DỊCH VỤ LUẬT SƯ HÌNH SỰ

Trong thời gian vừa qua, xôn sao trên mạng xã hội về hành vi đưa thịt lợn bệnh vào trường học. Vậy hành vi trên có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý liên quan: Theo quy định khoản 4 Điều 5 Luật an toàn thực phẩm 2010 quy định: “Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.” Theo đó hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc không rõ nguyên nhân để sản xuất thuộc hành vi bị cấm theo quy định. Đối với tình huống trên, hành vi đưa thịt lợn bệnh vào trường học vi phạm điều cấm của luật gây ảnh hưởng đến nhiều chủ thể trong đó là các em học sinh, mầm non. Đối với hành vi trên, mức xử lý vi phạm như sau: Căn cứ theo quy định khoản 1, 3 điều 6 Luật an toàn thực phẩm 2010 như sau: “1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật. …. 3. Mức phạt tiền đối với vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt được áp dụng không quá 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm; tiền thu được do vi phạm mà có bị tịch thu theo quy định của pháp luật.” Về hình thức xử phạt: 1. Về xử phạt vi phạm hành chính: Căn cứ khoản 3, 4, 5, 6, 7 Điều 4 Nghị 115/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm: “3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá dưới 10.000.000 đồng. 4. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm; b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 5. Phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 6. Hình thức xử phạt bổ sung: a) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với vi phạm quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này; b) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 tháng đến 12 tháng đối với vi phạm quy định tại khoản 5 Điều này; c) Tước quyền sử dụng Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm từ 20 tháng đến 24 tháng đối với sản phẩm thuộc diện đăng ký bản công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này. 7. Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc tiêu hủy nguyên liệu, thực phẩm vi phạm quy định tại Điều này; b) Buộc thu hồi bản tự công bố sản phẩm đối với sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này.” Như vậy, đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để sản xuất, chế biến thực phẩm tùy theo mức độ vi phạm, cũng như giá trị sản phẩm để xử phạt hành chính. Ngoài ra, còn áp dụng quy định về xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như sau: Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất từ 1 đến 3 tháng đối với việc sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm;Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đỉnh chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 đến 12 tháng đối với hành vi phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài biện pháp xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, còn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. 2. Về trách nhiệm hình sự Căn cứ điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau: “Ðiều 317. Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …..  b.  Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.” Đối chiếu với vụ việc “tuồn thịt lợn bệnh vào trường học”, có thể đưa ra ý kiến tư vấn như sau, về hành vi vi phạm, nếu cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện việc thu mua lợn chết do bệnh, dịch bệnh, sau đó giết mổ, chế biến và cung cấp vào bếp ăn trường học thì hành vi này thuộc trường hợp “sử dụng động vật chết do bệnh để chế biến thực phẩm”. Trường hợp các đơn vị cung cấp suất ăn hoặc thực phẩm cho nhà trường vẫn phân phối thịt lợn khi đã biết rõ nguồn gốc không đảm bảo an toàn thì thuộc hành vi “cung cấp, bán thực phẩm mà biết rõ có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh”. Về yếu tố lỗi, điều luật yêu cầu người thực hiện hành vi phải “biết rõ” nguồn gốc thực phẩm là từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh. Trong thực tiễn, yếu tố này có thể được chứng minh thông qua các tình tiết như: thu mua lợn bệnh với giá rẻ bất thường, không có giấy kiểm dịch, có hành vi che giấu nguồn gốc hoặc hợp thức hóa giấy tờ. Nếu chứng minh được yếu tố nhận thức này thì xác định là lỗi cố ý trực tiếp và đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi chỉ bị xử lý hình sự khi giá trị thực phẩm vi phạm từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, hoặc dưới mức này nhưng người vi phạm đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về cùng hành vi mà chưa được xóa án tích. Đối với bếp ăn trường học, đặc biệt là các trường có tổ chức ăn bán trú, giá trị thực phẩm cung cấp thường lớn, do đó trên thực tế rất dễ vượt ngưỡng định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp, hành vi nêu trên không chỉ xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm mà còn trực tiếp đe dọa đến sức khỏe cộng đồng, trong đó đối tượng bị ảnh hưởng là học sinh – nhóm người chưa phát triển về thể chất và có sức đề kháng yếu. Đây là yếu tố làm gia tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, có thể được xem xét khi lượng hình hoặc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị áp dụng mức hình phạt theo khoản 1 Điều 317, bao gồm phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Trường hợp hành vi gây hậu quả nghiêm trọng như ngộ độc thực phẩm hàng loạt, ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều học sinh thì có thể bị áp dụng các khung hình phạt nặng hơn theo các khoản tiếp theo của điều luật. Căn cứ khoản 2 Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Làm chết người; c) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; h) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” Với vụ việc trên, hiện nay cơ quan điều tra vẫn đang điều tra, xác minh làm rõ về hành vi sai phạm. Tuy nhiên, đánh giá khách quan về vụ việc tuồn thịt lợn bệnh vào trường học thì không chỉ dừng lại ở khoản 1 nêu trên mà có căn cứ chứng minh sẽ áp dụng khoản 2 Điều 317 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 với khung hình phạt từ 3 năm đến 7 năm tù để xử lý và giải quyết.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Xe cấp cứu là phương tiện được pháp luật ưu tiên khi tham gia giao thông trong lúc thực hiện nhiệm vụ cấp cứu nhằm đưa người bệnh đến cơ sở y tế trong thời gian nhanh nhất. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra nhiều trường hợp người tham gia giao thông không nhường đường hoặc cố tình cản trở xe cấp cứu, làm chậm quá trình đưa người bệnh đi cấp cứu. Nếu hành vi này là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời và tử vong thì người vi phạm không chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Dưới đây là các quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Xe cấp cứu có được quyền ưu tiên khi tham gia giao thông không? - Theo Khoản 1 Điều 27 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: Xe ưu tiên gồm có xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu. Và Theo Khoản 4 và Khoản 5 Điều 27 Luật này quy định “ Xe ưu tiên không bị hạn chế tốc độ; được phép đi không phụ thuộc vào tín hiệu đèn giao thông, đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được; riêng đối với đường cao tốc, chỉ được đi ngược chiều trên làn dừng xe khẩn cấp; phải tuân theo hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, biển báo hiệu tạm thời.” Và “Khi có tín hiệu của xe ưu tiên, người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường, trạm thu phí phải ưu tiên cho xe ưu tiên qua trạm trong mọi tình huống, không được gây cản trở.”Vì vậy, khi xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu phát tín hiệu ưu tiên theo quy định, người tham gia giao thông có trách nhiệm nhanh chóng giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường và không được có hành vi cản trở xe ưu tiên. 2. Xử phạt vi phạm hành chính - Theo tại Điểm b Khoản 6 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng- Theo tại Điểm đ Khoản 7 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng. 3. Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? - Trường hợp người điều khiển phương tiện vi phạm quy định về nhường đường cho xe cấp cứu và hành vi đó được xác định là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời dẫn đến tử vong trên đường đi thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).- Theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng một trong các hình phạt sau:+ Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; + Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì mức hình phạt có thể lên đến 15 năm tù tùy thuộc vào tính chất, mức độ lỗi và hậu quả thực tế. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về ma túy, không ít trường hợp người bị bắt cho rằng mình chỉ nhận "giao hàng", "vận chuyển hộ" hoặc "cầm giúp" ma túy nên nếu bị xử lý thì chỉ có thể bị truy cứu về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Trong một số trường hợp, người trực tiếp vận chuyển ma túy vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm nếu đáp ứng các điều kiện luật định.Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào? Khi nào hành vi vận chuyển bị xem là tham gia vào hoạt động mua bán ma túy? Người không biết mình đang vận chuyển ma túy có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây. 1. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy ? Theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) - Tội vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi chuyển dịch trái phép chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào khi đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Hành vi vận chuyển có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như:+ Mang theo người;+ Cất giấu trong hành lý, túi xách hoặc phương tiện;+ Vận chuyển bằng xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy hoặc máy bay;+ Gửi qua dịch vụ vận chuyển hoặc các hình thức khác.Và không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác.- Hình phạt:+ Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: nếu thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này+ Tùy thuộc vào loại, khối lượng chất ma túy và các tình tiết định khung, mức hình phạt có thể lên đến tù chung thân. 2. Tội mua bán trái phép chất ma túy ? - Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy.+ Mua bán trái phép chất ma túy không chỉ giới hạn ở hành vi trực tiếp mua hoặc bán ma túy mà còn có thể bao gồm những hành vi tham gia vào quá trình mua bán nếu người thực hiện có sự thống nhất ý chí và cùng thực hiện hành vi phạm tội theo quy định về đồng phạm tại Điều 17 Bộ luật Hình sự. - Có thể bao gồm thuộc 1 trong các hành vi sau đây: ++ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;++ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);++ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;++ Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. - Hình phạt:+ Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt cơ bản của tội danh này là 03 năm đến 07 năm tù. + Đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình. 3. Khi nào người vận chuyển trái phép chất ma túy có thể bị truy cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy? - Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 quy định "đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm."- Nếu người vận chuyển biết rõ việc mình đang tham gia vào hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và có hành vi giúp sức hoặc cùng thực hiện việc mua bán thì tùy từng trường hợp, họ có thể bị TRUY CỨU TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.- Việc xác định người vận chuyển có phải là đồng phạm hay không sẽ căn cứ vào toàn bộ chứng cứ của vụ án, như:+ Có biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Có sự bàn bạc, thống nhất với các đối tượng khác hay không;+ Có tham gia giao nhận ma túy, giao nhận tiền hoặc hỗ trợ việc mua bán hay không;+ Có được hưởng lợi từ hoạt động mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Vai trò của người đó trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: một người biết rõ ma túy sẽ được giao cho khách mua, đồng ý nhận vận chuyển theo sự phân công của các đối tượng trong đường dây và thực hiện việc giao ma túy đúng theo kế hoạch đã thống nhất thì hành vi của người này có thể được xem xét với vai trò đồng phạm trong tội mua bán trái phép chất ma túy nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. 4. Nếu người vận chuyển không biết bên trong gói hàng là ma túy thì có phải chịu trách nhiệm hình sự không? - Theo nguyên tắc của pháp luật hình sự, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có yếu tố lỗi.=> Do đó, nếu một người thực sự không biết bên trong kiện hàng, vali hoặc gói đồ mà mình nhận vận chuyển là chất ma túy và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được điều đó thì không đủ căn cứ để xác định họ đã cố ý thực hiện tội phạm về ma túy. - Tuy nhiên, việc người vận chuyển có biết hay không biết không chỉ được xác định dựa trên lời khai mà sẽ được cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá thông qua toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ án, bao gồm:+ Mối quan hệ giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển;+ Cách thức giao nhận hàng hóa;+ Tiền công có bất thường hay không;+ Nội dung tin nhắn, cuộc gọi hoặc dữ liệu điện tử;+ Các chứng cứ khác chứng minh nhận thức và ý chí của người vận chuyển.=> Nếu các chứng cứ chứng minh người vận chuyển thực sự không biết mình đang vận chuyển ma túy thì họ có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định họ biết hoặc cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Đặc xá và Đại xá đều là những chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội, nhưng có sự khác nhau về thẩm quyền quyết định, phạm vi áp dụng và hậu quả pháp lý. Vậy đặc xá, đại xá là gì và điều kiện áp dụng của từng trường hợp được pháp luật quy định như thế nào? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này: 1. Đặc xá là gì? - Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Đặc xá năm 2018 quy định:“ Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.” - Người được đặc xá được miễn chấp hành hình phạt còn lại nhưng không được xóa án tích ngay và vẫn có tiền án. 1.2. Điều kiện để được đề nghị đặc xá? - Theo Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018 ( sửa đổi, bổ sung 2025) quy định Người đang chấp hành án phạt tù hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có thể được đề nghị đặc xá khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:+ Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và đủ số kỳ, được xếp loại chấp hành án khá hoặc tốt theo quy định. + Đã chấp hành đủ thời gian tối thiểu của án phạt theo quyết định đặc xá của Chủ tịch nước (thông thường phải chấp hành ít nhất 1/3 thời hạn tù; đối với một số tội nghiêm trọng phải chấp hành ít nhất 1/2 thời hạn tù; trường hợp tù chung thân đã được giảm án cũng phải đáp ứng thời gian tối thiểu theo luật). + Đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính như tiền phạt, án phí và nghĩa vụ bồi thường, trả lại tài sản theo quy định. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt khó khăn thì phải đáp ứng điều kiện pháp luật cho phép và, trong một số trường hợp, được người được thi hành án đồng ý. + Việc đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự. + Không thuộc các trường hợp bị loại trừ khỏi diện đề nghị đặc xá theo Điều 12 Luật Đặc xá. - Một số trường hợp đặc biệt có thể được xem xét đặc xá khi chưa chấp hành đủ thời gian tối thiểu, như:+ Người lập công lớn, người có công với cách mạng+ Người mắc bệnh hiểm nghèo, người từ đủ 70 tuổi trở lên+ Phụ nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trại giam+ Người khuyết tật nặng+ Người dưới 18 tuổi và các trường hợp đặc biệt khác do Chủ tịch nước quyết định. 1.3. Các trường hợp không được đề nghị đặc xá (Điều 12) Dù đáp ứng các điều kiện nêu trên vẫn không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau:+ Bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, khủng bố hoặc tội phạm chiến tranh theo quy định của Bộ luật Hình sự. + Bản án đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự. + Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một hành vi phạm tội khác. + Đã từng được đặc xá trước đó. + Có từ 02 tiền án trở lên. + Các trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định trong từng đợt đặc xá.  2.  Đại xá là gì?  - Theo Khoản 11 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định đại xá.- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng ghi nhận:+ Tại Khoản 1 Điều 29 “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá” + Và Theo Khoản 1 Điều 62 là căn cứ miễn chấp hành hình phạt với người bị kết án - Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định chính thức về khái niệm "đại xá". Tuy nhiên, có thể hiểu trên một số khía cạnh như sau:+ Về mặt bản chất: “Đại xá” là một chính sách khoan hồng của Nhà nước+ Đối tượng áp dụng: Là những người phạm tội trong tất cả các giai đoạn tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử) hoặc đang thực hiện việc thi hành án.+ Thời điểm áp dụng: Được áp dụng trong những sự kiện trọng đại, dịp quan trọng trong đời sống chính trị của quốc gia. + Phạm vi áp dụng: Áp dụng trên phương diện rộng, với hàng loạt hành vi phạm tội hoặc người phạm tội theo điều kiện nhất định.+ Cơ sở ra quyết định: Quyết định đại xá thường được đưa ra trong phiên họp Quốc hội và được các đại biểu thống nhất thông qua.+ Hậu quả pháp lý: Người phạm tội sau khi được “đại xá” thì không truy cứu trách nhiệm hình sự, tha tội hoàn toàn, miễn hình phạt sẽ trở thành một công dân bình thường và sẽ không có án tích ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tế, nhiều người cho rằng chỉ cần một người có hành vi gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác thì chắc chắn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam không phải lúc nào cũng xử lý người gây ra hậu quả. Có những trường hợp, mặc dù hành vi đã gây thiệt hại nhưng người thực hiện không phải chịu trách nhiệm hình sự vì thuộc một trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). I.  Loại trừ trách nhiệm hình sự là gì? - Loại trừ trách nhiệm hình sự là những trường hợp pháp luật quy định mặc dù một người thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội hoặc gây thiệt hại, nhưng do hành vi đó được thực hiện trong những điều kiện đặc biệt nên không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.- Theo Bộ luật Hình sự hiện hành, có các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, sau đây:+ Sự kiện bất ngờ;+ Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự;+ Phòng vệ chính đáng;+ Tình thế cấp thiết;+ Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội;+ Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; 1.  Sự kiện bất ngờ (Điều 20 Bộ luật Hình sự) - Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó => không phải chịu trách nhiệm hình sự.Ví dụ: Người đang điều khiển ô tô đúng quy định, bất ngờ một người lao ra đường khiến tai nạn xảy ra mà tài xế không thể tránh được. Nếu có đủ căn cứ chứng minh tài xế không thể lường trước tình huống này thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự. 2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21 Bộ luật Hình sự) - Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình => không phải chịu trách nhiệm hình sự. Phải căn cứ vào kết luận giám định pháp y tâm thần, không chỉ dựa trên việc người đó có tiền sử bệnh.- Nếu người phạm tội chỉ bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi mà chưa mất hoàn toàn => vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự Ví dụ: Một người mắc bệnh tâm thần phân liệt nặng và đang trong giai đoạn phát bệnh, có hoang tưởng rằng hàng xóm là người muốn sát hại mình. Trong cơn bệnh, người đó đã dùng gậy đánh hàng xóm gây thương tích. Sau khi vụ việc xảy ra, cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần và kết luận tại thời điểm thực hiện hành vi do mất hoàn toàn khả năng nhận thức và điều khiển hành vi vì mắc bệnh tâm thần nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. 3. Phòng vệ chính đáng (Điều 22 Bộ luật Hình sự) - Phòng vệ chính đáng là quyền của mỗi cá nhân nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác trước hành vi xâm phạm đang xảy ra.- Điều kiện để được coi là phòng vệ chính đáng gồm:+ Có hành vi tấn công trái pháp luật đang diễn ra.+ Chống trả lại 1 cách cần thiết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.+ Phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.Trong trường hợp đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên thì người phòng vệ không phải chịu trách nhiệm hình sự.- Ngược lại, nếu việc chống trả rõ ràng vượt quá mức cần thiết, được xác định là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Ví dụ: A bị B dùng dao tấn công. A giằng được con dao và chống trả để khống chế B, khiến B bị thương. Nếu việc chống trả là cần thiết và phù hợp thì đây là phòng vệ chính đáng. 4. Tình thế cấp thiết (Điều 23 Bộ luật Hình sự) - Tình thế cấp thiết là trường hợp một người buộc phải gây ra thiệt hại nhỏ hơn để ngăn chặn một thiệt hại lớn hơn đang có nguy cơ xảy ra. Nếu thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.Ví dụ: Để tránh đâm vào một nhóm học sinh sang đường, tài xế buộc phải đánh lái làm hỏng hàng rào của một hộ dân. Thiệt hại đối với tài sản nhỏ hơn rất nhiều so với thiệt hại có thể xảy ra đối với tính mạng con người. 5. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24 Bộ luật Hình sự) - Pháp luật cho phép cá nhân được sử dụng vũ lực cần thiết để bắt giữ người đang thực hiện hành vi phạm tội khi không còn cách nào khác. Trong trường hợp việc sử dụng vũ lực là cần thiết và phù hợp thì người bắt giữ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.Ngược lại, nếu sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, gây thiệt hại không tương xứng thì vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.Ví dụ: Người dân khống chế một tên cướp đang bỏ chạy khiến tên cướp bị gãy tay. Nếu việc sử dụng vũ lực là cần thiết để bắt giữ thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. 6. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25 Bộ luật Hình sự) - Trong hoạt động nghiên cứu khoa học hoặc thử nghiệm công nghệ mới luôn tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Nếu người thực hiện đã:+ Tuân thủ đúng quy trình, quy phạm;+ Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa;nhưng vẫn xảy ra thiệt hại thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu không tuân thủ quy trình hoặc bỏ qua các biện pháp an toàn thì vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.Ví dụ: Một nhóm nghiên cứu thử nghiệm thiết bị y tế theo đúng quy trình được phê duyệt nhưng thiết bị phát sinh lỗi ngoài dự liệu gây thiệt hại. Nếu đã thực hiện đầy đủ quy định về an toàn thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.  
Tình huống:Chị Tú hỏi: Anh trai tôi hiện đang bị tạm giam để phục vụ quá trình điều tra. Gia đình muốn gửi đồ ăn, đồ uống, một số đồ dùng sinh hoạt và tiền cho anh nhưng không biết pháp luật quy định người bị tạm giam được nhận những loại quà gì, một tháng được nhận bao nhiêu lần và những ai được phép gửi quà. Vậy trường hợp này được quy định như thế nào? Trả lời: Theo quy định mới nhất tại Điều 3 Thông tư 63/2026/TT-BCA cụ thể như sau: 1. Người bị tạm giam được nhận những loại quà gì? Người bị tạm giam được nhận một số loại quà từ người thân thích gồm: tiền Việt Nam đồng, đồ ăn, đồ uống và đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, trừ những đồ vật thuộc danh mục cấm.+ Đối với đồ ăn, đồ uống, người thân gửi quà phải mua tại căng tin của cơ sở giam giữ. + Đối với đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, có thể bao gồm: áo, quần, băng vệ sinh phụ nữ, bàn chải đánh răng bằng nhựa, bát nhựa, cốc nhựa, chăn, chiếu, chậu nhựa, dung dịch vệ sinh phụ nữ, dép nhựa, dầu gội đầu, sữa tắm, gối, khăn mặt, kem đánh răng, màn, xà phòng, nước rửa chén bát, tất, thìa nhựa và các vật dụng khác theo quy định. 2. Một tháng người bị tạm giam được nhận quà mấy lần? - Người bị tạm giam được nhận quà của người thân thích không quá 03 lần/01 tháng, mỗi lần không quá 05 kg.- HOẶC Người bị tạm giam có thể được nhận quà 01 lần/01 tháng nhưng không quá 07 kg.Riêng đối với đồ ăn, đồ uống, mỗi lần gửi không được vượt quá 10 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường của 01 người bị tạm giam. 3. Người thân thích được gửi quà là những ai? - Theo khoản 10 Điều 2 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025, người thân thích của người bị tạm giữ, người bị tạm giam bao gồm:+ Vợ, chồng; + Bố đẻ, mẹ đẻ; bố chồng, mẹ chồng; bố vợ, mẹ vợ; + Bố nuôi, mẹ nuôi; + Con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; + Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; + Anh ruột, chị ruột, em ruột; + Cụ nội, cụ ngoại; + Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột; + Cháu ruột, chắt ruột. => Người đến cơ sở giam giữ gửi quà phải thuộc nhóm người thân thích nêu trên và thực hiện thủ tục theo quy định và khi đến cơ sở giam giữ làm thủ tục gửi quà phải là người có tên trong Sổ thăm gặp và gửi quà do cơ sở giam giữ cấp.- Nếu người thân thích đến gửi quà lần đầu hoặc chưa có tên trong Sổ thăm gặp và gửi quà  THÌ phải có giấy tờ chứng minh mình là người thân thích của người bị tạm giam.(Việc chứng minh quan hệ thân thích có thể được thực hiện thông qua ứng dụng VNeID nếu các bên cùng là thành viên trong hộ gia đình hoặc bằng đơn đề nghị xác nhận là người thân thích có dán ảnh và được xác nhận theo quy định.) 4. Có trường hợp nào bị tạm dừng nhận quà không? - Trong trường hợp bất khả kháng nhằm phòng, chống thiên tai, dịch bệnh Thủ trưởng cơ sở giam giữ có thể quyết định tạm dừng việc nhận quà.- Việc tạm dừng phải nêu rõ thời gian và được niêm yết công khai tại địa điểm tiếp công dân trong cơ sở giam giữ. Kết luận:   + Người bị tạm giam được nhận tiền, đồ ăn, đồ uống và một số đồ dùng sinh hoạt thiết yếu từ người thân thích. + Về số lần, người bị tạm giam được nhận quà không quá 03 lần/tháng, mỗi lần không quá 05 kg hoặc 01 lần/tháng không quá 07 kg. + Người thân muốn gửi quà cũng cần thực hiện đúng thủ tục và chứng minh quan hệ theo quy định. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.  
Bùi Xuân Huấn được biết đến với biệt danh là "Huấn hoa hồng" thường tập trung hoạt động chủ yếu trên không gian mạng, trên mạng xã hội Facebook, ứng dụng TikTok và thông qua đó để tạo dựng hình ảnh gây ảnh hưởng với cộng đồng mạng, thu hút hàng triệu lượt người theo dõi bằng những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật; phát ngôn, truyền bá các nội dung phản cảm, tạo ra những tranh cãi, mâu thuẫn với những cá nhân khác có ảnh hưởng trên không gian mạng... Trước đó, ngày 6/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của Bùi Xuân Huấn và các đối tượng liên quan. Đồng thời, triệu tập các đối tượng để lấy lời khai, làm rõ các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Ngày 10/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với 5 bị can gồm: Bùi Xuân Huấn, Hoàng Ngọc Cường, Trương Thị Thương, Phạm Thị Ngọc Linh và Kiều Thị Hồng về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Mở rộng điều tra, ngày 14/8, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Bùi Xuân Huấn về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Với những hành vi này, Bùi Xuân Huấn có thể bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. Đối tượng Bùi Xuân Huấn (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Chiếm đoạt hơn 3 tỷ đồng và trách nhiệm về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Theo thông tin ban đầu xác định, thông qua sức ảnh hưởng trên mạng xã hội từ hoạt động bán hàng online, kêu gọi từ thiện Bùi Xuân Huấn đã chiếm đoạt tiền của nhiều người khác với tổng số tiền hơn 3 tỷ đồng. Để xác định trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ phương thức mà Huấn sử dụng để có được tài sản của người khác.  - Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Người nào có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối làm cho người khác tin tưởng và giao tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Mức hình phạt: + Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân.=> Như vậy, nếu số tiền hơn 3 tỷ đồng được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là số tiền Huấn thực tế chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Điều 174 thì sẽ phải đối mặt với mức hình phạt như trên. 2. Doanh thu hơn 300 tỷ đồng không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để ngoài sổ sách kế toán và trách nhiệm hình sự - Theo thông tin được công bố, hoạt động kinh doanh này có tổng doanh thu hơn 300 tỷ đồng nhưng Bùi Xuân Huấn cùng các đồng phạm không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để doanh thu ngoài sổ sách kế toán và gây thiệt hại nhiều tỷ đồng cho Ngân sách Nhà nước. - Vì vậy, Theo Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định hành vi trên đã thuộc vào trường hợp quy định tại Khoản 3 vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên. => Mức hình phạt: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của Bùi Xuân Huấn cùng đồng phạm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tối 18/8/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với 4 bị can gồm: Lê Văn Phú (tức Phú Lê), Lã Thúy Kiều, Phùng Thị Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan về các tội danh: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Theo thông tin điều tra ban đầu, trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023, Lã Thúy Kiều và Lê Văn Phú đã tham gia thành lập Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Xuất nhập khẩu Thiên Phú, Công ty TNHH Thanh Quang Đăng, Công ty TNHH Thương mại Thiên Phú Group. Thông qua 03 công ty nêu trên, Lã Thúy Kiều đã thuê gia công, buôn bán nhiều sản phẩm hàng hóa, quảng cáo trên nhiều nền tảng mạng xã hội với nội dung thổi phồng công dụng để thu hút khách hàng.  Riêng giai đoạn 2021-2025, Công ty Thiên Phú được xác định bán hàng nhưng không lập hóa đơn, không kê khai đầy đủ doanh thu. Hơn 107 tỷ đồng tiền bán hàng được chuyển vào nhiều tài khoản cá nhân của Kiều, Phú và người thân nhưng không được hạch toán vào sổ sách kế toán. Vậy các đối tượng có thể phải đối mặt với những chế tài nào? Đối tượng Lê Văn Phú (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Hơn 107 tỷ đồng doanh thu không hạch toán có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Khoản 3 Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định:+ Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trách nhiệm trong việc lập, cập nhật, kiểm tra sổ sách, báo cáo tài chính hoặc tài liệu kế toán mà vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán, gây thiệt hại thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.- Mức hình phạt: Trường hợp phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.  2. Không xuất hóa đơn, lập hóa đơn khống có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Điều 203 Bộ luật hình sự 2015 quy định phụ thuộc vào số lượng hóa đơn, số tiền thu lợi bất chính, mức thiệt hại đối với ngân sách nhà nướcTrường hợp 1: Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng:+ Phôi: từ 50 số - dưới 100 số+ Đã ghi nội dung: từ 10 số - dưới 30 số + Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng - dưới 100.000.000 đồng=> Phạt tiền từ 50.000.000 đồng - 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.Trường hợp 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên;g) Tái phạm nguy hiểm.=> Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của các đối tượng. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong đời sống hôn nhân, việc vợ chồng quản lý, sử dụng chung tiền bạc là điều phổ biến. Tuy nhiên, không phải mọi khoản tiền do một bên đang quản lý đều đương nhiên là tài sản chung của vợ chồng. Vậy chồng tự ý lấy tiền của vợ có bị xử lý về Tội trộm cắp tài sản hay không? Câu trả lời phụ thuộc trước hết vào việc khoản tiền đó là tài sản riêng hay tài sản chung để từ đó xác định trách nhiệm pháp lý. Dưới đây là những phân tích chi tiết về vấn đề này. 1. Chồng lấy tiền là tài sản riêng của vợ có thể phạm tội trộm cắp tài sản? - Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản riêng của vợ, chồng gồm: + Tài sản có trước khi kết hôn; + Tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng; + Tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân và các tài sản khác thuộc sở hữu riêng theo quy định pháp luật. - Nếu khoản tiền là tài sản riêng của vợ mà người chồng tự ý lấy, lén lút chiếm đoạt để sử dụng cho mục đích cá nhân thì có thể bị xem xét về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự khi đủ các dấu hiệu truy cứu TNHS  cụ thể: + Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định => Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.+ Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 quy định tại Điều luật này=> Bị phạt tù từ 2 năm đến 20 năm. - Pháp luật hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự chỉ vì người thực hiện hành vi là vợ hoặc chồng của người bị mất tài sản. Ví dụ: Chị A có 200 triệu đồng được tặng cho riêng và có căn cứ chứng minh đây là tài sản riêng. Anh B là chồng tự ý chuyển 100 triệu đồng từ tài khoản của chị A sang tài khoản của mình để sử dụng. Nếu chứng minh được hành vi lén lút chiếm đoạt, anh B có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự. 2. Nếu tiền là tài sản chung của vợ chồng thì sao? - Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản chung gồm: + Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh + Hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân + Tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung hoặc được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. - Theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.”  - Vì vậy, nếu tiền là tài sản chung, việc người chồng tự ý lấy tiền do vợ đang quản lý không cấu thành Tội trộm cắp tài sản, bởi người chồng cũng có quyền đối với tài sản chung. => Trường hợp này có thể phát sinh tranh chấp về việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung và cần xem xét theo quy định của pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình. 3. Chồng chiếm đoạt tiền của vợ có thể bị xử phạt hành chính về bạo lực kinh tế? - Ngoài trách nhiệm hình sự, hành vi chiếm đoạt tài sản của thành viên gia đình còn có thể bị xử phạt như sau: Theo Điểm a khoản 1 Điều 44 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định:“Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:a) Chiếm đoạt tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình.” => Như vậy, nếu chồng chiếm đoạt tài sản riêng của vợ, hành vi có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng về hành vi bạo lực về kinh tế, nếu thuộc trường hợp xử phạt hành chính. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Dao là vật dụng quen thuộc trong đời sống và được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, không phải mọi loại dao đều được  định là vũ khí quân dụng. Đặc biệt, pháp luật hiện hành có quy định riêng đối với dao có tính sát thương cao khi loại dao này được sử dụng nhằm xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Vậy dao được coi là vũ khí quân dụng khi nào và sử dụng dao trong trường hợp nào có thể bị xử lý hình sự? Dưới đây là những phân tích các quy định pháp luật về vấn đề này. Nguồn: Ảnh Phụ lục 5 Thông tư số 75/2024/TT-BCA 1. Vũ khí quân dụng là gì? Trường hợp nào dao được xác định là vũ khí quân dụng? - Theo khoản 1 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024:“Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những thiết bị, phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, súng săn.” - Dao được xác định là vũ khí quân dụng khi đáp ứng các điều kiện như sau: + Theo Khoản 6 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.” => Phải là dao có tính sát thương cao + Theo Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Vũ khí quân dụng bao gồm: Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5 và dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật;....”=> Sử dụng dao có tính sát thương cao với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật - Có thể hiểu đơn giản:+ Dao có tính sát thương cao + sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật =>  Là vũ khí quân dụng. 2. Dao có tính sát thương cao là những loại dao nào? - Theo Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư 75/2024/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an đã quy định Danh mục dao có tính sát thương cao như sau: + Dao sắc, nhọn: Lưỡi sắc và nhọn, hình dạng thẳng hoặc cong, có chiều dài từ 12cm trở lên, chiều rộng từ 2cm trở lên.+ Dao sắc: Lưỡi sắc không có đầu nhọn, hình dạng thẳng hoặc cong, chiều dài từ 20cm trở lên, chiều rộng từ 05cm trở lên.+ Dao gấp, dao bấm: Lưỡi có một hoặc nhiều cạnh sắc, nhọn, gấp hoặc bấm lại được, chiều dài từ 07cm trở lên.+ Dao tự chế hoặc hoán cải: Tay cầm dài từ 30cm trở lên; lưỡi có chiều dài từ 05cm trở lên, sắc nhọn hoặc sắc hoặc nhọn. 3. Hậu quả pháp lý của việc sử dụng dao để xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác? Tùy vào các trường hợp cụ thể có thể bị xử lý về hình sự phụ thuộc vào hành vi cụ thể, hậu quả xảy ra, mục đích của người sử dụng dao và các tình tiết khác của vụ việc. Tình huống 1: Dùng dao để xâm phạm đến sức khỏe của người khác - Nếu sử dụng dao để cố ý gây thương tích cho người khác, hành vi thỏa mãn đủ các yếu tố cấu thành tội phạm VÀ dao được xác định là vũ khí quân dụng thì => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời hoặc tùy nghi theo 2 tội danh khác nhau:  + Truy cứu về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015  + Truy cứu về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015. Tình huống 2: Dùng dao để xâm phạm đến tính mạng của người khác - Nếu người sử dụng dao thực hiện hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của người khác và hành vi thỏa mãn đủ các yếu tố cấu thành tội phạm VÀ dao được xác định là vũ khí quân dụng thì => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời hoặc tùy nghi theo 2 tội danh khác nhau: + Truy cứu về Tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015. + Truy cứu  về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tế, khi bị người khác dùng vũ lực tấn công, người bị tấn công thường buộc phải chống trả để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình hoặc của người khác. Tuy nhiên, trong quá trình chống trả có thể xảy ra hậu quả nghiêm trọng, thậm chí làm người tấn công tử vong. Vậy nếu chống trả để tự vệ nhưng vô tình hoặc buộc phải làm chết người đang tấn công mình thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? 1. Phòng vệ chính đáng là gì? - Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: " Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo quyền, lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên"  Ví dụ, A cầm dao lao vào đâm B. Trong lúc bị tấn công, B giằng được con dao và chống trả nhằm ngăn A tiếp tục đâm mình. Nếu việc chống trả của B là cần thiết trong tình huống đó thì có thể được xem xét là phòng vệ chính đáng.  2. Phòng vệ chính đáng nhưng làm chết người có phạm tội không?  - Cũng theo Khoản 1 Điều 22, pháp luật khẳng định phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.  - Theo đó, nếu hành vi chống trả đáp ứng đầy đủ điều kiện của phòng vệ chính đáng, thì dù hậu quả khiến người đang thực hiện hành vi xâm phạm tử vong, người phòng vệ vẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ vì hậu quả chết người xảy ra.  Ví dụ, A dùng dao liên tục tấn công B vào những vùng nguy hiểm trên cơ thể. B không thể bỏ chạy và phải chống trả để bảo vệ tính mạng. Trong quá trình giằng co, B vô tình hướng con dao về lại phía của A, khiến con dao đâm vào A và A tử vong. Khi xem xét trách nhiệm của B, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá toàn bộ diễn biến vụ việc, đặc biệt là mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công và sự cần thiết của hành vi chống trả.  3. Khi nào phòng vệ làm chết người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?  - Khoản 2 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:  " Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.  Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự"  Ví dụ, A dùng gậy đánh B . Sau đó, B giằng được cây gậy đó đuổi theo A và đánh A nhiều nhát dẫn A bị tử vong. Tại thời điểm B dùng gậy đánh A, hành vi xâm hại của A đã chấm dứt thì không thể coi hành vi của B là chống trả cần thiết nhằm phòng vệ chính đáng. Trường hợp này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo tính chất thực tế của hành vi.  --> Như vậy, nếu phòng vệ chính đáng không tương xứng với hành vi tấn công, thì người có hành vi vượt giới hạn phòng vệ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.  4. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng làm chết người bị xử lý như thế nào?  Nếu cơ quan có thẩm quyền xác định người phòng vệ đã chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, và hành vi đó làm người tấn công tử vong thì có thể bị truy cứu về Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Điều 126 Bộ luật Hình sự.       - Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.         -  Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm. - Lưu ý: Điều 126 chỉ được áp dụng khi hành vi xảy ra trong hoàn cảnh có quyền phòng vệ nhưng người phòng vệ đã chống trả quá mức cần thiết  Nếu hành vi tấn công của phía bên kia đã kết thúc nhưng người được xác định là đang bị xâm hại vẫn chủ động đuổi theo, tấn công nhằm trả thù và cố ý tước đoạt tính mạng của người đó thì không đương nhiên được áp dụng Điều 126. Trách nhiệm hình sự phải được xác định dựa trên hành vi và các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể.  5. Phòng vệ chính đáng làm chết người có phải bồi thường không?  - Điều 594 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:  " Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.  Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại."  --> Do đó, nếu một người được xác định thực hiện hành vi phòng vệ hoàn toàn chính đáng thì họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại gây ra cho người thực hiện hành vi xâm phạm.  Nếu hành vi chống trả vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì ngoài việc có thể chịu trách nhiệm hình sự, người gây thiệt hại còn có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật.  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, ngày 19/10/2026, nam sinh L.H.V., học sinh lớp 12 Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, xã Nội Bài, Hà Nội, cùng một số học sinh khác bị cô giáo L.T.H. yêu cầu đứng góc lớp do không hoàn thành bài tập về nhà. Trong lúc cô giáo đang giảng bài, nam sinh đã dùng tay đánh vào vùng đầu, mặt của cô, khiến cô bị thương và gãy xương cánh mũi phải. Theo thông tin nhà trường công bố ngày 21/10/2026, kết quả giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của cô giáo là 12%. Vậy với hành vi này, nam sinh có thể phải chịu hình phạt nào theo quy định pháp luật? 1. Nam sinh hành hung cô giáo có thể phải chịu hình phạt nào? + Theo  Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định: “Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:....d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:...đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.” --> Trong vụ việc này, nam sinh có thể bị khởi tố theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù. + Tuy nhiên, nam sinh mới 17 tuổi tại thời điểm xảy ra vụ việc nên việc quyết định hình phạt phải tuân thủ các quy định riêng về người chưa thành niên phạm tội. Theo Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội phải chú trọng mục đích giáo dục và tạo điều kiện để họ sửa chữa sai lầm. Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xem xét độ tuổi, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cùng điều kiện áp dụng những biện pháp xử lý theo quy định. --> Vì vậy, khung hình phạt 02– 06 năm tù là khung hình phạt của tội danh đang bị điều tra, không đồng nghĩa với việc nam sinh chắc chắn phải chịu mức án này. Mức hình phạt cụ thể, nếu bị kết tội, sẽ do Tòa án quyết định trên cơ sở quy định dành cho người chưa thành niên. 2. Nam sinh và gia đình có phải bồi thường thiệt hại cho cô giáo không? Ngoài trách nhiệm hình sự, hành vi gây thương tích còn có thể làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự. + Theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, người bị xâm phạm sức khỏe có quyền yêu cầu bồi thường các khoản thiệt hại hợp lý, bao gồm: Chi phí khám, chữa bệnh, điều trị và phục hồi sức khỏe. Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút trong thời gian điều trị. Chi phí hợp lý và thu nhập bị mất của người chăm sóc, nếu có. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần theo quy định pháp luật. +  Đối với trách nhiệm bồi thường của người chưa thành niên, khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. --> Do đó, nếu xác định nam sinh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, việc thực hiện nghĩa vụ này sẽ được xem xét theo quy định trên, căn cứ vào thiệt hại thực tế và các chứng cứ liên quan. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng. 
 
hotline 0936 645 695