LUẬT SƯ TRẢ LỜI

Chính thức bỏ thuế khoán từ 01/01/2026, theo đó cá nhân kinh doanh sẽ nộp thuế theo 02 phương pháp mới. Công ty Luật Phương Bình xin chia sẻ qua bài viết dưới đây: Bỏ thuế khoán từ 01/01/2026: 02 Phương pháp nộp thuế dành cho cá nhân kinh doanh (Hình từ internet) Chính thức bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh từ 01/01/2026 Ngày 17/5/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết 198/2025/QH15 nêu rõ, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không áp dụng phương pháp khoán thuế từ ngày 01/01/2026. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo pháp luật về quản lý thuế.  Trước đó, tại Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nội dung.  Đáng chú ý, tại nhiệm vụ hỗ trợ thực chất, hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh, Bộ Chính trị yêu cầu xóa bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ kinh doanh chậm nhất trong năm 2026. Như vậy, kể từ ngày 01/01/2026, sẽ bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Bỏ thuế khoán từ 01/01/2026: 02 Phương pháp nộp thuế dành cho cá nhân kinh doanh Theo quy định hiện hành tại Thông tư 40/2021/TT-BTC, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có thể nộp thuế theo phương pháp kê khai, phương pháp khai thuế theo từng lần phát sinh và phương pháp khoán.  Do đó, khi bỏ thuế khoán, cá nhân kinh doanh có thể lựa chọn nộp thuế theo phương pháp kê khai hoặc phương pháp khai thuế theo từng lần phát sinh tuỳ theo hình thức kinh doanh. Cụ thể, phương pháp kê khai áp dụng đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh quy mô lớn; và hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chưa đáp ứng quy mô lớn nhưng lựa chọn nộp thuế theo phương pháp kê khai. Phương pháp khai thuế theo từng lần phát sinh áp dụng đối với cá nhân kinh doanh không thường xuyên và không có địa điểm kinh doanh cố định. Kinh doanh không thường xuyên được xác định tùy theo đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh của từng lĩnh vực, ngành nghề và do cá nhân tự xác định để lựa chọn phương pháp khai thuế theo hướng dẫn. Địa điểm kinh doanh cố định là nơi cá nhân tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh như: địa điểm giao dịch, cửa hàng, cửa hiệu, nhà xưởng, nhà kho, bến, bãi hoặc địa điểm tương tự khác. (Điều 5, 6 Thông tư 40/2021/TT-BTC) Căn cứ tính thuế đối với cá nhân kinh doanh  Căn cứ tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là doanh thu tính thuế và tỷ lệ thuế tính trên doanh thu. (1) Doanh thu tính thuế Doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNCN đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, chi hỗ trợ bằng tiền hoặc không bằng tiền; các khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội, phí thu thêm được hưởng theo quy định; các khoản bồi thường vi phạm hợp đồng, bồi thường khác (chỉ tính vào doanh thu tính thuế TNCN); doanh thu khác mà hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. (2) Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu - Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu gồm tỷ lệ thuế GTGT và tỷ lệ thuế TNCN áp dụng chi tiết đối với từng lĩnh vực, ngành nghề theo hướng dẫn tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 40/2021/TT-BTC. -  Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoạt động nhiều lĩnh vực, ngành nghề thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện khai và tính thuế theo tỷ lệ thuế tính trên doanh thu áp dụng đối với từng lĩnh vực, ngành nghề. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu tính thuế của từng lĩnh vực, ngành nghề hoặc xác định không phù hợp với thực tế kinh doanh thì cơ quan thuế thực hiện ấn định doanh thu tính thuế của từng lĩnh vực, ngành nghề theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. (3) Xác định số thuế phải nộp Số thuế GTGT phải nộp = Doanh thu tính thuế GTGT x Tỷ lệ thuế GTGT Số thuế TNCN phải nộp = Doanh thu tính thuế TNCN x Tỷ lệ thuế TNCN Trong đó: - Doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNCN theo hướng dẫn tại khoản (1) . - Tỷ lệ thuế GTGT và tỷ lệ thuế TNCN theo hướng dẫn tại Phụ lục I ban hành kèm Thông tư 40/2021/TT-BTC. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Không nộp phạt vi phạm giao thông, bỏ lại phương tiện thì có bị làm sao không? Hiện nay, theo quy định tại Nghị định 168/2024/NĐ-CP, trong trường hợp không nộp phạt khi vi phạm giao thông thì có thể áp dụng các hình thức cưỡng chế. Trong bài viết dưới đây, Vietlawyer xin chia sẻ cụ thể về nội dung này như sau:  Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bao gồm việc trừ điểm và phục hồi điểm trên giấy phép lái xe, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025. Theo quy định tại Nghị định này, người điều khiển phương tiện đi ngược chiều, di chuyển trên vỉa hè (ngoại trừ trường hợp đi qua vỉa hè để vào nhà riêng hoặc cơ quan), không tuân thủ tín hiệu đèn giao thông, điều khiển xe máy không gắn biển số hoặc gắn biển số không trùng khớp với chứng nhận đăng ký xe, sử dụng biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp sẽ bị xử phạt từ 04 - 06 triệu đồng...và còn nhiều những xử phạt với hành vi vi phạm khác với mức phạt tương đối cao.  Do mức phạt đối với các hành vi vi phạm giao thông khá cao, thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp người vi phạm khi bị lực lượng chức năng xử lý đã cố tình không thực hiện nghĩa vụ nộp phạt, thậm chí bỏ lại phương tiện để tránh trách nhiệm. Về chế tài đối với hành vi này, theo Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm kể từ ngày ra quyết định. Nếu quá thời hạn này, quyết định xử phạt sẽ không còn hiệu lực, trừ trường hợp quyết định có kèm theo hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hoặc biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải thực hiện theo quy định. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh hoặc trì hoãn việc thực hiện quyết định xử phạt, thời hiệu nêu trên sẽ được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh, trì hoãn chấm dứt. Do đó, nếu người vi phạm bỏ phương tiện lại mà không nộp phạt, thời hiệu thi hành quyết định xử phạt sẽ được tính từ thời điểm họ không còn trốn tránh nghĩa vụ. Bên cạnh đó, theo Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính, nếu quá thời hạn quy định mà cá nhân vẫn không thực hiện nghĩa vụ nộp phạt, cơ quan chức năng có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành, bao gồm: Khấu trừ một phần lương hoặc thu nhập, trích tiền từ tài khoản cá nhân của người vi phạm. Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với mức tiền phạt để tổ chức bán đấu giá. Thu tiền, tài sản khác của người bị cưỡng chế đang được người khác nắm giữ, trong trường hợp có dấu hiệu tẩu tán tài sản. Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định pháp luật. Tỷ lệ khấu trừ thu nhập hoặc tiền lương của cá nhân được thực hiện theo Điều 11 Nghị định 166/2013/NĐ-CP, cụ thể: đối với tiền lương và bảo hiểm xã hội, mức khấu trừ tối đa mỗi lần không vượt quá 30% tổng số tiền được hưởng; đối với các khoản thu nhập khác, tỷ lệ khấu trừ tối đa là 50% mỗi lần. Như vậy, nếu cá nhân vi phạm giao thông cố tình không thực hiện nghĩa vụ nộp phạt và bỏ phương tiện lại, họ vẫn phải đóng phạt theo quyết định xử phạt hành chính. Nếu không chấp hành, họ có thể bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt theo quy định. Đối với phương tiện vi phạm bị bỏ lại, theo Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, nếu sau thời gian tạm giữ 01 tháng kể từ ngày có thông báo lần thứ hai mà người vi phạm, chủ sở hữu hoặc người có quyền quản lý hợp pháp không đến nhận, thì trong vòng 05 ngày làm việc tiếp theo, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Chị Hạnh - Hải Phòng có đặt câu hỏi: "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng nhưng do chúng tôi thỏa thuận chỉ để chồng tôi đứng tên. Tuy nhiên, chồng tôi đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho người khác nhưng trên hợp đồng chuyển nhượng không có chữ ký của tôi. Vậy cho tôi hỏi, trong trường hợp này hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có bị tuyên vô hiệu không?". Trên cơ sở câu hỏi của chị, luật sự của Vietlawyer chúng tôi xin trả lời như sau: Theo khoản 4 Điều 135 Luật đất đai 2013 quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi tên cả vợ và chồng, cụ thể:  Điều 135. Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất ....   4. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người để đứng tên làm đại diện cho vợ và chồng. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu. Do đó, nếu xác định đây là tài sản chung của vợ chồng căn cứ theo khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi họ tên của cả vợ và chồng, trừ trường hợp vợ chồng có văn bản thỏa thuận về việc chỉ đứng tên một người để đứng tên đại diện cho vợ chồng. Vì vậy, việc trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên chồng mà đây là tài sản chung của vợ chồng thì khi thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất chồng có quyền đại diện vợ thực hiện nhưng vẫn phải có sự đồng ý của người vợ.  Trong trường hợp của chị, dù là chị không kí vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng nếu đáp ứng các điều kiện dưới đây thì vẫn được xác định là chị đã đồng ý và hợp đồng không bị vô hiệu dựa theo tinh thần của Án lệ số 04/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, cụ thể: (1) chồng chị đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, chị biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; (2) bên nhận chuyển nhượng đất đã nhận và quản lý, sử dụng công khai; chị biết mà không có ý kiến phản đối  Ngược lại, nếu không có căn cứ nêu trên thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể bị vô hiệu do bị lừa dối theo quy định Điều 127 Bộ luật dân sự 2015.  Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
1. Những hành vi bị cấm để bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình của Việt Nam? Theo khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định cấm các hành vi sau đây: Điều 5: Bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình  .... 2. Cấm các hành vi sau đây: b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; Như vậy, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm những hành vi quy định trên trong việc bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình. Trong đó có cấm việc cản trở kết hôn, cưỡng ép ly hôn hay vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. 2. Xử phạt vi phạm hành chính Theo Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ - CP  quy định về xử phạt hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: 1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn. 2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn; d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình; đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân. 3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm d và đ khoản 2 Điều này. Theo đó, tùy vào hành vi, mức độ vi phạm mà người phá hoại hạnh phúc gia đình của người khác bằng cách làm “người thứ ba”, cản trở kết hôn, cưỡng ép ly hôn,... sẽ bị phạt tiền đến 20 triệu đồng. 3. Truy cứu trách nhiệm hình sự  Theo Điều 181 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện cụ thể như sau: Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Lắp camera quay lén người khác có thể hiểu là hành vi sử dụng thiết bị là camera để ghi hình và lưu giữ hình ảnh của người khác mà không được người đó cho phép. Đặc biệt, nhiều trường hợp, lắp camera để quay lén các hình ảnh nhạy cảm, riêng tư của người khác nhằm đe dọa, bôi nhọ danh dự, nhâm phẩm của người khác. Do đó, lắp camera quay lén người khác là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong bài viết này,  Công ty Luật VietLawyer xin chia sẻ cụ thể về vấn đề này như sau:  1. Xử phạt vi phạm hành chính Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 84 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, thu thập thông tin cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó bị phạt tiền từ 10 triệu đến 20 triệu đồng. Điều 84. Vi phạm quy định về thu thập, sử dụng thông tin cá nhân 1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Thu thập thông tin cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó; Do đó, với trường hợp lắp camera quay lén là hành vi thu thập thông tin cá nhân của người khác mà chưa có sự đồng ý của họ. 2. Chịu trách nhiệm hình sự Tùy vào hành vi, mức độ cũng như mục đích của việc lắp camera quay lén người khác, người vi phạm có thể đối mặt với các hình phạt sau đây: Thứ nhất, trong trường hợp lắp camera quay lén người khác để xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác thì vi phạm vào “Tội làm nhục người khác” được quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015. Và tùy vào tính chất, mức độ thiệt hại sẽ có khung hình phạt tương ứng. Thứ hai, nếu quay lén người khác nhằm phổ biến hình ảnh, video quay lén có nội dung nhạy cảm, vi phạm vào “Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” tại Điều 326 Bộ luật Hình sự 2015. 3. Phải bồi thường thiệt hại Theo Điều 34 Bộ luật dân sự 2015, mỗi cá nhân được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Do đó, nếu hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm, người bị hại có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại bởi cá nhân có quyền với hình ảnh của mình. Do đó, khi có người thực hiện hành vi quay lén nười khác, người bị hại có quyền yêu cầu người thực hiện hành vi xâm phạm uy tín, danh dự… của người khác phải công khai xin lỗi, cải chính và bồi thường thiệt hại. Vậy, khi có hành vi lắp camera quay lén người khác thì người đó có thể bị chịu trách nhiệm hình sự như đã trình bày phía trên.  Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc. 
Chị Hạnh - Quảng Ninh có đặt câu hỏi: "Khám chữa bệnh ở bệnh tư nhân có được bảo hiểm thanh toán chi phí khám chữ bệnh không?" Trong bài viết này,  Công ty Luật VietLawyer xin trả lời câu hỏi của chị như sau:  Theo Điều 24 Luật bảo hiểm y tế 2008 quy định về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là cơ sở y tế có kí hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức bảo hiểm y tế trong đó bao gồm: + trạm y tế xã và tương đương, nhà hộ sinh + phòng khám đa khoa, chuyên khoa + bệnh viện đa khoa, chuyên khoa Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh để cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Do đó, trong trường hợp bệnh viên tư nhân mà chị thăm khác mà có kí kết hợp đồng với tổ chức bảo hiểm y tế thì chị vẫn sẽ được thanh toán bảo hiểm với chi phí khám chữa bệnh theo quy định.  Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc. 
Hiện nay, công nghệ hoá hiện đại hoá đang được phát triển rất mạnh trong đời sống. Bên cạnh sự phát triển đó là những hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua không gian mạng, quan hệ trong đời sống diễn ra ngày càng phức tạp hơn với những hành vi tinh vi khó phát hiện hơn. Dưới đây, VietLawyer xin chia sẻ quy định về xử phạt đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì? Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ gian dối đoạn nhằm khiến chủ sở hữu, người quản lý tài sản giao tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt. 2. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử lý như nào? Căn cứ theo điều 174 bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Điều 174: 1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a.Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b.Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c.Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d.Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a.Có tổ chức; b.Có tính chất chuyên nghiệp; c. Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d. Tái phạm nguy hiểm; đ. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; e.Dùng thủ đoạn xảo quyệt; 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a.Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; c. Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a. Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; c. Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Như vậy căn cứ theo điều luật trên hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ bị sử phạt tuỳ theo các trường hợp quy định ở trên. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Hôm nay khi tham giao thông tôi có quên không mang giấy tờ xe máy có bị xử phạt không?Dưới đây, Vietlawyer xin chia sẻ quy định về xử phạt đối với hành vi tham gia giao thông không mang giấy tờ xe máy: 1. Những giấy tờ cần mang khi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy tham giao giao thông. a, Căn cứ theo khoản 2 điều 58 luật giao thông đường bộ người tham gia cần những giấy tờ sau: Đăng ký xe. Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này. Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này. Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. b, Giấy phép lái xe mô tô, xe gắn máy bao gồm : Hạng A1 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 đến dưới 175 cm3;  Hạng A2 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 175 cm3 trở lên và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1;  Hạng A3 cấp cho người lái xe mô tô ba bánh, các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1 và các xe tương tự.  Người khuyết tật điều khiển xe mô tô ba bánh dùng cho người khuyết tật được cấp giấy phép lái xe hạng A1. 2. Mức xử phạt khi vi phạm: Căn cứ khoản 2 điều 21 nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định mức xử phạt: - Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:  Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;  Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe;  Người điều khiển xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô không mang theo Giấy phép lái xe, trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5, điểm c khoản 7 Điều này. NHư vậy căn cứ theo điều luật trên khi khi tham gia giao thông người điều khiển xe moto,xe gắn máy người điều khiển phương tiện không mang đủ giấy tờ nêu trên sẽ bị phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng mỗi loại giấy tờ. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Hiện nay, có rất nhiều hành vi đưa hối lộ và nhận hối lộ để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Vậy hành vi này bị xử phạt thế nào? Hãy cùng Vietlawyer tìm hiểu vấn đề này qua bài viết dưới đây: 1. Quy định của pháp luật về đưa hối lộ và nhận hối lộ Theo quy định tại Khoản 1 Điều 364 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Điều 364. Tội đưa hối lộ 1. Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; b) Lợi ích phi vật chất. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; đ) Phạm tội 02 lần trở lên; e) Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 3. Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm. 4. Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt từ tù 12 năm đến 20 năm. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. 6. Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này. 7. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Tội đưa hối lộ được định nghĩa là hành vi của một cá nhân, trực tiếp hoặc qua trung gian, cung cấp hoặc cam kết cung cấp bất kỳ lợi ích vật chất hoặc phi vật chất nào cho người có chức vụ, quyền hạn, hoặc cho tổ chức khác, nhằm mục đích thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nào đó theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Tương tự, tội nhận hối lộ được quy định tại Khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015: Điều 354. Tội nhận hối lộ 1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) Lợi ích phi vật chất. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Có tổ chức; b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn; c) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng; đ) Phạm tội 02 lần trở lên; e) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước; g) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên; b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên. 5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. 6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này. Là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian, nhận hoặc cam kết nhận bất kỳ lợi ích vật chất hoặc phi vật chất nào cho bản thân hoặc cho tổ chức khác, với mục đích thực hiện hoặc không thực hiện một hành động theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Theo Điều 59 của Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015: Điều 19. Đưa ra khỏi danh sách đăng ký nghĩa vụ quân sự 1. Công dân được đưa ra khỏi danh sách đăng ký nghĩa vụ quân sự trong trường hợp sau đây: a) Chết; b) Hết độ tuổi phục vụ trong ngạch dự bị; c) Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 13 hoặc Điều 14 của Luật này. 2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có xác nhận của cấp có thẩm quyền, Ban Chỉ huy quân sự cấp xã, cơ quan, tổ chức có công dân quy định tại khoản 1 Điều này phải báo cáo Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện quyết định. Các tổ chức và cá nhân có hành vi trốn tránh hoặc cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự sẽ phải chịu xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy thuộc vào mức độ và tính chất của hành vi vi phạm. 2. Xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức nhận hối lộ để trốn nghĩa vụ quân sự Theo các quy định tại Khoản 4 Điều 8, Khoản 5 Điều 16, Khoản 2 Điều 30, và Khoản 2 Điều 37 của Nghị định 112/2020/NĐ-CP, việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi nhận hối lộ để giúp trốn nghĩa vụ quân sự được quy định như sau: - Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm quy định về phòng chống tham nhũng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo. - Đối với những cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, hình thức kỷ luật có thể là giáng chức hoặc cách chức. - Trong trường hợp công chức, viên chức bị kết án vì hành vi tham nhũng, trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc. 3. Xử phạt hành chính đối với hành vi đưa hối lộ, nhận hối lộ để trốn nghĩa vụ quân sự Theo Khoản 8 Điều 1 của Nghị định 37/2022/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 120/2013/NĐ-CP, mức phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng áp dụng cho các hành vi sau: - Người khám sức khỏe thực hiện hành vi gian dối nhằm làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe để trốn nghĩa vụ quân sự. - Đưa tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất khác trị giá dưới 2 triệu đồng cho cán bộ, nhân viên y tế hoặc người khác để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe nhằm mục đích trốn nghĩa vụ quân sự. Ngoài ra, theo Khoản 3 Điều 6 của Nghị định 120/2013/NĐ-CP, bên cạnh việc phạt tiền, các biện pháp khắc phục hậu quả có thể bao gồm: - Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp đã nhận từ việc nhận tiền để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe. - Buộc thực hiện lại việc khám sức khỏe đối với người thực hiện nghĩa vụ quân sự. 4. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đưa hối lộ, nhận hối lộ để trốn nghĩa vụ quân sự 4.1. Tội đưa hối lộ Theo Điều 364 của Bộ luật Hình sự năm 2015, hình phạt đối với người phạm tội đưa hối lộ được quy định như sau: - Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm đối với các trường hợp:   + Đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng.   + Cung cấp lợi ích phi vật chất. - Phạt tù từ 2 năm đến 7 năm đối với các trường hợp:   + Có tổ chức;   + Sử dụng thủ đoạn xảo quyệt;   + Sử dụng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;   + Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;   + Phạm tội 2 lần trở lên;   + Cung cấp của hối lộ trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng. - Phạt tù từ 7 năm đến 12 năm đối với các trường hợp:   + Cung cấp của hối lộ trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng. - Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm đối với các trường hợp:   + Cung cấp của hối lộ trị giá từ 1 tỷ đồng trở lên. Người phạm tội cũng có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng. **Lưu ý:** - Người đưa hối lộ cho công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế cũng bị xử lý theo quy định của Điều 364 Bộ luật Hình sự năm 2015. - Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và được trả lại toàn bộ số tiền đã dùng để đưa hối lộ. - Người đưa hối lộ không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác có thể được miễn trách nhiệm hình sự và nhận lại một phần hoặc toàn bộ số tiền đã dùng để đưa hối lộ. 4.2. Tội nhận hối lộ Theo Điều 354 của Bộ luật Hình sự năm 2015, hình phạt đối với người phạm tội nhận hối lộ được quy định như sau: - Phạt tù từ 2 năm đến 7 năm đối với các trường hợp:   + Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về các tội tham nhũng mà chưa được xóa án tích;   + Nhận lợi ích phi vật chất. - Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm đối với các trường hợp:   + Có tổ chức;   + Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;   + Nhận của hối lộ trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;   + Gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đồng đến dưới 3 tỷ đồng;   + Phạm tội 2 lần trở lên;   + Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;   + Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt. - Phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với các trường hợp:   + Nhận của hối lộ trị giá từ 1 tỷ đồng trở lên;   + Gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng trở lên. Việc quy định xà xử lý các hành vi đưa hối lộ và nhận hối lộ, đặc biệt trong bối cảnh trốn nghĩa vụ quân sự, thể hiện sự nghiêm ngặt của pháp luật đối với hành vi tham nhũng và gian lận. Pháp luật đã xác định rõ các hành vi vi phạm, từ việc đưa và nhận hối lộ cho đến các biện pháp xử lý cụ thể, bao gồm xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, và truy cứ trách nhiệm hình sự. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.  
Dưới góc độ pháp lý, theo quy định tại Khoản 14 Điều 4 của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, ngân sách Nhà nước được định nghĩa là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được lập dự toán và thực hiện trong một thời gian cụ thể, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Điều này cho thấy ngân sách Nhà nước không chỉ là một kế hoạch tài chính đơn thuần mà còn là một đạo luật đặc biệt do Quốc hội ban hành, cho phép Chính phủ thực thi các hoạt động trong một khoảng thời gian xác định. Hãy cùng Vietlawyer phân tích vấn đề này qua bài viết dưới đây: 1. Khái niệm ngân sách Nhà nước  • Dưới góc độ pháp lý: Theo Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, ngân sách Nhà nước không chỉ là một bản kế hoạch tài chính mà còn là một đạo luật đặc biệt do Quốc hội ban hành. Điều này có nghĩa ngân sách Nhà nước là tổng hợp tất cả các khoản thu và chi của Nhà nước, được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Việc xác định ngân sách không chỉ dựa trên khía cạnh tài chính mà còn trên nền tảng pháp lý, cho phép Chính phủ triển khai các hoạt động trong một khung thời gian được Quốc hội phê duyệt. Ngân sách trở thành một công cụ pháp lý để điều hành các chính sách và chương trình quốc gia.  • Dưới góc nhìn kinh tế: Trong lĩnh vực kinh tế, ngân sách Nhà nước được hiểu là bản dự toán tổng hợp các khoản thu và chi tiền tệ của quốc gia. Quy trình này bắt đầu từ việc cơ quan có thẩm quyền quyết định ngân sách và thực hiện nó trong một khoảng thời gian nhất định. Quốc hội có trách nhiệm phê chuẩn ngân sách trước khi Chính phủ thực hiện và giám sát quá trình thực thi ngân sách. Đồng thời, Quốc hội có quyền phê chuẩn quyết toán ngân sách hàng năm, đảm bảo rằng các nguồn lực được sử dụng hiệu quả và đúng mục đích. 2. Thời hạn và phân cấp ngân sách  • Thời hạn ngân sách: Ngân sách Nhà nước có hiệu lực trong một năm tài chính, từ ngày 01/01 đến 31/12. Khoảng thời gian này được pháp luật quy định nhằm xác định rõ ràng thời gian thực hiện ngân sách, gọi là “năm ngân sách” hoặc “tài khoán”. Điều này giúp đảm bảo sự rõ ràng và nhất quán trong việc lập dự toán, thực hiện và quyết toán ngân sách hàng năm.  • Nguồn thu ngân sách: Theo Khoản 1 Điều  của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015: Điều 5. Phạm vi ngân sách nhà nước   1. Thu ngân sách nhà nước bao gồm:     a) Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí;            b) Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;          c) Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương;    d) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.   2. Chi ngân sách nhà nước bao gồm:      a) Chi đầu tư phát triển; b) Chi dự trữ quốc gia; c) Chi thường xuyên; d) Chi trả nợ lãi; đ) Chi viện trợ;  e) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Ngân sách Nhà nước bao gồm nhiều nguồn thu khác nhau như thuế, lệ phí, phí dịch vụ, viện trợ không hoàn lại, và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Các nguồn thu này được tổng hợp để đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của Nhà nước và các nhiệm vụ công cộng. • Khoản chi ngân sách: Các khoản chi ngân sách được quy định tại Khoản 2 Điều 5 của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 và được hướng dẫn chi tiết trong Nghị định 163/2016/NĐ-CP. Việc chi tiêu ngân sách phải được thực hiện theo dự toán được phê duyệt, nhằm đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, và các nhiệm vụ quốc gia khác. 3. Quỹ dự trữ tài chính và dự phòng ngân sách  • Quỹ dự trữ tài chính: Theo quy định, Quỹ dự trữ tài chính được lập từ các nguồn tăng thu, kết dư ngân sách, và các nguồn tài chính khác. Số dư của quỹ không được vượt quá 25% dự toán chi ngân sách hàng năm. Quỹ này có vai trò quan trọng trong việc tạm ứng ngân sách để đáp ứng các nhu cầu khẩn cấp, như phòng chống thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, và các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Việc quản lý quỹ dự trữ cần đảm bảo tính chính xác và minh bạch để phục vụ hiệu quả các mục tiêu quốc gia.  • Dự phòng ngân sách: Dự phòng ngân sách là khoản mục chưa phân bổ trong dự toán chi ngân sách, được quyết định bởi cơ quan có thẩm quyền. Khoản này được sử dụng để ứng phó với các tình huống khẩn cấp như thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, và các nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh. Việc phân bổ dự phòng cần được thực hiện một cách hợp lý để đảm bảo đáp ứng kịp thời các yêu cầu cấp bách. 4. Quản lý ngân sách  • Nguyên tắc phân cấp quản lý: Theo Điều 9 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015: Điều 9. Nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách    1. Ngân sách trung ương, ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể.       2. Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia, hỗ trợ địa phương chưa cân đối được ngân sách và hỗ trợ các địa phương theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Luật này. 3. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ chi được giao. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn.       4. Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp; việc quyết định đầu tư các chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách phải bảo đảm trong phạm vi ngân sách theo phân cấp.  5. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngân sách cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngân sách cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải phân bổ và giao dự toán cho cơ quan cấp dưới được ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ chi đó. Cơ quan nhận kinh phí ủy quyền phải quyết toán với cơ quan ủy quyền khoản kinh phí này.            6. Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới trên cơ sở bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương.      7. Trong thời kỳ ổn định ngân sách:       a) Không thay đổi tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách;  b) Hằng năm, căn cứ khả năng cân đối của ngân sách cấp trên, cơ quan có thẩm quyền quyết định tăng thêm số bổ sung cân đối ngân sách từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới so với năm đầu thời kỳ ổn định; c) Số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được xác định theo nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách; khả năng của ngân sách cấp trên và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương cấp dưới;            d) Các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hằng năm mà ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp để tăng chi thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đối với số tăng thu so với dự toán thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật này.    Trường hợp đặc biệt có phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách làm ngân sách địa phương tăng thu lớn thì số tăng thu phải nộp về ngân sách cấp trên. Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định thu về ngân sách cấp trên số tăng thu này và thực hiện bổ sung có mục tiêu một phần cho ngân sách cấp dưới theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 40 của Luật này để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ở địa phương theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;       đ) Trường hợp ngân sách địa phương hụt thu so với dự toán do nguyên nhân khách quan thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật này.    8. Sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên so với tổng chi ngân sách địa phương hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) nộp về ngân sách cấp trên đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách để tăng nguồn lực cho ngân sách cấp trên thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia và phát triển đồng đều giữa các địa phương.     9. Không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác và không được dùng ngân sách của địa phương này để chi cho nhiệm vụ của địa phương khác, trừ các trường hợp sau:       a) Ngân sách cấp dưới hỗ trợ cho các đơn vị thuộc cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong trường hợp cần khẩn trương huy động lực lượng cấp trên khi xảy ra thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh và các trường hợp cấp thiết khác để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của địa phương; b) Các đơn vị cấp trên quản lý đóng trên địa bàn khi thực hiện chức năng của mình, kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dưới; c) Sử dụng dự phòng ngân sách địa phương để hỗ trợ các địa phương khác khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ nghiêm trọng.    10. Trường hợp thực hiện điều ước quốc tế dẫn đến giảm nguồn thu của ngân sách trung ương, Chính phủ trình Quốc hội điều chỉnh việc phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương để bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương. Việc quản lý ngân sách được phân cấp thành hai cấp:  • Ngân sách trung ương: Đảm nhiệm các nhiệm vụ quốc gia, hỗ trợ các địa phương chưa cân đối ngân sách, và cung cấp hỗ trợ cho các địa phương theo quy định. Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các chính sách và chương trình quốc gia.  • Ngân sách địa phương: Bao gồm ngân sách cấp tỉnh, huyện và xã. Các cấp địa phương có quyền phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quyết định phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách địa phương.  • Quy trình quản lý ngân sách: Quy trình quản lý ngân sách bao gồm ba giai đoạn chính: - Lập và phê chuẩn ngân sách: Các cơ quan, đơn vị lập dự toán ngân sách dựa trên các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, và các yêu cầu pháp lý khác. Dự toán này được gửi đến Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chính phủ, và cuối cùng là Quốc hội để phê chuẩn. - Chấp hành ngân sách: Giai đoạn này bao gồm việc tổ chức thu và chi ngân sách theo dự toán đã được phê duyệt. Các cơ quan thuế và hải quan thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách, trong khi các đơn vị thụ hưởng lập kế hoạch chi tiêu, được cấp phát từ ngân sách. - Quyết toán ngân sách: Sau khi kết thúc năm tài chính, các cơ quan và đơn vị sử dụng ngân sách phải tiến hành quyết toán để đánh giá quá trình thực hiện ngân sách. Bộ Tài chính tổng hợp và lập tổng quyết toán ngân sách để trình Chính phủ và Quốc hội phê duyệt. 5. Đánh giá và cải thiện Luật Ngân sách Nhà nước 2015 đã mang lại nhiều cải tiến trong cơ chế quản lý ngân sách, nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần giải quyết. Để nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, cần có các chủ trương đúng đắn, chuẩn bị kỹ lưỡng, và đảm bảo minh bạch trong quá trình quản lý ngân sách và hoạt động kinh tế xã hội. Sự vào cuộc tích cực của toàn hệ thống chính trị và sự minh bạch, trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân liên quan là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của việc quản lý ngân sách Nhà nước. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.  
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) là một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD trong các hoạt động mua sắm, tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử (TMĐT), nhiều quy định của Luật đã bộc lộ các hạn chế và bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay. Việc thiếu cơ chế thực thi hiệu quả dẫn đến những thiệt hại không nhỏ cho NTD, đồng thời gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ pháp luật. Hãy cùng Vietlawyer phân tích vấn đề này qua bài viết dưới đây: 1. Các nội dung cơ bản về bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Cơ chế bảo vệ minh bạch và hiệu quả: Trong thương mại điện tử, các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng cần đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả tương tự như các giao dịch truyền thống. Điều này đòi hỏi sự hợp tác giữa chính phủ, doanh nghiệp, và người tiêu dùng nhằm xác định các đặc điểm riêng biệt của môi trường thương mại điện tử, từ đó xây dựng các cơ chế rõ ràng và hiệu quả để bảo vệ người tiêu dùng.  - Thực hiện các hành vi quảng cáo và kinh doanh lành mạnh: Các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại điện tử cần chú trọng đến lợi ích của người tiêu dùng và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật liên quan đến kinh doanh, quảng cáo và marketing. Điều này bao gồm:  • Tránh các hành vi lừa dối, lừa đảo hoặc cung cấp thông tin gây nhầm lẫn, đánh lừa người tiêu dùng.  • Đảm bảo thông tin được cung cấp cho người tiêu dùng là rõ ràng, chính xác và dễ tiếp cận.  • Đặc biệt lưu ý đến các đặc điểm riêng của từng vùng miền kinh doanh khác nhau trong môi trường thương mại điện tử, để đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng được bảo vệ tốt hơn.  - Các thông tin cần tìm hiểu và cung cấp trong giao dịch thương mại điện tử: Để giao dịch thương mại điện tử diễn ra minh bạch và an toàn, các doanh nghiệp cần cung cấp các thông tin sau:  • Thông tin về doanh nghiệp: Bao gồm hồ sơ đăng ký kinh doanh, thông tin liên lạc, địa chỉ hoạt động thực tế, số điện thoại, email, và các cơ chế giải quyết khiếu nại.  • Thông tin về hàng hóa, dịch vụ: Phải được trình bày đầy đủ, rõ ràng và chính xác để người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận.  • Thông tin về giao dịch: Doanh nghiệp nên cung cấp hướng dẫn chi tiết để người tiêu dùng có thể thực hiện giao dịch một cách suôn sẻ.  • Xác nhận giao dịch: Doanh nghiệp cần thiết lập quy trình mua hàng, kiểm tra, và xác nhận giao dịch từ phía người tiêu dùng để đảm bảo họ có thời gian cân nhắc trước khi quyết định mua.  • Thanh toán: Phải đảm bảo quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, chính xác và dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch thành công.  - Giải quyết tranh chấp và luật áp dụng: Tính chất không biên giới của giao dịch thương mại điện tử đòi hỏi sự điều chỉnh và sửa đổi các văn bản luật hiện hành. Khi rà soát và bổ sung các văn bản này, các chính phủ cần đảm bảo rằng các quy định mới không cản trở sự phát triển của thương mại điện tử, đồng thời bảo vệ người tiêu dùng một cách hiệu quả như trong các giao dịch truyền thống. Cần tạo ra các phương thức giải quyết tranh chấp đơn giản, tiết kiệm chi phí và dễ tiếp cận cho người tiêu dùng.  - Chính sách thông tin: Doanh nghiệp phải xây dựng và tuân thủ các quy định về bảo vệ, sử dụng và lưu chuyển thông tin cá nhân của người tiêu dùng tại từng thị trường đăng ký kinh doanh. Chính sách thông tin cần sự phối hợp giữa chính phủ, doanh nghiệp, và các phương tiện thông tin đại chúng để định hướng người tiêu dùng trong việc thực hiện các giao dịch thương mại điện tử an toàn và hiệu quả. Sự tham gia của các phương tiện thông tin đại chúng cũng giúp đưa thông tin đến người tiêu dùng nhanh chóng và rộng rãi. 2. Thực trạng về pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử Hiện nay, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, thói quen mua sắm của người tiêu dùng đã dần chuyển đổi từ phương thức mua hàng truyền thống sang mua sắm trực tuyến qua các nền tảng thương mại điện tử (TMĐT). Các trang web như Lazada.vn, Sendo.vn, Tiki.vn, Shopee.vn, và các mạng xã hội như Facebook, Instagram, Zalo, đã trở thành những nơi phổ biến để người tiêu dùng thực hiện giao dịch mua sắm. Điều này mang lại sự tiện lợi, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong TMĐT đã được chú trọng và điều chỉnh để đáp ứng những thay đổi nhanh chóng của thị trường. Một số văn bản pháp luật quan trọng bao gồm:  • Nghị định số 98/2020/NĐ-CP: Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nghị định này đã tạo ra một cơ sở pháp lý mạnh mẽ nhằm cải thiện tình hình tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến.  • Kế hoạch hành động số 1907/QĐ-BCT: Được Bộ Công Thương ban hành nhằm triển khai Nghị quyết số 82/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này tập trung vào việc tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước trong công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.  • Quyết định số 82/QĐ-CT: Được Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng ban hành, thành lập Tổ Tư vấn, giải quyết yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của người tiêu dùng. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc hỗ trợ người tiêu dùng khi gặp phải các vấn đề trong giao dịch TMĐT. 3. Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử 3.1. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng liên quan đến đảm bảo chất lượng hàng hóa: Theo Điều 12 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 (Luật số 59/2010/QH12), tổ chức, cá nhân kinh doanh có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, chính xác và trung thực các thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ, bao gồm nguồn gốc xuất xứ, giá cả, chất lượng, và các thông tin liên quan khác. Quy định này nhằm đảm bảo rằng người tiêu dùng có đầy đủ thông tin để đưa ra quyết định mua sắm đúng đắn. Tuy nhiên, trên thực tế, khi tham gia thương mại điện tử, người tiêu dùng thường gặp khó khăn trong việc xác minh tính chính xác của thông tin do các tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp. Việc không cung cấp hóa đơn, chứng từ cho người tiêu dùng không chỉ vi phạm Điều 12 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn cản trở việc truy cứu trách nhiệm khi hàng hóa có vấn đề. Hơn nữa, việc thiếu hóa đơn cũng tạo điều kiện cho doanh nghiệp trốn tránh nghĩa vụ thuế, vi phạm các quy định pháp luật về thuế.  3.2. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thanh toán điện tử: Theo Điều 34 Nghị định 52/2013/NĐ-CP, thương nhân phải công bố rõ ràng các phương thức thanh toán áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ trên trang web của mình. Điều này bao gồm việc bảo đảm rằng người tiêu dùng có thể xem lại và xác nhận các thông tin giao dịch trước khi thực hiện thanh toán. Đồng thời, Luật Giao dịch điện tử 2005 (Luật số 51/2005/QH11) quy định rõ rằng các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải bảo vệ thông tin cá nhân trong quá trình giao dịch điện tử. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều website thương mại điện tử không tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo mật thông tin, dẫn đến nguy cơ lộ lọt dữ liệu cá nhân. Việc này không chỉ vi phạm Luật Giao dịch điện tử mà còn tạo ra rủi ro lớn cho người tiêu dùng, khiến họ dễ trở thành nạn nhân của các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.  3.3. Bảo vệ người tiêu dùng liên quan đến bí mật thông tin cá nhân: Khoản 2 Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh phải bảo đảm an toàn và bí mật thông tin của người tiêu dùng. Luật Giao dịch điện tử 2005 và Luật An ninh mạng 2018 (Luật số 24/2018/QH14) cũng quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo mật thông tin cá nhân và ngăn chặn việc chia sẻ, sử dụng thông tin trái phép.Mặc dù có các quy định pháp lý rõ ràng, nhưng việc thực thi trên thực tế lại gặp nhiều hạn chế. Các vụ lộ lọt thông tin cá nhân, tin nhắn rác, cuộc gọi quảng cáo phiền nhiễu vẫn xảy ra thường xuyên, vi phạm quyền riêng tư của người tiêu dùng. Điều này cho thấy sự thiếu nghiêm túc trong việc tuân thủ và thực thi các quy định bảo mật thông tin cá nhân.  3.4. Bảo vệ người tiêu dùng liên quan đến giải quyết các tranh chấp: Theo Điều 23 và 24 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, và các quy định từ Điều 447 đến Điều 449 Bộ luật Dân sự 2015 (Luật số 91/2015/QH13), người tiêu dùng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn chất lượng, số lượng, giá cả như đã cam kết. Tuy nhiên, quy định về bảo hành, xử lý khuyết tật hàng hóa trong thương mại điện tử còn phân tán trong nhiều văn bản pháp luật, thiếu sự đồng nhất, gây khó khăn cho người tiêu dùng trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình. Cơ chế giải quyết tranh chấp qua các hình thức như thương lượng, hòa giải, trọng tài, hay tố tụng tại Tòa án tuy đã được quy định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về thẩm quyền thụ lý, thu thập và đánh giá chứng cứ. Điều này làm giảm hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các tranh chấp liên quan đến thương mại điện tử. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế:  1. Thiếu minh bạch và trách nhiệm từ phía doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về cung cấp thông tin sản phẩm, dịch vụ, dẫn đến việc người tiêu dùng không được bảo vệ đúng mức. Điều này không chỉ vi phạm Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn gây mất niềm tin vào thương mại điện tử.  2. Hạn chế trong cơ chế bảo mật thông tin: Các biện pháp bảo mật thông tin chưa được thực thi một cách nghiêm túc, dẫn đến nguy cơ lộ lọt dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng, vi phạm các quy định của Luật Giao dịch điện tử và Luật An ninh mạng.  3. Pháp luật chưa hoàn thiện: Hệ thống pháp luật về thương mại điện tử còn phân tán, thiếu sự thống nhất và chưa đáp ứng được nhu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ. 4. Thiếu nhận thức và năng lực tự bảo vệ của người tiêu dùng: Người tiêu dùng chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình và không biết cách tự bảo vệ, dẫn đến việc chấp nhận bị thiệt hại mà không có động thái đòi hỏi bồi thường, vi phạm các quyền lợi hợp pháp mà pháp luật quy định. 4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử Thứ nhất, tăng cường hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đảm bảo chất lượng về hàng hóa Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, việc đảm bảo chất lượng hàng hóa là yếu tố then chốt để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nhà nước đã có những biện pháp nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát và hạn chế hàng giả, hàng nhái trong các giao dịch thương mại điện tử. Tiêu biểu là Quyết định số 368/QĐ-TCQLTT của Tổng cục Quản lý thị trường ban hành ngày 28/02/2020 về việc thành lập Tổ công tác về thương mại điện tử. Quyết định này nhằm mục đích tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh trên các nền tảng thương mại điện tử, từ đó hạn chế tình trạng bán hàng giả, hàng kém chất lượng. Ngoài ra, cần nâng cao nhận thức của người tiêu dùng trong việc tìm hiểu thông tin và mức độ uy tín của người bán để tránh tình trạng bị lừa đảo. Người tiêu dùng cần kiểm tra kỹ lưỡng hàng hóa khi nhận hàng và yêu cầu người bán cung cấp đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp để đảm bảo quyền lợi theo quy định pháp luật. Việc này không chỉ giúp người tiêu dùng có cơ sở yêu cầu bồi thường khi phát sinh tranh chấp mà còn thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động kinh doanh trên môi trường mạng. Thứ hai, tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử Nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch thương mại điện tử, cơ quan quản lý nhà nước cần triển khai các hoạt động giám sát chặt chẽ và thường xuyên hơn. Hoạt động này không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm sau khi giao dịch đã diễn ra, mà cần được thực hiện từ khi hàng hóa, dịch vụ được đăng thông tin trên nền tảng thương mại điện tử cho đến khi hợp đồng mua bán được xác lập và các dịch vụ hậu mãi được thực hiện. Đặc biệt, các quy định pháp luật cần được củng cố để kiểm soát tốt hơn các hoạt động của tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, nhằm bảo đảm rằng quyền lợi của người tiêu dùng được bảo vệ một cách toàn diện. Song song với việc tăng cường giám sát và quản lý, cần kết hợp với biện pháp xử lý nghiêm khắc, triệt để những hành vi vi phạm. Các hình thức xử lý cần mang tính răn đe, giáo dục để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử. Đồng thời, cơ quan chức năng cần chủ động phối hợp với các đơn vị truyền thông để cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi của người tiêu dùng trong môi trường thương mại điện tử. Thứ ba, tăng cường đảm bảo bí mật và bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng Việc bảo mật thông tin cá nhân của người tiêu dùng là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng lòng tin vào thương mại điện tử. Để đạt được điều này, cần có sự thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân. Hiện nay, chế tài xử phạt đối với những hành vi xâm hại thông tin cá nhân còn chưa đủ mạnh để răn đe. Điều 288 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, viễn thông” có thể chịu hình phạt tù lên đến 7 năm, tuy nhiên, vẫn chưa có quy định cụ thể về các hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến thông tin của người tiêu dùng trong thương mại điện tử. Vì vậy, để bảo vệ hữu hiệu quyền lợi của người tiêu dùng và đảm bảo an toàn thông tin cá nhân, cần tăng cường chế tài đối với các hành vi làm lộ, mua bán hoặc trao đổi thông tin cá nhân trái phép. Điều này không chỉ giúp lành mạnh hóa môi trường kinh doanh thương mại điện tử mà còn góp phần tạo ra một môi trường giao dịch an toàn hơn cho người tiêu dùng. Thứ tư, giải pháp đối với người tiêu dùng để bảo vệ chính mình Người tiêu dùng cũng cần có những biện pháp tự bảo vệ quyền lợi của mình khi tham gia vào các giao dịch thương mại điện tử. Một số lưu ý quan trọng bao gồm:  • Xác minh người bán: Trước khi thực hiện giao dịch, người tiêu dùng cần xác minh rõ ràng thông tin về người bán như địa chỉ, số điện thoại để có thể liên hệ khi cần thiết.  • Kiểm tra sản phẩm: Đọc kỹ các hướng dẫn sử dụng, thông tin về sản phẩm và xác định rõ giá cả, bao gồm cả các chi phí phát sinh như vận chuyển, đóng gói. Người tiêu dùng nên so sánh giá cả trên các trang web khác nhau trước khi quyết định mua hàng. • Phương thức thanh toán: Để đảm bảo an toàn, nên sử dụng các phương thức thanh toán qua thẻ tín dụng hoặc các hệ thống thanh toán trực tuyến uy tín thay vì gửi tiền mặt.  • Kiểm tra điều khoản hợp đồng: Người tiêu dùng cần kiểm tra kỹ các điều khoản về chính sách hoàn trả, bảo hành, thời gian giao hàng, và các chi phí liên quan. Đồng thời, lưu giữ các hồ sơ giao dịch, bao gồm mô tả sản phẩm, giá cả, email trao đổi và sao kê thẻ tín dụng để có thể sử dụng khi cần thiết. Việc thực hiện các biện pháp này sẽ giúp người tiêu dùng tự bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả hơn trong môi trường thương mại điện tử đang phát triển nhanh chóng. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
Trái phiếu chính quyền địa phương được phát hành cho các mục đich nào? Trái phiếu chính quyền địa phương do ai phát hành? Để phát hành trái phiếu chính quyền địa phương thì phải đáp ứng các điều kiện nào? Trái phiếu chính quyền địa phương có được phát hành theo phương thức bảo lãnh không? Hãy cùng Vietlawyer trả lời nhũng câu hỏi này qua bài viết dưới đây: 1. Trái phiếu chính quyền địa phương là gì? Theo Khoản 11 Điều 13 Luật Quản lý nợ công 2017 quy định: Điều 3. Giải thích từ ngữ ... 11. Trái phiếu chính quyền địa phương là công cụ nợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành để huy động vốn cho ngân sách địa phương. Theo đó, trái phiếu chính quyền địa phương là công cụ nợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành để huy động vốn cho ngân sách địa phương. 2. Trái phiếu chính quyền địa phương được phát hành cho các mục đích nào? Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định 01/2011/NĐ-CP: Điều 4. Mục đích phát hành trái phiếu ... 3. chính quyền địa phương được phát hành cho các mục đích sau: a) Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; b) Đầu tư vào các dự án có khả năng hoàn vốn tại địa phương. Vậy trái phiếu chính quyền địa phương được phát hành cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư vào các dự án có khả năng hoàn vốn địa phương. 3. Trái phiếu chính quyền địa phương do ai phát hành? Thì theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 01/2011/NĐ- CP, khoản 2 Điều 67 Nghị định 91/2018/NĐ-CP như sau:  Chủ thể phát hành trái phiếu 1. (Bãi bỏ). 2. Chủ thể phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là doanh nghiệp, ngân hàng chính sách của nhà nước và tổ chức tài chính, tín dụng thuộc đối tượng được cấp bảo lãnh Chính phủ theo quy định tại Điều 32 Luật Quản lý nợ công. 3. Chủ thể phát hành trái phiếu chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Như vậy, theo quy định trên thì trái phiếu chính quyền địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành. 4. Để phát hành trái phiếu chính quyền địa phương thì phải đáp ứng các điều kiện nào? Quy định tại Điều 24 Nghị định 01/2011/NĐ-CP như sau: - Phát hành trái phiếu để đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ của ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch năm (05) năm đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định; hoặc các dự án được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xác định có khả năng hoàn vốn. Các dự án này phải hoàn thành thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan. - Có đề án phát hành trái phiếu đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua và Bộ Tài chính thẩm định, chấp thuận bằng văn bản. - Tổng số vốn huy động tối đa bằng phát hành trái phiếu phải nằm trong hạn mức dư nợ từ nguồn vốn huy động hàng năm của ngân sách cấp tỉnh theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn. + Đối với các dự án được xác định là có khả năng hoàn vốn, tổng giá trị vốn vay, bao gồm cả việc phát hành trái phiếu, để đầu tư vào một dự án không vượt quá tám mươi phần trăm (80%) tổng mức đầu tư của dự án đó. 5. Trái phiếu chính quyền địa phương có được phát hành theo phương thức bảo lãnh không? Trái phiếu chính quyền địa phương có được phát hành theo phương thức bảo lãnh không, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định 01/2011/NĐ-CP như sau: Phương thức phát hành trái phiếu 1. Trái phiếu được phát hành theo phương thức đấu thầu, bảo lãnh hoặc đại lý phát hành trái phiếu. 2. Đối tượng tham gia đấu thầu, bảo lãnh hoặc đại lý phát hành trái phiếu được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định này. Theo đó tại điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định 93/2019/NĐ-CP như sau: Tổ chức vay theo hình thức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương 4. Tổ chức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương: a) Chậm nhất 05 ngày làm việc trước ngày dự kiến tổ chức đấu thầu trái phiếu hoặc chậm nhất 10 ngày làm việc trước ngày tổ chức phát hành trái phiếu theo phương thức bảo lãnh phát hành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công bố thông tin cơ bản về đợt phát hành trái phiếu trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của tổ chức được ủy quyền thực hiện nghiệp vụ phát hành trái phiếu hoặc của tổ chức thực hiện đấu thầu trái phiếu. Nội dung công bố thông tin theo quy định tại Mục 1 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này; b) Phương thức phát hành: - Phương thức đấu thầu phát hành: Trái phiếu chính quyền địa phương được tổ chức phát hành theo phương thức đấu thầu tại tổ chức thực hiện đấu thầu công cụ nợ Chính phủ. Nguyên tắc tổ chức đấu thầu, hình thức đấu thầu, đối tượng tham gia đấu thầu, quy trình thủ tục tổ chức đấu thầu, phương thức xác định kết quả đấu thầu, phương thức thanh toán tiền mua trái phiếu được áp dụng theo quy định về phát hành công cụ nợ Chính phủ theo phương thức đấu thầu; - Phương thức bảo lãnh phát hành: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc tổ chức được ủy quyền đàm phán trực tiếp với tổ chức bảo lãnh chính để thống nhất về khối lượng, điều kiện, điều khoản của trái phiếu (kỳ hạn, lãi suất phát hành, ngày phát hành, ngày thanh toán tiền mua trái phiếu, giá bán trái phiếu), chi phí bảo lãnh và các nội dung liên quan khác. Quy trình tổ chức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương theo phương thức bảo lãnh phát hành thực hiện theo quy trình bảo lãnh phát hành công cụ nợ của Chính phủ. Như vậy, theo quy định trên thì trái phiếu chính quyền địa phương được phát hành theo phương thức bảo lãnh. Trên đây là chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer, với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý, nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website: https://vietlawyer.vn/ hoặc Hotline: 0927.625.666 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.
 
hotline 0936 645 695