LUẬT SƯ TRẢ LỜI

Theo quy định của Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT, từ ngày 14/2/2025 một số trường hợp đã bị cấm dạy thêm, tổ chức dạy thêm. Tuy nhiên mới đây, Luật Nhà giáo được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2025 và có hiệu lực từ 1/1/2026 đã đề cập đến hoạt động dạy thêm, học thêm, thu hút sự chú ý của dư luận. Vậy quy định mới này, có cấm việc dạy thêm, học thêm hay không? Mời bạn đọc cùng Luật Phương Bình tìm hiểu qua bài viết dưới đây: 1. Dạy thêm, học thêm là gì? Luật Nhà giáo không đề cập đến khái niệm "học thêm, dạy thêm" thuy nhiên, theo Điều 2, thông tư 29/2024/TT-BGDDT định nghĩa: "Dạy thêm, học thêm là hoạt động dạy học phụ thêm ngoài thời lượng quy định trong kế hoạch giáo dục đối với các môn học, hoạt động giáo dục (sau đây gọi chung là môn học) trong Chương trình giáo dục phổ thông, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành." 2. Không cấm dạy thêm, học thêm từ ngày 01/01/2026? Luật Nhà giáo vừa được không qua quy định rất cụ thể về những việc không được làm trong hoạt động nghề nghiệp của nhà giáo. Song, không có nội dung  "cấm dạy thêm" mà chỉ nghiêm cấm "ép buộc người học tham gia học thêm dưới mọi hình thức." Điều này có nghĩa là nhà giáo được phép tổ chức dạy thêm nếu hoạt động này do người học tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật hiện tại. Như vậy, Luật nhà giáo có hiệu lực từ 1/1/2026 không cấm dạy thêm, tuy nhiên, việc tổ chức dạy thêm, học thêm vẫn phải tuân theo quy định của pháp luật có liên quan.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Tranh chấp tài sản sau ly hôn có yếu tố nước ngoài thường phức tạp do liên quan đến pháp luật của nhiều quốc gia, tài sản ở nhiều nơi, và sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ. Để bảo vệ quyền lợi và tránh thiệt hại, cần nắm rõ các bước sau theo quy định pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. 1. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài là gì? Hôn nhân có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Khi xảy ra tình huống không mong muốn dẫn đến hôn nhân đổ vỡ, hai vợ chồng ly hôn sẽ cần giải quyết những vấn đề về con chung, cấp dưỡng, đặc biệt là về tài sản. Việc phân chia tài sản sau ly hôn cần phải tuân theo pháp luật Việt Nam bao gồm: Luật hôn nhân và gia đình, Bộ Luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự cùng các hiệp định hỗ trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết với quốc gia khác. 2. Xác định tài sản đang tranh chấp Do sự khác biệt về hệ thống pháp luật của từng quốc gia.  Trước tiên, bạn cần phải xác định được tài sản ở đâu, ở quốc gia nào và Việt Nam có ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với quốc gia đó hay không. Thứ hai, tài sản đó là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, động sản hay bất động sản. Bên cạnh đó cũng cần xác định được ai đứng tên và có được hình thành trong hôn nhân hay không. Quy định của Việt Nam về tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng như sau: Căn cứ vào Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung của hai vợ chồng bao gồm tài sản do vợ và chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng như lợi ích, lợi nhuận phát sinh từ tài sản riêng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân trừ những trường hợp được quy định tại khoản 1 của Điều 40 trong Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản kế thừa hoặc được tặng chung và tài sản mà vợ chồng đã thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất sau hôn nhân cũng được xem xét là tài sản chung, trừ khi có các trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế, tặng riêng, hoặc thông qua giao dịch sử dụng tài sản riêng. Nếu không có bằng chứng để chứng minh rằng tài sản của vợ chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên, thì tài sản đó sẽ được coi là tài sản chung. Căn cứ vào Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng của vợ và chồng bao gồm: tài sản mà mỗi người sở hữu trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế hoặc tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ và chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ và chồng cùng với các tài sản khác thuộc sở hữu riêng của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ và chồng cũng được xem xét là tài sản riêng của họ. Hoa lợi và lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. 3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật để chia tài sản có yếu tố nước ngoài Căn cứ theo Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài: 1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này. 2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam. 3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó. Như vậy, việc áp dụng pháp luật để phân chia tài sản có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam sẽ được giải quyết tuân theo pháp luật của nơi có tài sản hoặc pháp luật Việt Nam phụ thuộc vào tài sản đó ở đâu và chủ thể ly hôn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Khi ly hôn, việc xác định quyền nuôi con là một trong những vấn đề quan trọng, đặc biệt đối với con dưới 36 tháng tuổi. Pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho trẻ như sau: 1. Quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi sau khi ly hôn được pháp luật quy định như thế nào? Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khi cha mẹ ly hôn, việc nuôi con được ưu tiên dựa trên lợi ích của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ nuôi, trừ khi người mẹ không có đủ điều kiện nuôi dưỡng (ví dụ: không có thu nhập ổn định, sức khỏe không đảm bảo, hoặc có hành vi bạo lực gia đình) hoặc cha mẹ có thỏa thuận khac phù hợp với lợi ích của con cái. Lợi ích của con được xem là yêu tố quyết định hàng đầu. Tòa án sẽ xem xét các yếu tố như điều kiện kinh tế, môi trường sống, thời gian chăm sóc, và khả năng giáo dục của cha/mẹ. 2. Nghĩ vụ cấp dưới của cha mẹ đối với con Để đảm bảo quyền lợi của người con, mặc dù ly hôn và không nuôi con trực tiếp nhưng cha mẹ vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng được ghi nhận tại Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:  "Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.” Về mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Điều 116, Luật hôn nhân và gia đình 2014. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Trong xã hội Việt Nam, việc nhận con nuôi không chỉ thể hiện giá trị nhân văn mà còn gắn kết các mối quan hệ gia đình. Tuy nhiên, nhiều người băn khoăn liệu con nuôi có được hưởng quyền thừa kế như con đẻ hay không. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định rõ ràng để đảm bảo quyền lợi của con nuôi trong vấn đề này. 1. Con nuôi có được hưởng thừa kế như con đẻ? Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất, ngang hàng với con đẻ, vợ/chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của người để lại di sản. Điều này có nghĩa là con nuôi hợp pháp có quyền hưởng phần di sản bằng nhau với con đẻ, bất kể theo di chúc hay theo pháp luật. Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015 cũng khẳng định con nuôi và cha mẹ nuôi có quyền thừa kế di sản của nhau, tương tự như quan hệ giữa con đẻ và cha mẹ đẻ. Do đó, khi cha mẹ nuôi qua đời, con nuôi hợp pháp được hưởng thừa kế tài sản như con đẻ. 2. Điều kiện để con nuôi được công nhận hợp pháp Để con nuôi có quyền thừa kế như con đẻ, việc nhận nuôi phải đáp ứng các điều kiện sau: * Điều kiện của người nhận con nuôi Căn cứ theo khoản 1 Điều 14 Luật con nuôi 2010 quy định người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây: - Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; - Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; - Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; - Có tư cách đạo đức tốt. Lưu ý: Tại khoản 3 Điều 14 Luật con nuôi 2010 quy định: Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không cần các điều kiện: - Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; - Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 14 Luật con nuôi 2010 quy định những người sau đây không được nhận con nuôi: - Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; - Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; - Đang chấp hành hình phạt tù; - Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. * Điều kiện của người được nhận làm con nuôi - Trẻ em dưới 16 tuổi - Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: + Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; + Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. - Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. * Đăng ký nhận con nuôi: Căn cứ Điều 9 Luật con nuôi 2010, việc nhận con nuôi phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền như sau: - Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước. - Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. - Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài đăng ký việc nuôi con nuôi của công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài. Như vậy, để được công nhận là con nuôi hợp pháp thì việc nhận con nuôi phải được thực hiện theo đúng quy định. Khi đó, con nuôi mới có quyền thừa kế ngang hàng với con ruột. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Kêu gọi từ thiện qua mạng xã hội đang trở thành cầu nối lan tỏa lòng nhân ái, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, một số cá nhân lợi dụng lòng tốt, dựng chuyện bi thương để chiếm đoạt tiền quyên góp. Hành vi này không chỉ gây tổn hại niềm tin mà còn vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam. 1. Lừa đảo tiền từ thiện là gì? Từ thiện là một hành động trợ giúp người gặp hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống mà tự họ không thể thay đổi được. Hoạt động từ thiện có thể thông qua hình thức quyên góp, hiến tặng bằng tiền, vật phẩm,... đến các tổ chức từ thiện nhằm mục đích cứu trợ nhân đạo, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe,... Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch, đoạt lấy, chiếm lấy tài sản của người khác trái pháp luật, để nắm giữ, quản lý, sử dụng, định đoạt bằng cách dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội. Như vậy, lừa đảo tiền từ thiện có nghĩa là một tổ chức, cá nhân kêu gọi quyên góp với mục đích cứu trợ nhân đạo, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe,...nhưng không sử dụng số tiền quyên góp đúng với mục đích kêu gọi. 2. Quy định pháp luật về tội lừa đảo tiền từ thiện Theo Điều 5 Nghị định 93/2021/NĐ-CP, các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động từ thiện bao gồm: - Cản trở hoặc ép buộc tổ chức, cá nhân tham gia vận động, đóng góp, tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện; - Báo cáo, cung cấp thông tin không đúng sự thật; chiếm đoạt; phân phối, sử dụng sai mục đích, không đúng thời gian phân phối, đối tượng được hỗ trợ từ nguồn đóng góp tự nguyện; - Lợi dụng công tác vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện để trục lợi hoặc thực hiện các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi giả danh, lừa đảo để kêu gọi quyên góp có thể thuộc trường hợp bị nghiêm cấm trên. Sẽ bị xử phạt hành chính nếu người kêu gọi quyên góp từ thiện có một trong các hành vi trên thì căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, người vi phạm có thể bị phạt vi phạm hành chính từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, còn bị tịch thu toàn bộ số tiền đã kêu gọi, quyên góp được. Bên cạnh đó, việc kêu gọi từ thiện nhằm chiếm đoạn tiền quyên góp có thể bị truy cứu hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Tùy mức độ, người vi phạm có thể bị phạt tù lên đến 20 năm hoặc tù chung thân. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Trong bối cảnh cơ quan thuế tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh gần đây, hành vi cố tình che giấu doanh thu để né thuế đang bị xử lý nghiêm khắc. Không chỉ vi phạm pháp luật, hành vi này còn kéo theo hậu quả nặng nề, từ phạt hành chính với số tiền lớn đến nguy cơ truy cứu trách nhiệm hình sự, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và tài chính của hộ kinh doanh. Bài viết dưới đây phân tích rõ hành vi che giấu doanh thu theo Điều 10 Thông tư 40/2021/TT-BTC, Luật Quản lý thuế 2019, và các mức phạt theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP, đồng thời nhấn mạnh hậu quả pháp lý trong năm 2025. 1. Hành vi che giấu doanh thuế né thuế có vi phạm pháp luật không? Theo Điều 10 Thông tư 40/2021/TT-BTC, căn cứ tính thuế của hộ kinh doanh là doanh thu tính thuế nhân với tỷ lệ thuế tính trên doanh thu. Trong đó doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNCN đối với hộ kinh doanh là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, chi hỗ trợ bằng tiền hoặc không bằng tiền; các khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội, phí thu thêm được hưởng theo quy định; các khoản bồi thường vi phạm hợp đồng, bồi thường khác (chỉ tính vào doanh thu tính thuế TNCN); doanh thu khác mà hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Như vậy, việc cố tình che giấu doanh thu để giảm số thuế phải nộp là hành vi vi phạm pháp luật tại khoản 4 Điều 6 Luật Quản lý thuế 2019: "Cố tình không kê khai hoặc kê khai thuế không đầy đủ, kịp thời, chính xác về số tiền thuế phải nộp." 2. Mức phạt khi cố tình che giấu doanh thu để né thuế  Tùy vào tính chất và mức độ vi phạm, hộ kinh doanh che giấu doanh thu có thể bị xử phạt về hành vi khai sai tại Điều 16 hoặc trốn thuế tại Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, cụ thể: (1) Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn Phạt 20% số tiền thuế khai thiếu nếu nghiệp vụ kinh tế được ghi đầy đủ trên sổ kế toán hoặc tự giác khai bổ sung trước khi bị thanh tra. Buộc nộp đủ số thuế thiếu, tiền chậm nộp và điều chỉnh số liệu kế toán (nếu có). (2) Xử phạt hành vi trốn thuế Phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn, tùy thuộc vào tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ: Buộc nộp đủ số thuế trốn và tiền chậm nộp Nếu vi phạm nghiêm trọng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (Tội trốn thuế). Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Chính thức bỏ thuế khoán từ 01/01/2026, theo đó cá nhân kinh doanh sẽ nộp thuế theo 02 phương pháp mới. Công ty Luật Phương Bình xin chia sẻ qua bài viết dưới đây: Bỏ thuế khoán từ 01/01/2026: 02 Phương pháp nộp thuế dành cho cá nhân kinh doanh (Hình từ internet) Chính thức bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh từ 01/01/2026 Ngày 17/5/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết 198/2025/QH15 nêu rõ, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không áp dụng phương pháp khoán thuế từ ngày 01/01/2026. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo pháp luật về quản lý thuế.  Trước đó, tại Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nội dung.  Đáng chú ý, tại nhiệm vụ hỗ trợ thực chất, hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh, Bộ Chính trị yêu cầu xóa bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ kinh doanh chậm nhất trong năm 2026. Như vậy, kể từ ngày 01/01/2026, sẽ bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Bỏ thuế khoán từ 01/01/2026: 02 Phương pháp nộp thuế dành cho cá nhân kinh doanh Theo quy định hiện hành tại Thông tư 40/2021/TT-BTC, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có thể nộp thuế theo phương pháp kê khai, phương pháp khai thuế theo từng lần phát sinh và phương pháp khoán.  Do đó, khi bỏ thuế khoán, cá nhân kinh doanh có thể lựa chọn nộp thuế theo phương pháp kê khai hoặc phương pháp khai thuế theo từng lần phát sinh tuỳ theo hình thức kinh doanh. Cụ thể, phương pháp kê khai áp dụng đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh quy mô lớn; và hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chưa đáp ứng quy mô lớn nhưng lựa chọn nộp thuế theo phương pháp kê khai. Phương pháp khai thuế theo từng lần phát sinh áp dụng đối với cá nhân kinh doanh không thường xuyên và không có địa điểm kinh doanh cố định. Kinh doanh không thường xuyên được xác định tùy theo đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh của từng lĩnh vực, ngành nghề và do cá nhân tự xác định để lựa chọn phương pháp khai thuế theo hướng dẫn. Địa điểm kinh doanh cố định là nơi cá nhân tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh như: địa điểm giao dịch, cửa hàng, cửa hiệu, nhà xưởng, nhà kho, bến, bãi hoặc địa điểm tương tự khác. (Điều 5, 6 Thông tư 40/2021/TT-BTC) Căn cứ tính thuế đối với cá nhân kinh doanh  Căn cứ tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là doanh thu tính thuế và tỷ lệ thuế tính trên doanh thu. (1) Doanh thu tính thuế Doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNCN đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, chi hỗ trợ bằng tiền hoặc không bằng tiền; các khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội, phí thu thêm được hưởng theo quy định; các khoản bồi thường vi phạm hợp đồng, bồi thường khác (chỉ tính vào doanh thu tính thuế TNCN); doanh thu khác mà hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. (2) Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu - Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu gồm tỷ lệ thuế GTGT và tỷ lệ thuế TNCN áp dụng chi tiết đối với từng lĩnh vực, ngành nghề theo hướng dẫn tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 40/2021/TT-BTC. -  Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoạt động nhiều lĩnh vực, ngành nghề thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện khai và tính thuế theo tỷ lệ thuế tính trên doanh thu áp dụng đối với từng lĩnh vực, ngành nghề. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu tính thuế của từng lĩnh vực, ngành nghề hoặc xác định không phù hợp với thực tế kinh doanh thì cơ quan thuế thực hiện ấn định doanh thu tính thuế của từng lĩnh vực, ngành nghề theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. (3) Xác định số thuế phải nộp Số thuế GTGT phải nộp = Doanh thu tính thuế GTGT x Tỷ lệ thuế GTGT Số thuế TNCN phải nộp = Doanh thu tính thuế TNCN x Tỷ lệ thuế TNCN Trong đó: - Doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNCN theo hướng dẫn tại khoản (1) . - Tỷ lệ thuế GTGT và tỷ lệ thuế TNCN theo hướng dẫn tại Phụ lục I ban hành kèm Thông tư 40/2021/TT-BTC. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Không nộp phạt vi phạm giao thông, bỏ lại phương tiện thì có bị làm sao không? Hiện nay, theo quy định tại Nghị định 168/2024/NĐ-CP, trong trường hợp không nộp phạt khi vi phạm giao thông thì có thể áp dụng các hình thức cưỡng chế. Trong bài viết dưới đây, Vietlawyer xin chia sẻ cụ thể về nội dung này như sau:  Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bao gồm việc trừ điểm và phục hồi điểm trên giấy phép lái xe, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025. Theo quy định tại Nghị định này, người điều khiển phương tiện đi ngược chiều, di chuyển trên vỉa hè (ngoại trừ trường hợp đi qua vỉa hè để vào nhà riêng hoặc cơ quan), không tuân thủ tín hiệu đèn giao thông, điều khiển xe máy không gắn biển số hoặc gắn biển số không trùng khớp với chứng nhận đăng ký xe, sử dụng biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp sẽ bị xử phạt từ 04 - 06 triệu đồng...và còn nhiều những xử phạt với hành vi vi phạm khác với mức phạt tương đối cao.  Do mức phạt đối với các hành vi vi phạm giao thông khá cao, thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp người vi phạm khi bị lực lượng chức năng xử lý đã cố tình không thực hiện nghĩa vụ nộp phạt, thậm chí bỏ lại phương tiện để tránh trách nhiệm. Về chế tài đối với hành vi này, theo Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm kể từ ngày ra quyết định. Nếu quá thời hạn này, quyết định xử phạt sẽ không còn hiệu lực, trừ trường hợp quyết định có kèm theo hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hoặc biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải thực hiện theo quy định. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh hoặc trì hoãn việc thực hiện quyết định xử phạt, thời hiệu nêu trên sẽ được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh, trì hoãn chấm dứt. Do đó, nếu người vi phạm bỏ phương tiện lại mà không nộp phạt, thời hiệu thi hành quyết định xử phạt sẽ được tính từ thời điểm họ không còn trốn tránh nghĩa vụ. Bên cạnh đó, theo Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính, nếu quá thời hạn quy định mà cá nhân vẫn không thực hiện nghĩa vụ nộp phạt, cơ quan chức năng có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành, bao gồm: Khấu trừ một phần lương hoặc thu nhập, trích tiền từ tài khoản cá nhân của người vi phạm. Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với mức tiền phạt để tổ chức bán đấu giá. Thu tiền, tài sản khác của người bị cưỡng chế đang được người khác nắm giữ, trong trường hợp có dấu hiệu tẩu tán tài sản. Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định pháp luật. Tỷ lệ khấu trừ thu nhập hoặc tiền lương của cá nhân được thực hiện theo Điều 11 Nghị định 166/2013/NĐ-CP, cụ thể: đối với tiền lương và bảo hiểm xã hội, mức khấu trừ tối đa mỗi lần không vượt quá 30% tổng số tiền được hưởng; đối với các khoản thu nhập khác, tỷ lệ khấu trừ tối đa là 50% mỗi lần. Như vậy, nếu cá nhân vi phạm giao thông cố tình không thực hiện nghĩa vụ nộp phạt và bỏ phương tiện lại, họ vẫn phải đóng phạt theo quyết định xử phạt hành chính. Nếu không chấp hành, họ có thể bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt theo quy định. Đối với phương tiện vi phạm bị bỏ lại, theo Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, nếu sau thời gian tạm giữ 01 tháng kể từ ngày có thông báo lần thứ hai mà người vi phạm, chủ sở hữu hoặc người có quyền quản lý hợp pháp không đến nhận, thì trong vòng 05 ngày làm việc tiếp theo, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
1. Những hành vi bị cấm để bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình của Việt Nam? Theo khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định cấm các hành vi sau đây: Điều 5: Bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình  .... 2. Cấm các hành vi sau đây: b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; Như vậy, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm những hành vi quy định trên trong việc bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình. Trong đó có cấm việc cản trở kết hôn, cưỡng ép ly hôn hay vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. 2. Xử phạt vi phạm hành chính Theo Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ - CP  quy định về xử phạt hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: 1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn. 2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn; d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình; đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân. 3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm d và đ khoản 2 Điều này. Theo đó, tùy vào hành vi, mức độ vi phạm mà người phá hoại hạnh phúc gia đình của người khác bằng cách làm “người thứ ba”, cản trở kết hôn, cưỡng ép ly hôn,... sẽ bị phạt tiền đến 20 triệu đồng. 3. Truy cứu trách nhiệm hình sự  Theo Điều 181 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện cụ thể như sau: Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Lắp camera quay lén người khác có thể hiểu là hành vi sử dụng thiết bị là camera để ghi hình và lưu giữ hình ảnh của người khác mà không được người đó cho phép. Đặc biệt, nhiều trường hợp, lắp camera để quay lén các hình ảnh nhạy cảm, riêng tư của người khác nhằm đe dọa, bôi nhọ danh dự, nhâm phẩm của người khác. Do đó, lắp camera quay lén người khác là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong bài viết này,  Công ty Luật VietLawyer xin chia sẻ cụ thể về vấn đề này như sau:  1. Xử phạt vi phạm hành chính Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 84 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, thu thập thông tin cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó bị phạt tiền từ 10 triệu đến 20 triệu đồng. Điều 84. Vi phạm quy định về thu thập, sử dụng thông tin cá nhân 1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Thu thập thông tin cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó; Do đó, với trường hợp lắp camera quay lén là hành vi thu thập thông tin cá nhân của người khác mà chưa có sự đồng ý của họ. 2. Chịu trách nhiệm hình sự Tùy vào hành vi, mức độ cũng như mục đích của việc lắp camera quay lén người khác, người vi phạm có thể đối mặt với các hình phạt sau đây: Thứ nhất, trong trường hợp lắp camera quay lén người khác để xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác thì vi phạm vào “Tội làm nhục người khác” được quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015. Và tùy vào tính chất, mức độ thiệt hại sẽ có khung hình phạt tương ứng. Thứ hai, nếu quay lén người khác nhằm phổ biến hình ảnh, video quay lén có nội dung nhạy cảm, vi phạm vào “Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” tại Điều 326 Bộ luật Hình sự 2015. 3. Phải bồi thường thiệt hại Theo Điều 34 Bộ luật dân sự 2015, mỗi cá nhân được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Do đó, nếu hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm, người bị hại có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại bởi cá nhân có quyền với hình ảnh của mình. Do đó, khi có người thực hiện hành vi quay lén nười khác, người bị hại có quyền yêu cầu người thực hiện hành vi xâm phạm uy tín, danh dự… của người khác phải công khai xin lỗi, cải chính và bồi thường thiệt hại. Vậy, khi có hành vi lắp camera quay lén người khác thì người đó có thể bị chịu trách nhiệm hình sự như đã trình bày phía trên.  Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc. 
Hiện nay, công nghệ hoá hiện đại hoá đang được phát triển rất mạnh trong đời sống. Bên cạnh sự phát triển đó là những hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua không gian mạng, quan hệ trong đời sống diễn ra ngày càng phức tạp hơn với những hành vi tinh vi khó phát hiện hơn. Dưới đây, VietLawyer xin chia sẻ quy định về xử phạt đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì? Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ gian dối đoạn nhằm khiến chủ sở hữu, người quản lý tài sản giao tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt. 2. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử lý như nào? Căn cứ theo điều 174 bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Điều 174: 1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a.Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b.Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c.Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d.Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a.Có tổ chức; b.Có tính chất chuyên nghiệp; c. Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d. Tái phạm nguy hiểm; đ. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; e.Dùng thủ đoạn xảo quyệt; 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a.Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; c. Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a. Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; c. Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Như vậy căn cứ theo điều luật trên hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ bị sử phạt tuỳ theo các trường hợp quy định ở trên. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Hôm nay khi tham giao thông tôi có quên không mang giấy tờ xe máy có bị xử phạt không?Dưới đây, Vietlawyer xin chia sẻ quy định về xử phạt đối với hành vi tham gia giao thông không mang giấy tờ xe máy: 1. Những giấy tờ cần mang khi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy tham giao giao thông. a, Căn cứ theo khoản 2 điều 58 luật giao thông đường bộ người tham gia cần những giấy tờ sau: Đăng ký xe. Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này. Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này. Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. b, Giấy phép lái xe mô tô, xe gắn máy bao gồm : Hạng A1 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 đến dưới 175 cm3;  Hạng A2 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 175 cm3 trở lên và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1;  Hạng A3 cấp cho người lái xe mô tô ba bánh, các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1 và các xe tương tự.  Người khuyết tật điều khiển xe mô tô ba bánh dùng cho người khuyết tật được cấp giấy phép lái xe hạng A1. 2. Mức xử phạt khi vi phạm: Căn cứ khoản 2 điều 21 nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định mức xử phạt: - Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:  Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;  Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe;  Người điều khiển xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô không mang theo Giấy phép lái xe, trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5, điểm c khoản 7 Điều này. NHư vậy căn cứ theo điều luật trên khi khi tham gia giao thông người điều khiển xe moto,xe gắn máy người điều khiển phương tiện không mang đủ giấy tờ nêu trên sẽ bị phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng mỗi loại giấy tờ. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
 
hotline 0936 645 695