân công vẫn có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc để khắc phục nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ; - Quyết định tạm đình chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. 3. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Khác với tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án CHẤM DỨT việc giải quyết vụ án sau khi đã thụ lý vì xuất hiện căn cứ theo quy định của pháp luật. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong CÁC TRƯỜNG HỢP như (Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; + Cơ quan, tổ chức đã giải thể, phá sản mà không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; + Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; + Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không thuộc trường hợp được pháp luật loại trừ (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan); + Đã có quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là đương sự và việc giải quyết vụ án liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; + Nguyên đơn không nộp tiền, ,chi phí tạm ứng chi phí định giá tài sản và các chi phí tố tụng khác theo quy định; + Đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định mà thời hiệu khởi kiện đã hết; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ: A khởi kiện B yêu cầu thanh toán khoản nợ. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, A tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Nếu việc rút yêu cầu đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. 4. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự - Theo Điều 217 và Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự, khi đình chỉ giải quyết vụ án:+ Tòa án xóa tên vụ án trong sổ thụ lý; + Trong trường hợp đương sự có yêu cầu, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và lưu bản sao theo quy định; + Trong nhiều trường hợp, đương sự không được khởi kiện lại cùng vụ án nếu vụ án sau không có gì khác về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác; + Việc xử lý tiền tạm ứng án phí phụ thuộc vào lý do đình chỉ. Ví dụ: Nếu người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện => tiền tạm ứng án phí được trả lại cho họ Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt => tiền tạm ứng án phí được sung vào công quỹ nhà nước. + Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cũng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Kết luận: Tạm đình chỉ = Tạm dừng → khắc phục lý do → tiếp tục giải quyết.Đình chỉ = Chấm dứt → không tiếp tục giải quyết  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Chị H hỏi: "Tôi là người được thi hành án theo bản án của Tòa án. Người phải thi hành án là bà B có nghĩa vụ trả cho tôi 500.000.000 đồng và tiền lãi chậm thi hành án. Hiện Thi hành án dân sự đã kê biên quyền sử dụng đất của bà B, nhưng đây là tài sản chung của vợ chồng nên chưa xác định được phần quyền sử dụng đất của bà B. Xin hỏi, tôi có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của bà B trong khối tài sản chung để phục vụ việc thi hành án hay không?"Trả lời: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định người thi hành án có quyền yêu cầu tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi hành án bằng cách khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án.Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án:Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật thi hành án dân sự 2025 quy định, trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác thì Chấp hành viên xử lý như sau:- Thông báo cho người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền sở hữu chung thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án. Việc xử lý tài sản thực hiện theo thỏa thuận của các đương sự hoặc quyết định của Tòa án;- Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.Về thẩm quyền giải quyết:Theo quy định tại khoản 12 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy đinh của pháp luật về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết:           - Thẩm quyền theo cấp: Căn cứ quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định: Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này. - Thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bố luật Tố tụng dân sự 2015 thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:+ Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;+ Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này.+ Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.Như vậy, Chị H hoàn toàn có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án xác định rõ phần quyền sử dụng đất của bà B. Sau khi Tòa án ban hành bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án dân sự sẽ có căn cứ để xử lý, đấu giá phần tài sản đó nhằm hoàn trả tiền cho chị H.  Trên đây là tư vấn của Luật Phương Bình, Nếu mọi người có gì thắc mắc vui lòng liên hệ đến số điện thoại để được Ls tư vấn trực tiếp 0936 645 695  
 
hotline 0936 645 695