Trước 01/7/2025, doanh nghiệp phải thực hiện định danh điện tử trên VNeID

Theo quy định mới, doanh nghiệp cần phải đăng ký định danh điện tử trước ngày 01/7/2025. Công ty Luật Phương Bình hướng dẫn đăng ký định danh điện tử cho doanh nghiệp online trên VNeID như sau:

Hướng dẫn đăng ký định danh điện tử cho doanh nghiệp online trên VNeID (Hình từ internet)

1. Trước 01/7/2025, doanh nghiệp phải thực hiện định danh điện tử

Theo quy định tại khoản 4 Điều 40 Nghị định 69/2024/NĐ-CP thì tài khoản được tạo lập bởi Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh cấp cho cơ quan, tổ chức được sử dụng đến hết ngày 30/6/2025.

Như vậy, từ ngày 1/7/2025, các tài khoản này sẽ không còn giá trị sử dụng. Doanh nghiệp sẽ phải sử dụng tài khoản định danh điện tử trên VNeID để truy cập và kết nối với các hệ thống thông tin hành chính. Nếu không đăng ký tài khoản định danh, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các thủ tục hành chính, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh.

2. Hướng dẫn đăng ký định danh điện tử cho doanh nghiệp online trên VNeID

Để đăng ký định danh điện tử cho doanh nghiệp trên VNeID, cá nhân thực hiện theo các bước sau đây: 

Bước 1: Người đại diện theo pháp luật, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, hoặc người được người đại diện theo pháp luật, người đứng đầu ủy quyền thực hiện đăng nhập tài khoản định danh điện tử mức 2 trên ứng dụng VNeID => Chọn Định danh tổ chức.

Bước 2: Tại màn hình Đổi tài khoản => Chọn Đăng ký định danh tổ chức

Bước 3: Xác thực passcode hoặc xác thực bằng vân tay/khuôn mặt.

Bước 4: Chọn loại đăng ký định danh tổ chức.

Bước 5: Nhập thông tin tổ chức.

Bước 6: Xác thực passcode hoặc xác thực bằng vân tay/khuôn mặt.

Bước 7: Tạo yêu cầu đăng ký thành công, xem lại yêu cầu.

Thủ tục cấp tài khoản định danh điện tử đối với doanh nghiệp 

Trình tự, thủ tục cấp tài khoản định danh điện tử đối với cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 12 Nghị định 69/2024/NĐ-CP như sau: 

- Người đại diện theo pháp luật, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, hoặc người được người đại diện theo pháp luật, người đứng đầu ủy quyền sử dụng tài khoản định danh điện tử mức độ 02 của mình đăng nhập Ứng dụng định danh quốc gia, cung cấp các thông tin theo hướng dẫn và gửi yêu cầu đề nghị cấp tài khoản định danh điện tử cho cơ quan, tổ chức sau khi được sự đồng ý của toàn bộ người đại diện theo pháp luật khác của tổ chức (nếu có).

Trường hợp nộp trực tiếp, người đại diện theo pháp luật, người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc người được ủy quyền thực hiện kê khai Phiếu đề nghị cấp tài khoản định danh điện tử dùng cho cơ quan, tổ chức theo mẫu TK02 ban hành kèm theo Nghị định 69/2024/NĐ-CP, nộp hồ sơ tại Cơ quan quản lý định danh và xác thực điện tử hoặc cơ quan quản lý căn cước nơi thuận tiện.

- Cơ quan quản lý định danh và xác thực điện tử tiến hành kiểm tra, xác thực thông tin về cơ quan, tổ chức trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.

Trường hợp thông tin về cơ quan, tổ chức chưa có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác thì thực hiện xác minh thông tin về cơ quan, tổ chức.

- Cơ quan quản lý định danh và xác thực điện tử thông báo kết quả đăng ký cấp tài khoản định danh điện tử cho người đại diện theo pháp luật, người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện thủ tục qua Ứng dụng định danh quốc gia hoặc số thuê bao di động chính chủ hoặc địa chỉ thư điện tử.

Trường hợp không đủ điều kiện cấp tài khoản định danh điện tử thì cơ quan quản lý định danh và xác thực điện tử thông báo bằng văn bản, tin nhắn hoặc qua tài khoản định danh điện tử của người thực hiện đăng ký.

Trên đây là hướng dẫn đăng ký định danh điện tử cho doanh nghiệp online trên VNeID, Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ Công ty Luật Phương Bình để được giải đáp.

Thân gửi Quý khách hàng

Công ty Luật Phương Bình, về bản chất cũng giống như một công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, vậy nên văn hóa doanh nghiệp có những đặc thù, đặc điểm của nó.

I. Thương hiệu và logo

1. Luật Phương Bình - Luật sư Việt Nam, với mong muốn mà trí tuệ, tinh thần người Việt Nam, hiểu pháp luật, tập quán người Việt Nam.

2. Slogan:

"Luật sư của bạn" một từ đơn giản, gần gũi giản dị, luôn sát cánh, bên cạnh khách hàng, bảo vệ khách hàng, mang đến cho khách hàng sự hài lòng, an tâm và hạnh phúc.

"Luật sư của bạn" còn mang hàm ý rất lớn rằng chúng tôi luôn sẵn sàng phục vụ, đồng hành cùng thân chủ, khách hàng với sự tận tâm, chân thành của mình.

II. Giá trị cốt lõi

1. Chia sẻ

- Chia sẻ nội bộ: Chia sẻ kiến thức, chia sẻ cơ hội cùng nhau hợp tác với các luật sự, các cộng sự, các tổ chức, công ty luật trên toàn quốc.

- Chia sẻ với khách hàng: Chúng tôi luôn đứng trên quan điểm của luật pháp và quan điểm, mong muốn, nguyện vọng của khách hàng thể triển khai các công việc, phục vụ khách hàng.

- Chia sẻ với công đồng: Chúng tôi luôn cho rằng việc công đồng cùng hiểu biết pháp luật sẽ giúp cả công cộng đồng, cả đất nước hiểu biết pháp luật, từ đó tình trạng vi phạm pháp luật cúng thể mà giảm đi. Nên trách nhiệm chia sẻ kiến thức, công sức đến công đồng là việc rất quan trọng.

2. Tận tâm

Tận tâm với công việc, tân tâm với khách hàng, làm việc với "tâm đức" của luật sư bảo vệ chính nghĩa, lẽ phải, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tối đa.

3. Trách nhiệm

Khi có một kết quả không tốt, có lẽ ai cũng tìm cách để đùn đẩy trách nhiệm để nói rằng "lỗi đó không thuộc về tôi", nhưng ở Vietlawyer thì khác chúng tôi luôn thẳng thắn nhìn vào trách nhiệm của từng cá nhân, 

4. Không vi pháp luật

Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn luật, việc đầu tiên mà chúng tôi có thể làm tốt là không bản thân doanh nghiệp của mình, các thành viên của mình cần làm đúng theo quy định của pháp luật.

Từ đó mới có thể tư vấn, định hướng, cùng khách hàng triển khai các vụ việc, dự án, vụ án đúng theo quy định pháp luật, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của khách hàng.

Với những định hướng văn hóa rõ ràng, chúng tôi luôn nỗ lực để bản thân tốt lên mỗi ngày, từ đó hướng đến những thành công cùng khách hàng.

Vậy nên một lần nữa chúng tôi luôn mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của khách hàng.

Trân trọng.

Công ty Luật Phương Bình xin được gửi lời chào trân trọng và lời cảm ơn chân thành đến Quý khách hàng, Quý thân chủ, đã ủng hộ, giúp đỡ và tin tưởng chúng tôi trong những năm qua.

Được thành lập ngày 28 tháng 6 năm 2021, với đội ngũ Luật sư đông đảo, có thâm niên công tác trong ngành đều trên 10 năm, giàu kinh nghiệm.

Bên cạnh đó Công ty Luật Phương Bình còn có đội ngũ cố vấn là các Tiến sĩ, thạc sĩ là giảng viên, giám đốc pháp chế, công an (nghỉ hưu) lâu năm, dày dặn kinh nghiệm thực tiễn.

Ngoài ra với đội ngũ Luật sư tập sự, cử nhân luật, chuyên viên pháp lý trẻ, năng động, tài năng, nhiệt tình, được đào tạo bài bản từ các trường đại học uy tín hàng đầu của Việt Nam.

Chúng tôi, đã chiếm trọn niềm tin của khách hàng và chưa để khách hàng thất vọng trong những năm qua.

Tại Phương Bình, Chúng tôi cung cấp đầy đủ các dịch vụ: Thủ tục hành chính, tư vấn, tranh tụng, trong các lĩnh vực:

- Tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp theo vụ việc và thường xuyên;

- Tư vấn, tham gia bào chữa trong các giai đoạn tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ trong các vụ án hình sự;

- Tư vấn, đại diện theo uỷ quyền, cử luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng trong các vụ việc/vụ án tranh chấp dân sự;

- Tư vấn định hướng luật lao động cho doanh nghiệp và người lao động;

- Tư vấn, đại diện theo quỷ quyền để làm việc với các cơ quan quản lý nhà nước, cử luật sư bảo về quyền và lợi ích hợp pháp tại tòa án liên quan đến tranh chấp đất đai;

- Tư vấn, đại diện cho thân chủ trong các vụ án, vụ việc ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương, ly hôn có yếu tố nước ngoài;

- Và các vụ án, vụ việc về kinh doanh thương mại, hành chính, sở hữu trí tuệ...


Dù là vụ án, vụ việc nào với tâm đức của mình, chúng tôi luôn nỗ lực hoàn thành tốt công việc trách nhiệm của mình, để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng (thân chủ).

Với thế mạnh của mình, chúng tôi sẽ không ngừng phát triển để thu hút nhân tài, mở rộng thị trường, nghiên cứu chuyên sâu những nghiệp vụ pháp luật, nghiệp vụ tố tụng, kỹ năng giải quyết vụ việc... để hoàn thành tốt hơn, chăm sóc tốt hơn khách hàng của mình.

Và luôn hy vọng, sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ, tin tưởng của khách hàng.

Trân trọng.


Banner bài biết

BẠN ĐANG QUAN TÂM

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về ma túy, không ít trường hợp người bị bắt cho rằng mình chỉ nhận "giao hàng", "vận chuyển hộ" hoặc "cầm giúp" ma túy nên nếu bị xử lý thì chỉ có thể bị truy cứu về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Trong một số trường hợp, người trực tiếp vận chuyển ma túy vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm nếu đáp ứng các điều kiện luật định.Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào? Khi nào hành vi vận chuyển bị xem là tham gia vào hoạt động mua bán ma túy? Người không biết mình đang vận chuyển ma túy có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây. 1. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy ? Theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) - Tội vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi chuyển dịch trái phép chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào khi đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Hành vi vận chuyển có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như:+ Mang theo người;+ Cất giấu trong hành lý, túi xách hoặc phương tiện;+ Vận chuyển bằng xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy hoặc máy bay;+ Gửi qua dịch vụ vận chuyển hoặc các hình thức khác.Và không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác.- Hình phạt:+ Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: nếu thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này+ Tùy thuộc vào loại, khối lượng chất ma túy và các tình tiết định khung, mức hình phạt có thể lên đến tù chung thân. 2. Tội mua bán trái phép chất ma túy ? - Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy.+ Mua bán trái phép chất ma túy không chỉ giới hạn ở hành vi trực tiếp mua hoặc bán ma túy mà còn có thể bao gồm những hành vi tham gia vào quá trình mua bán nếu người thực hiện có sự thống nhất ý chí và cùng thực hiện hành vi phạm tội theo quy định về đồng phạm tại Điều 17 Bộ luật Hình sự. - Có thể bao gồm thuộc 1 trong các hành vi sau đây: ++ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;++ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);++ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;++ Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;++ Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. - Hình phạt:+ Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt cơ bản của tội danh này là 03 năm đến 07 năm tù. + Đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình. 3. Khi nào người vận chuyển trái phép chất ma túy có thể bị truy cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy? - Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 quy định "đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm."- Nếu người vận chuyển biết rõ việc mình đang tham gia vào hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và có hành vi giúp sức hoặc cùng thực hiện việc mua bán thì tùy từng trường hợp, họ có thể bị TRUY CỨU TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.- Việc xác định người vận chuyển có phải là đồng phạm hay không sẽ căn cứ vào toàn bộ chứng cứ của vụ án, như:+ Có biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Có sự bàn bạc, thống nhất với các đối tượng khác hay không;+ Có tham gia giao nhận ma túy, giao nhận tiền hoặc hỗ trợ việc mua bán hay không;+ Có được hưởng lợi từ hoạt động mua bán trái phép chất ma túy hay không;+ Vai trò của người đó trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: một người biết rõ ma túy sẽ được giao cho khách mua, đồng ý nhận vận chuyển theo sự phân công của các đối tượng trong đường dây và thực hiện việc giao ma túy đúng theo kế hoạch đã thống nhất thì hành vi của người này có thể được xem xét với vai trò đồng phạm trong tội mua bán trái phép chất ma túy nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. 4. Nếu người vận chuyển không biết bên trong gói hàng là ma túy thì có phải chịu trách nhiệm hình sự không? - Theo nguyên tắc của pháp luật hình sự, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có yếu tố lỗi.=> Do đó, nếu một người thực sự không biết bên trong kiện hàng, vali hoặc gói đồ mà mình nhận vận chuyển là chất ma túy và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được điều đó thì không đủ căn cứ để xác định họ đã cố ý thực hiện tội phạm về ma túy. - Tuy nhiên, việc người vận chuyển có biết hay không biết không chỉ được xác định dựa trên lời khai mà sẽ được cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá thông qua toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ án, bao gồm:+ Mối quan hệ giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển;+ Cách thức giao nhận hàng hóa;+ Tiền công có bất thường hay không;+ Nội dung tin nhắn, cuộc gọi hoặc dữ liệu điện tử;+ Các chứng cứ khác chứng minh nhận thức và ý chí của người vận chuyển.=> Nếu các chứng cứ chứng minh người vận chuyển thực sự không biết mình đang vận chuyển ma túy thì họ có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu có căn cứ xác định họ biết hoặc cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Tôi có người bạn đang chấp hành án phạt tù, hiện tại bạn tôi vẫn chưa có gia đình. Trước khi phạm tội bạn tôi có thửa đất và muốn bán. Tôi có thắc mắc bạn tôi có thực hiện được các thủ tục mua bán đất đai cho người khác hay không? Trả lời: Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Thi hành án Hình sự 2025 quy định về Nguyên tắc thi hành án án hình sự: “4. Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất, mức độ phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học vấn và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án.” Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;d) Trong thời hạn sử dụng đất;đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.Theo đó, pháp luật không cấm người đang chấp hành án phạt tù thực hiện thủ tục mua bán đất đai cho người khác nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024.Bên cạnh đó, theo điểm g khoản 1 Điều 23 Luật Thi hành án hình sự năm 2025, phạm nhân có quyền được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật. Do đó, hình phạt tù chỉ hạn chế quyền tự do thân thể, đi lại và cư trú của người bị kết án trong một thời gian nhất định, chứ không mặc nhiên tước bỏ các quyền dân sự, quyền sở hữu hoặc quyền định đoạt tài sản hợp pháp của họ. Vì vậy, nếu quyền sử dụng đất thuộc sở hữu hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù và thửa đất đáp ứng đầy đủ các điều kiện giao dịch theo Luật Đất đai như có Giấy chứng nhận, không có tranh chấp, còn thời hạn sử dụng, không bị kê biên, phong tỏa hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn thì người đó vẫn có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình.Tuy nhiên, do người đang chấp hành án phạt tù bị hạn chế quyền tự do và chịu sự quản lý của cơ sở giam giữ nên việc thực hiện giao dịch sẽ được tiến hành thông qua các phương thức phù hợp với quy định của pháp luật.Thứ nhất, phạm nhân có thể thực hiện công chứng trực tiếp tại trại giam. Căn cứ  điểm c khoản 2 Điều 46 Luật Công chứng năm 2024, việc công chứng  có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng nếu người yêu cầu công chứng thuộc các trường hợp “ Đang bị tạm giữ, tạm giam; đang thi hành án phạt tù; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;”Thứ hai, phạm nhân có thể lập hợp đồng ủy quyền được công chứng tại trại giam để ủy quyền cho người thân hoặc người được tin tưởng thay mặt mình thực hiện các thủ tục ký kết hợp đồng chuyển nhượng, nộp thuế và đăng ký sang tên quyền sử dụng đất.Tuy nhiên, nếu phạm nhân có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ nộp tiền theo bản án của Tòa án nhưng thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì giao dịch này có thể bị cơ quan có thẩm quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu để kê biên, xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Tình huống: Tôi và vợ kết hôn đã được 3 năm. Tôi làm nghề thợ xây, còn vợ là công nhân. Hằng tháng, sau khi nhận lương, tôi đều đưa gần như toàn bộ tiền cho vợ quản lý, chỉ giữ lại khoảng 200.000 đồng để đổ xăng đi làm. Vừa qua, vợ tôi mua một tờ vé số và may mắn trúng giải thưởng trị giá 2.000.000.000 đồng. Hiện nay, vợ tôi đang có ý định ly hôn. Tôi muốn hỏi, khoản tiền trúng vé số này được xác định là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ tôi? Nếu ly hôn thì tôi có quyền được chia khoản tiền này hay không?Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình, quy định tài sản chung của vợ chồng bao gồm: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Căn cứ Khoản 1 Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định về khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm: “Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng sổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của nghị định này.”Chiếu theo tình huống trên, hai vợ chồng đã kết hôn được 3 năm. Hằng tháng, thu nhập từ tiền lương của vợ chồng đều phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Người vợ sử dụng khoản tiền này để mua vé số và sau đó trúng thưởng 2.000.000.000 đồng. Theo quy định nêu trên, khoản tiền trúng thưởng xổ số này là thu nhập hợp pháp khác phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, việc người vợ đang có ý định ly hôn không làm thay đổi bản chất pháp lý của khoản tiền trúng thưởng. Khi giải quyết ly hôn, nếu giữa vợ chồng không tự thỏa thuận được về việc phân chia tài sản thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết theo quy định về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.Vậy, đối với khoản tiền trúng thưởng 2.000.000.000 đồng trong tình huống trên, đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn, người chồng có quyền yêu cầu Tòa án xem xét phân chia khoản tiền này theo đúng nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng được quy định trong LHN & GĐ.   
Tình huống: Trước khi kết hôn, anh A ký hợp đồng mua một căn nhà theo hình thức trả góp. Sau khi kết hôn, anh A vẫn là người trực tiếp thanh toán các khoản tiền trả góp. Do cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng có ý định ly hôn. Trong trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A hay tài sản chung của vợ chồng? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Theo quy định của pháp luật, thời diểm ký hợp đồng mua nhà trước khi kết hôn không phải là căn cứ duy nhất để xác định căn nhà trên là tài sản chung hay tài sản riêng. Đối với tình huống, tài sản là căn nhà mua theo hình thức trả góp do đó, cần phải xem xét thời điểm hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và khoản tiền dùng để thanh toán là của A hay của hai vợ chồng? Theo đó, nếu việc trả góp đã được anh A hoàn tát trước thời điểm đăng ký kết hôn thì căn nhà được hình thành hoàn toàn từ tài sản của anh A trước khi kết hôn. Trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, anh A phải có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán trước khi đăng ký kết hôn.Ngược lại, nếu việc trả góp vẫn tiếp tục sau khi hai bên đăng ký kết hôn thì cần xem xét đến số tiền dùng để thanh toán các khoản trả góp trong thời kỳ hôn nhân. Trường hợp dùng tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân… thì căn nhà trên được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 còn quy định, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được mặc nhiên xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, nghĩa vụ chứng minh căn nhà là tài sản riêng thuộc về người đưa ra yêu cầu xác định tài sản riêng. Nếu không chứng minh được, căn nhà sẽ được coi là tài sản chung theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Xe cấp cứu là phương tiện được pháp luật ưu tiên khi tham gia giao thông trong lúc thực hiện nhiệm vụ cấp cứu nhằm đưa người bệnh đến cơ sở y tế trong thời gian nhanh nhất. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra nhiều trường hợp người tham gia giao thông không nhường đường hoặc cố tình cản trở xe cấp cứu, làm chậm quá trình đưa người bệnh đi cấp cứu. Nếu hành vi này là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời và tử vong thì người vi phạm không chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Dưới đây là các quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Xe cấp cứu có được quyền ưu tiên khi tham gia giao thông không? - Theo Khoản 1 Điều 27 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: Xe ưu tiên gồm có xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu. Và Theo Khoản 4 và Khoản 5 Điều 27 Luật này quy định “ Xe ưu tiên không bị hạn chế tốc độ; được phép đi không phụ thuộc vào tín hiệu đèn giao thông, đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được; riêng đối với đường cao tốc, chỉ được đi ngược chiều trên làn dừng xe khẩn cấp; phải tuân theo hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, biển báo hiệu tạm thời.” Và “Khi có tín hiệu của xe ưu tiên, người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường, trạm thu phí phải ưu tiên cho xe ưu tiên qua trạm trong mọi tình huống, không được gây cản trở.”Vì vậy, khi xe cứu thương đi làm nhiệm vụ cấp cứu phát tín hiệu ưu tiên theo quy định, người tham gia giao thông có trách nhiệm nhanh chóng giảm tốc độ, đi sát lề đường bên phải hoặc dừng lại để nhường đường và không được có hành vi cản trở xe ưu tiên. 2. Xử phạt vi phạm hành chính - Theo tại Điểm b Khoản 6 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng- Theo tại Điểm đ Khoản 7 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với Người điều khiển người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ “Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;” sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng. 3. Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? - Trường hợp người điều khiển phương tiện vi phạm quy định về nhường đường cho xe cấp cứu và hành vi đó được xác định là nguyên nhân trực tiếp khiến người đang trong tình trạng nguy kịch không được cấp cứu kịp thời dẫn đến tử vong trên đường đi thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).- Theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng một trong các hình phạt sau:+ Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; + Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì mức hình phạt có thể lên đến 15 năm tù tùy thuộc vào tính chất, mức độ lỗi và hậu quả thực tế. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tình huống: Do mâu thuẫn vợ chồng, chị A bỏ nhà đi làm việc tại Bắc Ninh. Sau gần một năm sống ly thân nhưng chưa ly hôn, chị A quen người khác và thực hiện chung sống với người này như vợ chồng. Trong trường hợp này, việc chung sống với người khác như vợ chồng của chị A có vi phạm pháp luật không? Người vi phạm có thể bị xử lý theo những hình thức nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.Trả lời: Theo quy định, quan hệ hôn nhân của vợ chồng chỉ chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực của pháp luật. Việc hai vợ chồng mâu thuẫn, bỏ nhà đi làm xa hoặc ly thân (dù 1 hoặc nhiều năm) mà chưa ly hôn về mặt pháp lý, họ vẫn đang là vợ chồng. Do đó, việc chị tự ý chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi chế độ một vợ một chồng theo quy định của Pháp luật. Dưới đây là hình thức xử lý cụ thể đối với hành vi này như sau: 1.    Về hành chínhTheo quy định tại khoản 1 Điều 62 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi; phán sản doanh nghiệp, hợp tác xã: - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:• Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;• Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;• Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;• Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;• Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.2. Trách nhiệm hình sự Theo quy định của pháp luật hình sự, hành vi chung sống với người khác như vợ chồng khi chưa ly hôn có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. - Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:• Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;• Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:• Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;• Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.Kết luận: Việc sống ly thân hoặc bỏ nhà đi làm xa không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chỉ khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ vợ chồng mới chấm dứt. Vì vậy, nếu đang có vợ hoặc chồng mà đã chung sống với người khác như vợ chồng thì đây là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Nhiều người cho rằng tài sản là của mình thì có quyền tự ý lấy lại bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trên thực tế không phải trường hợp nào cũng vậy. Trong một số trường hợp, mặc dù tài sản thuộc quyền sở hữu của mình nhưng nếu tài sản đang do người khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý hợp pháp, việc lén lút lấy lại tài sản vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Dưới đây là những phân tích về các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này. 1. Trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự - Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định: Người nào lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác đủ điều kiện luật định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản. - Trên thực tế, cụm từ "tài sản của người khác" không chỉ được hiểu là tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác mà còn bao gồm trường hợp tài sản đang thuộc sự quản lý hợp pháp của người khác hoặc của cơ quan có thẩm quyền.=> Vì vậy, nếu chủ sở hữu hoặc người cho rằng mình có quyền đối với tài sản tự ý lén lút lấy lại tài sản khi tài sản đang do người khác quản lý hợp pháp thì vẫn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. - Quan điểm này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khẳng định tại Án lệ số 74/2025/AL khái quát như sau: Cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông và tạm giữ phương tiện vi phạm của bị cáo để xử lý. Sau đó, bị cáo lén lút vào khu vực tạm giữ phương tiện vi  phạm của cơ quan có thẩm  quyền, lấy phương tiện của mình mang đi cất giấu. Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). - Mức hình phạt đối với hành vi này:+ Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu chiếm đoạt tài sản trị giá từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.+ Phạt tù từ 02 năm đến 20 năm tùy thuộc vào các trường hợp quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. 2. Trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự - Không phải mọi trường hợp lấy lại tài sản của mình đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu việc nhận lại tài sản được thực hiện công khai, được người đang quản lý tài sản đồng ý, hoặc thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền, thì đây là việc thực hiện quyền theo đúng quy định của pháp luật và không phải là hành vi phạm tội. - Trường hợp giữa các bên phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản thì các bên nên yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo trình tự pháp luật. Việc tự ý lén lút lấy lại tài sản để giải quyết tranh chấp có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự nếu đủ căn cứ theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
  Hành vi phá cửa vào nhà người khác để trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Vậy người thực hiện hành vi này sẽ bị xử lý như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Tùy vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả xảy ra, người thực hiện hành vi này có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về một hoặc nhiều tội danh khác nhau theo quy định của Bộ luật Hình sự. (1) Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự Hành vi trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhằm thực hiện việc chiếm đoạt một cách trái pháp luật. Trong trường hợp này, nếu người thực hiện hành vi chuẩn bị sẵn công cụ để cạy phá cửa, khóa hoặc két sắt rồi đột nhập vào nhà nhằm lấy tài sản thì cho thấy ý thức cố ý phạm tội rất rõ ràng, có sự chuẩn bị từ trước và quyết tâm thực hiện hành vi chiếm đoạt đến cùng. Và hành vi phá cửa là phương thức để thực hiện hành vi trộm cắp (2) Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 178 Bộ luật Hình sự Nếu trong quá trình trộm cắp, người phạm tội có hành vi phá cửa, cạy khóa, phá két sắt hoặc làm hư hỏng tài sản khác thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xem xét về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Mặc dù mục đích chính là trộm cắp tài sản, nhưng người thực hiện hành vi phải nhận thức rõ việc dùng công cụ cạy phá sẽ làm tài sản bị hư hỏng hoặc mất giá trị sử dụng mà vẫn cố ý thực hiện để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Hành vi tác động trực tiếp vào tài sản nhằm phá vỡ kết cấu, làm biến dạng hoặc làm tài sản không còn nguyên trạng đã thể hiện dấu hiệu của hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. (3) Tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo Điều 158 Bộ luật Hình sự Trường hợp người phạm tội có hành vi phá cửa, cạy khóa, đột nhập trái phép vào nơi ở hợp pháp của người khác nhằm thực hiện việc trộm cắp tài sản thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xem xét về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Người thực hiện hành vi nhận thức rõ việc tự ý xâm nhập vào chỗ ở của người khác khi chưa được đồng ý là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân nhưng vẫn cố ý thực hiện để đạt được mục đích trộm cắp tài sản. Do đó, trong trường hợp có căn cứ xác định người thực hiện hành vi cố ý đột nhập trái phép vào nơi ở của người khác thì ngoài trách nhiệm đối với hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xử lý thêm về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Như vậy, hành vi phá cửa vào nhà người khác để trộm cắp tài sản không chỉ đơn thuần là hành vi trộm cắp mà trong nhiều trường hợp còn có thể bị xử lý về nhiều tội danh tương ứng với từng hành vi vi phạm đã thực hiện. Lưu ý: Khi phát hiện kẻ trộm, người dân cần giữ bình tĩnh, ưu tiên bảo đảm an toàn cho bản thân và những người xung quanh, không nên một mình truy đuổi hoặc khống chế đối tượng vì có thể bị chống trả nguy hiểm. Trong trường hợp an toàn, cần nhanh chóng báo cho Công an địa phương, đồng thời hô hoán, huy động sự hỗ trợ của những người xung quanh để ngăn chặn, bắt giữ đối tượng. Bên cạnh đó, nên cố gắng ghi nhớ đặc điểm, phương tiện, hướng di chuyển của đối tượng để hỗ trợ cơ quan chức năng truy xét, xử lý. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
 
hotline 0936 645 695