Các đối tượng khủng bố ở Đắk Lắk sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật | VietLawyer

Các đối tượng khủng bố ở Đắk Lắk sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Vụ nổ súng tại Đắk Lắk xảy ra vào sáng ngày 11/6/2023 trên địa bản tỉnh Đắk Lắk một nhóm đối tượng có trang bị súng tấn công vào 2 trụ sở đồn công an xã Ea Tiêu và Ea Ktur. Vụ khủng bố đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khi làm 09 người chết, 02 người bị thương, bắt giữ 03 con tin. Cùng ngày, Bộ Công an đã huy động nhiều lực lượng cảnh sát và cơ động phối hợp cùng quân sự địa phương triển khai truy bắt các nhóm đối tượng chống phá này. 

Các đối tượng bị bắt giữ. Ảnh: Cổng thông tin Bộ Công an/TTXVN phát

Ngày 23/6 vừa qua, trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an đã thông tin rằng, đối với vụ khủng bố ở Đắk Lắk Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định số 05/QĐ-ANĐT khởi tố vụ án “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; che giấu tội phạm; không tố giác tội phạm và tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép”.

Đồng thời cơ quan chức năng đã ra các Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với: 75 bị can về tội “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” (theo Điều 113 Bộ Luật hình sự năm 2015), khởi tố 07 bị can về tội “không tố giác tội phạm” (Điều 390 Bộ Luật hình sự năm 2015), 01 bị can về tội “che giấu tội phạm” (Điều 389 Bộ Luật hình sự năm 2015), 01 bị can về tội “Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép” (Điều 348 Bộ Luật hình sự năm 2015).

Bộ Công an đánh giá, đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các đối tượng rất man rợ, mất nhân tính, thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng. 

Theo Luật sư Nguyễn Thị Thanh Phương – Giám đốc công ty Luật VietLawyer cho rằng: “Các tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện hoặc đứng sau sẽ bị xử lý tương xứng với mức độ vi phạm theo quy định của pháp luật”. Cụ thể như sau:

- Đối với tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân:

*Hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm của tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gồm 5 nhóm hành vi: Thứ nhất là nhóm hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, quyền tự do thân thể của con người; thứ hai là nhóm hành vi xâm phạm tài sản; thứ ba là nhóm hành vi xâm hại hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; thứ tư là nhóm hành vi thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố và thứ năm là các hành vi trợ giúp tổ chức khủng bố.

*Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Mục đích phạm tội được quy định là:

+ Mục đích chống chính quyền nhân dân hoặc;

+ Mục đích gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trong trường hợp nạn nhân của hành vi phạm tội là người nước ngoài, tổ chức nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế).

*Khung hình phạt

Pháp luật quy định 03 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt cho chuẩn bị phạm tội.

Khung hình phạt có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình được quy định cho trường hợp xâm phạm tính mạng nạn nhân, phá hủy tài sản.

Khung hình phạt có mức phạt tù từ 10 năm đến 15 năm được quy định cho một trong các trường hợp sau:

– Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tài trợ khủng bố;

– Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố;

– Xâm phạm sức khoẻ hoặc tự do thân thể của nạn nhân;

– Chiếm giữ, làm hư hại tài sản hoặc

– Tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử.

Khung hình phạt có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm được quy định cho trường hợp nạn nhân bị đe dọa thực hiện một trong các hành vi được quy định tại khoản 1 hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần.

Khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được quy định cho chuẩn bị phạm tội./.

- Đối với tội không tố giác tội phạm

Một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội không tố giác tội phạm nếu như họ có hành vi không “tố giác”, tức là không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết về việc phạm tội của người khác khi họ là người phát hiện và biết rõ hành vi phạm tội này, dù hành vi phạm tội đó đang ở giai đoạn chuẩn bị thực hiện, đã được thực hiện hay đang trong quá trình thực hiện.

Căn cứ theo quy định Điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 138 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015 về Tội không tố giác tội phạm thì khi một người đáp ứng đầy đủ cấu thành của Tội không tố giác tội phạm, họ sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Đối với tội che giấu tội phạm

Tội che giấu tội phạm thể hiện ở hành vi không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, cũng như các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, tức là đã bằng hành động tích cực nhằm che giấu một trong những tội phạm được liệt kê tại Điều 389 Bộ luật hình sự. Hành vi che giấu tội phạm mà có hứa hẹn trước được coi là đồng phạm về một tội phạm cụ thể.

Hành vi che giấu tội phạm gây khó khăn cho việc điều tra, phát hiện tội phạm, cản trở việc tìm ra và xử lý người phạm tội, cản trở việc khắc phục hậu quả của tội phạm và có khi còn khuyến khích người phạm tội.

Điều 389 Bộ luật hình sự quy định chế tài đối với tội phạm này bao gồm 2 khung hình phạt

- Khung hình phạt thứ nhất được áp dụng khi vi phạm vào Khoản 1 Điều 389, người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến năm.

- Khung hình phạt thứ hai được áp dụng khi phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội thì bị phạt tù từ 02 năm đến  năm.

- Đối với tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép

Hành vi khách quan của tội phạm gồm hành vi tổ chức, hành vi môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép và hành vi tổ chức, môi giới cho người khác ở lại Việt Nam trái phép. Tổ chức là chủ mưu, cầm đầu, vạch kế hoạch cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép. Môi giới là hành vi giới thiệu, làm chung gian giữa người xuất, nhập cảnh trái phép; người ở lại Việt Nam trái phép với người tổ chức việc xuất nhập cảnh, ở lại Việt Nam trái phép.

Hậu quả của tội phạm không phải dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm. Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm hành vi khách quan xảy ra.

Như vậy, qua quá trình điều tra, lấy lời khai của các đối tượng, tùy vào từng hành vi cụ thể, hậu quả của các hành vi đó gây ra, các cá nhân sẽ phải chịu mức hình phạt với các tội danh cụ thể tương ứng với các tình tiết, tính chất của vụ án.

Thân gửi Quý khách hàng

Công ty Luật Phương Bình, về bản chất cũng giống như một công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, vậy nên văn hóa doanh nghiệp có những đặc thù, đặc điểm của nó.

I. Thương hiệu và logo

1. Luật Phương Bình - Luật sư Việt Nam, với mong muốn mà trí tuệ, tinh thần người Việt Nam, hiểu pháp luật, tập quán người Việt Nam.

2. Slogan:

"Luật sư của bạn" một từ đơn giản, gần gũi giản dị, luôn sát cánh, bên cạnh khách hàng, bảo vệ khách hàng, mang đến cho khách hàng sự hài lòng, an tâm và hạnh phúc.

"Luật sư của bạn" còn mang hàm ý rất lớn rằng chúng tôi luôn sẵn sàng phục vụ, đồng hành cùng thân chủ, khách hàng với sự tận tâm, chân thành của mình.

II. Giá trị cốt lõi

1. Chia sẻ

- Chia sẻ nội bộ: Chia sẻ kiến thức, chia sẻ cơ hội cùng nhau hợp tác với các luật sự, các cộng sự, các tổ chức, công ty luật trên toàn quốc.

- Chia sẻ với khách hàng: Chúng tôi luôn đứng trên quan điểm của luật pháp và quan điểm, mong muốn, nguyện vọng của khách hàng thể triển khai các công việc, phục vụ khách hàng.

- Chia sẻ với công đồng: Chúng tôi luôn cho rằng việc công đồng cùng hiểu biết pháp luật sẽ giúp cả công cộng đồng, cả đất nước hiểu biết pháp luật, từ đó tình trạng vi phạm pháp luật cúng thể mà giảm đi. Nên trách nhiệm chia sẻ kiến thức, công sức đến công đồng là việc rất quan trọng.

2. Tận tâm

Tận tâm với công việc, tân tâm với khách hàng, làm việc với "tâm đức" của luật sư bảo vệ chính nghĩa, lẽ phải, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tối đa.

3. Trách nhiệm

Khi có một kết quả không tốt, có lẽ ai cũng tìm cách để đùn đẩy trách nhiệm để nói rằng "lỗi đó không thuộc về tôi", nhưng ở Vietlawyer thì khác chúng tôi luôn thẳng thắn nhìn vào trách nhiệm của từng cá nhân, 

4. Không vi pháp luật

Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn luật, việc đầu tiên mà chúng tôi có thể làm tốt là không bản thân doanh nghiệp của mình, các thành viên của mình cần làm đúng theo quy định của pháp luật.

Từ đó mới có thể tư vấn, định hướng, cùng khách hàng triển khai các vụ việc, dự án, vụ án đúng theo quy định pháp luật, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của khách hàng.

Với những định hướng văn hóa rõ ràng, chúng tôi luôn nỗ lực để bản thân tốt lên mỗi ngày, từ đó hướng đến những thành công cùng khách hàng.

Vậy nên một lần nữa chúng tôi luôn mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của khách hàng.

Trân trọng.

Công ty Luật Phương Bình xin được gửi lời chào trân trọng và lời cảm ơn chân thành đến Quý khách hàng, Quý thân chủ, đã ủng hộ, giúp đỡ và tin tưởng chúng tôi trong những năm qua.

Được thành lập ngày 28 tháng 6 năm 2021, với đội ngũ Luật sư đông đảo, có thâm niên công tác trong ngành đều trên 10 năm, giàu kinh nghiệm.

Bên cạnh đó Công ty Luật Phương Bình còn có đội ngũ cố vấn là các Tiến sĩ, thạc sĩ là giảng viên, giám đốc pháp chế, công an (nghỉ hưu) lâu năm, dày dặn kinh nghiệm thực tiễn.

Ngoài ra với đội ngũ Luật sư tập sự, cử nhân luật, chuyên viên pháp lý trẻ, năng động, tài năng, nhiệt tình, được đào tạo bài bản từ các trường đại học uy tín hàng đầu của Việt Nam.

Chúng tôi, đã chiếm trọn niềm tin của khách hàng và chưa để khách hàng thất vọng trong những năm qua.

Tại Phương Bình, Chúng tôi cung cấp đầy đủ các dịch vụ: Thủ tục hành chính, tư vấn, tranh tụng, trong các lĩnh vực:

- Tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp theo vụ việc và thường xuyên;

- Tư vấn, tham gia bào chữa trong các giai đoạn tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ trong các vụ án hình sự;

- Tư vấn, đại diện theo uỷ quyền, cử luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng trong các vụ việc/vụ án tranh chấp dân sự;

- Tư vấn định hướng luật lao động cho doanh nghiệp và người lao động;

- Tư vấn, đại diện theo quỷ quyền để làm việc với các cơ quan quản lý nhà nước, cử luật sư bảo về quyền và lợi ích hợp pháp tại tòa án liên quan đến tranh chấp đất đai;

- Tư vấn, đại diện cho thân chủ trong các vụ án, vụ việc ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương, ly hôn có yếu tố nước ngoài;

- Và các vụ án, vụ việc về kinh doanh thương mại, hành chính, sở hữu trí tuệ...

Dù là vụ án, vụ việc nào với tâm đức của mình, chúng tôi luôn nỗ lực hoàn thành tốt công việc trách nhiệm của mình, để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng (thân chủ).

Với thế mạnh của mình, chúng tôi sẽ không ngừng phát triển để thu hút nhân tài, mở rộng thị trường, nghiên cứu chuyên sâu những nghiệp vụ pháp luật, nghiệp vụ tố tụng, kỹ năng giải quyết vụ việc... để hoàn thành tốt hơn, chăm sóc tốt hơn khách hàng của mình.

Và luôn hy vọng, sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ, tin tưởng của khách hàng.

Trân trọng.


Banner bài biết

BẠN ĐANG QUAN TÂM

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ A và chồng B mua được thửa đất anh trai của B với giá 500.000.000 đồng tuy nhiên chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hình thức tặng cho. Tới nay, giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên A đã khởi kiện yêu cầu ly hôn. Khi giải quyết việc chia tài sản chung, A thắc mắc liệu thửa đất được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân có được chia hay không. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài chung của vợ chồng như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Theo quy định trên, tài sản do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc được hình thành từ tài sản riêng. Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án không chỉ căn cứ vào tên gọi của giao dịch là “tặng cho”, mà còn xem xét bản chất thực tế của việc chuyển nhượng tài sản. Trường hợp có căn cứ chứng minh việc nhận quyền sử dụng đất được thực hiện bằng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn có cơ sở xác định đây là tài sản chung.   Đối với tình huống trên các trường hợp có thể chứng minh, cụ thể: Trường hợp 1: Có chứng từ thanh toán thể hiện việc mua bán Nếu việc giao tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, có sao kê ngân hàng hoặc nội dung chuyển tiền thể hiện mục đích mua đất, đồng thời nguồn tiền là thu nhập của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì đây là căn cứ để chứng minh thửa đất được hình thành từ tài sản chung. Trường hợp 2: Người chồng thừa nhận là tài sản chung Trong quá trình giải quyết ly hôn, nếu B đồng ý xác định thửa đất là tài sản chung và thống nhất việc phân chia cho A thì đây là căn cứ để Tòa án xem xét công nhận theo sự thỏa thuận của các bên. Trường hợp 3: Có chứng cứ khác chứng minh giao dịch thực tế là mua bán Mặc dù hợp đồng thể hiện dưới hình thức tặng cho, nhưng nếu có tin nhắn, ghi âm, lời khai của người anh chồng hoặc người làm chứng xác nhận việc hai vợ chồng đã giao tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất thì đây vẫn có thể được xem là chứng cứ chứng minh tài sản được tạo lập bằng công sức, tài sản chung của vợ chồng. Từ đó có thể thấy, hình thức “tặng cho” không phải là căn cứ duy nhất để xác định tính chất tài sản. Nếu chứng minh được thửa đất được hình thành từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì quyền sử dụng đất này vẫn có thể được xác định là tài sản chung và được xem xét phân chia khi ly hôn. Từ các phân tích trên có thể thấy, việc chuyển quyền sử dụng đất được lập dưới hình thức “tặng cho” không đồng nghĩa thửa đất đương nhiên là tài sản riêng của chồng B. Khi giải quyết tranh chấp ly hôn, Tòa án sẽ xem xét toàn bộ quá trình hình thành tài sản, nguồn tiền thanh toán và bản chất thực tế của giao dịch. Trường hợp A chứng minh được việc nhận chuyển nhượng thửa đất có sử dụng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có căn cứ thể hiện giao dịch thực tế là mua bán chứ không phải tặng cho riêng, thì vẫn có cơ sở để xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng và được xem xét phân chia khi ly hôn. Ngược lại, nếu không có chứng cứ chứng minh việc giao nhận tiền hoặc không chứng minh được giao dịch “tặng cho” chỉ là hình thức thể hiện trên giấy tờ, Tòa án có thể căn cứ vào nội dung hợp đồng công chứng và hồ sơ sang tên để xác định tính chất pháp lý của tài sản theo hình thức giao dịch đã được xác lập. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
Trong thực tế, nhiều trường hợp cho mượn Chứng minh nhân dân hay căn cước công dân để thực hiện giao kết hợp đồng lao động, hậu quả phát sinh nhiều vấn đề pháp lý trong tương lai. Vậy việc mượn hoặc cho mượn Căn cước công dân để ký kết hợp đồng lao động có vi phạm quy định của pháp luật hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động 2019 quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động phải bảo đảm: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Đây là nguyên tắc nền tảng điều chỉnh toàn bộ quá trình xác lập quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động 2019 quy định người lao động có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và các thông tin khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động. Từ các quy định nêu trên có thể xác định rằng, việc sử dụng Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân của người khác để đứng tên giao kết hợp đồng lao động là hành vi cung cấp thông tin không trung thực trong quá trình xác lập quan hệ lao động. Đồng thời, hành vi cho mượn giấy tờ tùy thân để người khác tham gia quan hệ lao động cũng được xem là tiếp tay cho việc xác lập giao dịch lao động trái với nguyên tắc trung thực theo quy định của Bộ luật Lao động.   Ngoài ra, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động 2019 quy định hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Như vậy, trường hợp sử dụng giấy tờ tùy thân của người khác để ký kết hợp đồng lao động có căn cứ để xác định là vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động và hợp đồng lao động đã được ký kết có thể bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ. Trên thực tế, hậu quả pháp lý của hành vi này không chỉ dừng lại ở việc hợp đồng lao động bị vô hiệu mà còn kéo theo nhiều hệ lụy khác như: ·     Phát sinh tình trạng trùng thông tin tham gia bảo hiểm xã hội; ·     Sai lệch dữ liệu lao động, dữ liệu thuế thu nhập cá nhân; ·     Khó khăn trong việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, tai nạn lao động; ·     Phát sinh tranh chấp về tiền lương, quyền lợi lao động hoặc trách nhiệm bồi thường; ·     Nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hành vi sử dụng giấy tờ của người khác hoặc kê khai thông tin không đúng sự thật; ·     Trong một số trường hợp nghiêm trọng còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu hành vi nhằm mục đích gian dối để trục lợi hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật khác. Do đó, việc cho mượn hoặc sử dụng Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi không phù hợp với quy định pháp luật lao động hiện hành và tiềm ẩn nhiều hậu quả pháp lý nghiêm trọng mà các bên cần đặc biệt lưu ý. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được luật sư tư vấn. 
Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau: Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam, trừ các trường hợp sau đây: a) Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động c) Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. Như vậy, người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên và không thuộc các trường hợp tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Chào Luật sư, tháng 5/2025 tôi có cho bạn là H vay số tiền 10.000.000 đồng khi vay thì hai bên có làm hợp đồng vay tiền, có chữ ký tên và ghi họ tên của H, không có ai chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có thời hạn trả nợ, không lãi suất. Đến tháng 01/2026, H đã trả lại đầy đủ số tiền này cho tôi. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026, H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và qua quá trình điều tra, xác minh xác định rằng số tiền H dùng để trả cho tôi là tiền do phạm tội mà có. Hiện nay, tôi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự nêu trên. Tôi hoàn toàn không biết và cũng không có căn cứ để biết số tiền H trả cho tôi là tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Vậy, xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết các quy định của pháp luật liên quan đến vụ án. Trả lời: Trong vụ việc trên, hành vi cho anh H vay số tiền 10.000.000 đồng là giao dịch dân sự được thể hiện qua hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hai bên đã thỏa thuận cho vay tài sản, Bên A đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng số lượng với số tiền 10.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nợ, tuy nhiên tháng 1/2026 anh H đã thanh toán khoản vay cho anh bên A số tiền 10.000.000 đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 1 Điều 466 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Như vây, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với giao dịch vay tài sản giữa bên A và anh H. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026 anh H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản, đối với số tiền anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A cũng được xác định là số tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của anh H. Anh A mong muốn được tư vấn 02 vấn đề sau: 1. Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi 1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. 2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Theo quy định, đối với hành vi của anh H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ quan chức năng sẽ điều tra, xác minh về các số tiền mà anh H đã lừa đảo để trả lại tài sản cho chủ ở hữu (bị hại). Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm trên đều phải được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, dù bạn nhận được tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không thể biết nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền, theo nguyên tắc, bạn sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để phục vụ trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để xem xét việc anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A trong trường hợp này có làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, việc anh H thanh toán khoản vay trên là hợp pháp và bên A cũng không biết được nguồn gốc số tiền trên thì không có căn cứ để cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ cho rằng số tiền anh H thanh toán khoản trên có nguồn gốc về hành vi phạm tội của anh H, như vậy số tiền 10.000.000 đồng sẽ được cơ quan chức năng thu hồi. Đối với việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi số tiền anh H đã thực hiện việc thanh toán khoản nợ với số tiền 10.000.000 đồng cho bên A, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên A. Căn cứ khoản 11 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ xác định bên A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bạn có quyền yêu cầu độc lập buộc anh H (bị cáo) hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bạn đã co anh H vay. Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:   “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù bạn là người cho vay hợp pháp và đã nhận lại tiền từ anh H, nhưng do số tiền này được xác định là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thu hồi nhằm trả lại cho người bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, việc nhận tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không có căn cứ để biết về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản không làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với bạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn cần chủ động thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay là có thật và hợp pháp, đồng thời gửi yêu cầu bồi thường thiệt hại đến Tòa án. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bản án sẽ buộc bị cáo có nghĩa vụ thanh toán lại khoản tiền tương ứng cho bạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Trong thời gian vừa qua, nhiều vụ việc thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng. Theo quy định của pháp luật, hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý liên quan: Theo khoản 1, Điều 8 Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2020 quy định về hóa đơn chứng từ, theo đó: Hóa đơn giá trị gia tăng được hiểu là hóa đơn giá trị gia tăng (hay còn gọi là hóa đơn đỏ, hóa đơn VAT) là chứng từ do người bán lập để ghi nhận giá trị hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp, phục vụ cho việc kê khai và nộp thuế GTGT. Hóa đơn GTGT được sử dụng bởi các tổ chức, cá nhân áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, áp dụng cho các hoạt động: - Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong nội địa. - Hoạt động vận tải quốc tế. - Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu. - Xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài. - Hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Như vậy, các giao dịch được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức khi có thu chi phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng để có dữ liệ cho cơ quan thuế quản lý. Tuy nhiên, nhiều chủ thể là cá nhân, tổ chức vì những mục đích khác nhau mà đã thực hiện hành vi mua hóa đơn giá trị gia tăng dù trên thực tế không phát sinh giao dịch. 1. Quy định các hành vi mua bán hóa đơn giá tăng Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS), Thông tư liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC quy định về việc hướng dẫn áp dụng một số Điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính và chứng khoán, như sau: - Căn cứ Khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC, quy định mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: “3. Các hành vi qui định tại Điều 164a của BLHS được hiểu như sau: a) In trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi tự in hóa đơn hoặc tự khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ điều kiện hoặc không đúng, không đầy đủ các nội dung theo qui định của pháp luật; In hóa đơn giả hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả; b) Phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi lập tờ thông báo phát hành không đầy đủ nội dung; không gửi hoặc không niêm yết tờ thông báo phát hành hóa đơn theo đúng qui định; c) Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: c.1) Mua, bán hoá đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác theo qui định; c.2) Mua, bán hoá đơn đã ghi nội dung, nhưng không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo; c.3) Mua, bán hoá đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn đã hết giá trị sử dụng, hóa đơn của cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc cấp cho khách hàng khi bán hàng hóa dịch vụ; c.4) Mua, bán, sử dụng hoá đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hoá, dịch vụ giữa các liên của hoá đơn.” Về chủ thể thực hiện các hành vi trên, bao gồm: Cá nhân bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc người của tổ chức kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; người của tổ chức nhận in hoặc đặt in hóa đơn; cá nhân hoặc người của tổ chức mua hàng hóa, dịch vụ. 2. Về hình thức xử lý hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng Căn cứ điều 203 Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định: “1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên; g) Tái phạm nguy hiểm. 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. 4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và g khoản 2 Điều này , thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng; c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.” Như vậy, từ quy định trên hành vi mua bán hóa đơn giá trị gia tăng cấu thành tội mua bán trái phép hóa đơn thì hành vi mua bán hóa đơn phải thuộc trong các trường hợp: Dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số; Hóa đơn, chứng từ ghi nội dung từ 10 số đến 30 số; Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng thì phạt tiền từ 50.000.000đ đến 200.000.000đ; hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Ngoài ra, trong phạm tội thuộc các trường hợp tại khoản 2 như: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng các điều kiện về số lượng, giá trị hoặc mức độ thiệt hại theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng, không chỉ gây thất thu ngân sách nhà nước mà còn làm méo mó môi trường kinh doanh. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Chào luật sư, hiện tại em đang kinh doanh trên Tik Tok được hơn 1 năm nay. Em đã đăng ký hộ kinh doanh đúng ngành nghề mà em đang bán. Tuy nhiên, em chưa nhận được thông báo nộp thuế của CQNN. 1. Kinh doanh này có phải khai báo thuế gì không ạ? 2. Nếu không khai báo có bị xử phạt gì không ạ? II. Ý KIẾN PHÁP LÝ LIÊN QUAN 1. Quy định của pháp luật về đối tượng phải đóng thuế khi kinh doanh trên TikTok? Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế và quản lý thuế GTGT, thuế TNCN đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh: a) Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ 500 triệu đồng trở xuống thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm với cơ quan thuế chậm nhất là ngày 31 tháng 01 của năm dương lịch tiếp theo. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phát sinh doanh thu thực tế trên 500 triệu đồng trong năm thì thực hiện khai thuế, nộp thuế kể từ quý phát sinh doanh thu trên 500 triệu đồng. Số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân phải nộp xác định theo quy định tại điều 3, Điều 4 Nghị định này. b) Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên 500 triệu đồng bao gồm cả doanh thu đã được tổ chức, cá nhân khấu trừ, khai thay, nộp thay thì tính thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Điều 3, Điều 4 Nghị định này. Việc kê khai, nộp thuế thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định này. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế, Hệ thống thông tin quản lý thuế tự động tạo lập tờ khai thuế để hỗ trợ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong việc khai thuế, tính thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân trên cơ sở dữ liệu hóa đơn điện tử, cơ sở dữ liệu quản lý thuế và các nguồn cơ sở dữ liệu khác mà cơ quan thuế có được từ cơ quan nhà nước khác, tổ chức, cá nhân cung cấp. Việc hỗ trợ của cơ quan thuế không thay thế trách nhiệm khai thuế và xác định số thuế phải nộp của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của hồ sơ khai thuế. Đối chiếu với trường hợp của bạn, trong trường hợp doanh thu của bạn từ kinh doanh trên TikTok trong năm dương lịch từ 500 triệu trở xuống thì thuộc trường hợp không phải nộp thuế GTGT, thuế TNCN và hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phải có trách nhiệm thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm với cơ quan thuế chậm nhất là ngày 31/1 của năm dương lịch tiếp theo. Nếu doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên TikTok trong năm dương lịch trên 500 triệu đồng thì thực hiện khai thuế, nộp thuế từ quý phát sinh doanh thu trên 500 triệu đồng Ngoài ra, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, theo đó trường hợp hộ gia đình, cá nhân kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên 500 triệu đồng bao gồm cả doanh thu đã được tổ chức, cá nhân khấu trừ, khai thay, nộp thay thì tính thuế GTGT, thuế TNCN theo quy định tại Điều 3, Điều 4 của nghị Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.   2. Quy định của pháp luật về khai báo thuế khi kinh doanh online Trong trường hợp quý khách có doanh thu từ 500 triệu đồng trở lên từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thì phải kê khai và nộp thuế GTGT và thuế TNCN. Theo quy định của Nghị số 68/2026/NĐ-CP hướng dẫn phương pháp tính thuế TNCN và thuế GTGT như sau: Đối với thuế giá trị gia tăng: Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 68/2026/NĐ-CP như sau: “2. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm trên 500 triệu đồng thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng và áp dụng phương pháp tính trực tiếp theo doanh thu bằng tỷ lệ % nhân (x) doanh thu. Tỷ lệ % và doanh thu tính thuế thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 và các văn bản hướng dẫn thi hành.” Đối với thuế thu nhập cá nhân, phương pháp tính thuế được quy định khoản 5 Điều 4 Nghị định 68/2026/NĐ-CP: “a) Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 03 tỷ đồng. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15; b) Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 03 tỷ đồng và trường hợp cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 03 tỷ đồng lựa chọn phương pháp này. Thu nhập tính thuế được xác định bằng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ (-) chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15; c) Doanh thu, chi phí xác định theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị định này; d) Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 03 tỷ đồng hoặc có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 03 tỷ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì thực hiện ổn định phương pháp tính thuế trong 02 năm liên tục kể từ năm đầu tiên áp dụng. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 03 tỷ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế, nếu hết năm xác định doanh thu thực tế năm trên 03 tỷ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất.” Tùy theo nhu cầu và mục đích, quý khách có thể chọn trong các phương pháp để đi khai báo thuế và tính thuế theo quy định của pháp luật. 3. Hình thức xử phạt nếu không khai báo thuế khi kinh doanh Hành vi không khái báo thuế khi kinh doanh online trên TikTok sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (sửa đổi, bố sung một số tại Nghị định 310/2025/NĐ-CP) quy định về Xử phạt hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế. Tùy vào mức tình tiết mà mức phạt sẽ khác nhau. “1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 01 ngày đến 05 ngày và có tình tiết giảm nhẹ. 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 01 ngày đến 30 ngày, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. 3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 31 ngày đến 60 ngày. 4. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 61 ngày đến 90 ngày; b) Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 91 ngày trở lên nhưng không phát sinh số thuế phải nộp; c) Không nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp; d) Không nộp các phụ lục theo quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết kèm theo hồ sơ quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp. 5. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn trên 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế, có phát sinh số thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, cơ quan có thẩm quyền khác công bố quyết định thanh tra, kiểm tra hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế.  Trường hợp số tiền phạt nếu áp dụng theo khoản này lớn hơn số tiền thuế phát sinh trên hồ sơ khai thuế thì số tiền phạt tối đa đối với trường hợp này bằng số tiền thuế phát sinh phải nộp trên hồ sơ khai thuế hoặc tổng số tiền thuế phát sinh phải nộp trên các hồ sơ khai thuế thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định này nhưng không thấp hơn mức trung bình của khung phạt tiền quy định tại khoản 4 Điều này.” Tại khoản 2, Điều 59, Luật Quản lý thuế năm 2019, mức tính tiền nộp chậm bằng 0,03% ngày tính trên số thuế chậm nộp và thời gian tính tiền chậm nộp được tính liên tục kể từ ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo hoặc quyết định ấn định thuế hoặc quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế đến ngày liền kề trước ngày số tiền nợ thuế, tiền thu hồi hoàn thuế, tiền thuế tăng thêm, tiền thuế ấn định, tiền thuế chậm chuyển được nộp vào ngân sách nhà nước. Việc truy thu thuế đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh online là đúng quy định pháp luật về thuế. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.            
Hiện nay, hành vi mở phòng khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép ngày càng tràn lan. Cụ thể, hàng loạt phòng khám, cơ sở nha khoa ở Đắk Lắk hoạt động không có giấy phép hoạt động bị xử phạt, đình chỉ hoạt động. Vậy các hành vi có bị xử phạt hay truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi sai phạm này không?.Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.  Theo quy định tại khoản 15 Điều 7 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2023, một trong những hành vi bị cấm là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa khi “không có giấy phép hoạt động, đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động, không đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép,…”. I. Quy định về mức xử phạt hành chính (cảnh cáo, phạt tiền): Căn cứ khoản 6 Điều 39 Nghị định 117/2020 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế. Đối với hành vi vi phạm điều cấm trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh mức xử phạt từ phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành không có giấy phép hoạt động vẫn cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Ngoài ra, cơ sở vi phạm có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là đình chỉ cơ sở hoạt động trong thời hạn 12 tháng đến 24 tháng đối với hành vi  cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh .   II. Quy định về xử lý hình sự Căn cứ quy định tại Điều 315 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Điều 315. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác 1. Người nào vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 259 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”. Như vậy, tùy vào mức độ, hậu quả tổn thất mà các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không có giấy phép hoạt động gây ra để truy cứu trách nhiệm.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
Trong thời gian gần đây, nhiều hộ gia đình tự ý xây dựng nhà ở hoặc công trình phụ trên đất trồng lúa. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật đất đai hiện hành, hành vi này được xem là vi phạm và có thể bị xử phạt với mức tiền rất cao, thậm chí buộc phải tháo dỡ công trình. Để giúp người dân hiểu rõ hơn, Luật Phương Bình xin giải đáp chi tiết như sau: Đất trồng lúa là loại đất được Nhà nước quản lý chặt chẽ vì liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực quốc gia. Do đó, việc chuyển đất lúa sang bất kỳ mục đích nào khác như xây nhà, làm xưởng, sân bê tông hay các công trình khác chỉ được phép khi có quyết định chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người sử dụng đất đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ tài chính. Khi người dân tự ý sử dụng đất lúa cho mục đích khác mà không được cấp phép, hành vi này sẽ được coi là tự ý chuyển mục đích sử dụng đất và bị xử lý theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Hậu quả pháp lý của hành vi này có thể bao gồm việc bị phạt tiền theo diện tích vi phạm, bị buộc tháo dỡ công trình và trả lại đất về trạng thái ban đầu, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không thực hiện được các giao dịch mua bán, tặng cho hoặc thế chấp trên phần đất vi phạm. Mức xử phạt khi tự ý chuyển đất lúa sang mục đích khác Mức phạt được quy định tại Điều 8 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, tùy thuộc vào loại mục đích chuyển đổi và diện tích đất vi phạm. 1. Trường hợp chuyển đất trồng lúa sang loại đất khác trong nhóm đất nông nghiệp (Ví dụ: đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản hay đất trồng cây hàng năm khác...) - Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,5 héc ta; - Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta; - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 01 héc ta đến dưới 03 héc ta; - Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 03 héc ta trở lên. 2. Trong trường hợp chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) thuộc địa giới hành chính của xã (Ví dụ như xây lán trại, nhà xưởng nhỏ, nhà kho hoặc sân bê tông,...) mức phạt sẽ cao hơn: - Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,05 héc ta; - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta; - Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta; - Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta; - Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 01 héc ta đến dưới 02 héc ta; - Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ trên 02 héc ta trở lên. 3. Trường hợp chuyển đất trồng lúa sang đất ở thuộc địa giới hành chính của xã Đây là hành vi phổ biến nhất khi xây nhà trên đất lúa và mức phạt là cao nhất: - Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ dưới 0,01 héc ta; - Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,01 héc ta đến dưới 0,03 héc ta; - Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,03 héc ta đến dưới 0,05 héc ta; - Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta; - Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta trở lên. * Lưu ý: Vi phạm ở khu vực phường, thị trấn sẽ bị áp dụng mức phạt gấp đôi so với cùng diện tích tại khu vực xã. Ngoài việc bị xử phạt hành chính, người vi phạm còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Cơ quan chức năng có quyền yêu cầu tháo dỡ công trình và trả lại hiện trạng đất lúa ban đầu, trừ các trường hợp đặc biệt theo khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai. Nếu người vi phạm thu lợi từ công trình trái phép, chẳng hạn như cho thuê hoặc kinh doanh trên đất vi phạm, toàn bộ khoản lợi đó phải nộp lại cho Nhà nước. Tự ý xây nhà hoặc bất kỳ công trình nào trên đất lúa đều là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt rất nặng, đi kèm với nghĩa vụ tháo dỡ – khôi phục hiện trạng. Để tránh rủi ro pháp lý, người sử dụng đất nên làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất đúng quy định trước khi xây dựng. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695