Hiện nay, không ít trường hợp người vay tiền đến hạn nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, khiến nhiều người băn khoăn liệu hành vi này có bị xử lý hình sự hay chỉ là tranh chấp dân sự. Điều này còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dưới đây là những phân tích về các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này.

1. Những trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
1.1. Trường hợp thứ nhất: Người vay có hành vi gian dối ngay từ đầu
- Nếu ngay từ thời điểm vay tiền, người vay đã đưa ra thông tin không đúng sự thật hoặc sử dụng thủ đoạn gian dối để người cho vay tin tưởng giao tiền, sau đó chiếm đoạt tài sản thì có thể bị truy cứu về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ví dụ:
• Làm giả giấy tờ để chứng minh khả năng tài chính.
• Mạo danh người khác để vay tiền.
• Bịa đặt việc cần tiền chữa bệnh, đầu tư hoặc kinh doanh trong khi thực tế chỉ nhằm chiếm đoạt tiền của người cho vay.
- Mức hình phạt đối với hành vi này:
+ Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Nếu chiếm đoạt tài sản từ 02 triệu đồng trở lên hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định quy định tại Khoản 1 Điều 174
+ Bị phạt tù từ 02 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: tùy thuộc vào từng trường hợp quy định tại Điều 174
1.2. Trường hợp thứ hai: Ban đầu vay hợp pháp nhưng sau đó nảy sinh ý đồ chiếm đoạt khi đang nắm giữ tài sản
- Ban đầu, việc vay tiền được thực hiện hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên, sau khi nhận được tiền, người vay lại nảy sinh ý đồ nhằm chiếm đoạt tài sản có thể bị truy cứu về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được biểu hiện thông qua những hành vi sau:
+ Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản;
+ Có điều kiện, có khả năng trả nhưng cố tình không trả;
+ Sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không còn khả năng trả lại.
- Mức hình phạt đối với hành vi này:
+ Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 04 triệu đồng trở lên hoặc dưới 04 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp luật quy định tại Khoản 1 Điều 175
+ Bị phạt tù từ 02 năm đến 20 năm: tùy thuộc vào từng trường hợp quy định tại Điều 175
2. Trường hợp nào chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự?
- Người vay sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu việc không có khả năng trả nợ xuất phát từ những nguyên nhân khách quan như:
+ Làm ăn thua lỗ, mất việc làm, mắc bệnh, gặp sự kiện bất khả kháng hoặc gặp khó khăn về tài chính dẫn đến chưa thể thanh toán khoản vay đúng hạn,....
=> Trong trường hợp này, nếu người vay vẫn thiện chí hợp tác với bên cho vay, không bỏ trốn, không sử dụng thủ đoạn gian dối và không có mục đích chiếm đoạt tài sản thì quan hệ giữa các bên chỉ là tranh chấp dân sự. Khi đó, bên cho vay có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Vì vậy, nếu bạn là người đi vay và gặp khó khăn, hãy chủ động thương lượng với bên cho vay để tìm phương án trả nợ phù hợp. Nếu bạn là người cho vay phát hiện người vay có dấu hiệu gian dối hoặc bỏ trốn, bạn có thể thu thập chứng cứ và tố giác hành vi này đến cơ quan công an để được giải quyết theo quy định của pháp luật.
⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Viết bình luận