Trong bối cảnh giao dịch tài chính ngày càng phổ biến, việc mở và sử dụng tài khoản ngân hàng trở thành nhu cầu thiết yếu của cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên, không phải ai cũng thuộc đối tượng được phép mở tài khoản, và cũng có những trường hợp pháp luật quy định rõ không được áp dụng hình thức mở bằng phương tiện điện tử. Bên cạnh đó, hành vi mua bán trái phép thông tin tài khoản ngân hàng còn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự với mức xử phạt nghiêm khắc. Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.
1. Những đối tượng nào được phép mở tài khoản ngân hàng theo quy định của pháp luật?
Căn cứ theo quy định tại Điều 11 Thông tư 17/2024/TT-NHNN về những đối tượng được mở tài khoản ngân hàng như sau:
1. Cá nhân mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm:
a) Người từ đủ 15 tuổi trở lên không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật Việt Nam;
b) Người chưa đủ 15 tuổi, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật;
c) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ.
2. Tổ chức được thành lập, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: tổ chức là pháp nhân (pháp nhân Việt Nam, pháp nhân nước ngoài), doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và các tổ chức khác được mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Theo đó, những đối tượng được mở tài khoản ngân hàng bao gồm:
(1) Cá nhân mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm:
- Người từ đủ 15 tuổi trở lên không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật Việt Nam;
- Người chưa đủ 15 tuổi, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật;
- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ.
(2) Tổ chức được thành lập, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: tổ chức là pháp nhân (pháp nhân Việt Nam, pháp nhân nước ngoài), doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và các tổ chức khác được mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật
2. Những trường hợp nào không được áp dụng mở tài khoản ngân hàng thanh toán bằng phương tiện điện tử?
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 16 Thông tư 17/2024/TT-NHNN về những trường hợp không được áp dụng mở tài khoản ngân hàng bằng phương tiện điện tử như sau:
a) Tài khoản thanh toán chung;
b) Tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ;
c) Khách hàng cá nhân theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 11 Thông tư này, khách hàng cá nhân là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.
Theo đó, những trường hợp không được áp dụng mở tài khoản ngân hàng bằng phương tiện điện tử gồm:
(1) Tài khoản ngân hàng thanh toán chung;
(2) Tài khoản ngân hàng thanh toán bằng ngoại tệ;
(3) Khách hàng cá nhân là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.
(4) Người chưa đủ 15 tuổi, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật;
(5) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ.
3. Hành vi mua bán thông tin tài khoản ngân hàng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?
Căn cứ quy định tại Điều 291 Bộ luật Hình sự 2015 về hành vi mua bán trái phép thông tin tài khoản ngân hàng như sau:
Khung 1. Người nào thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Khung 2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
- Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 50 tài khoản đến dưới 200 tài khoản;
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Tái phạm nguy hiểm.
Khung 3. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng 200 tài khoản trở lên;
- Thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên.
Khung 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, tùy vào tính chất và mức độ của hành vi, người có hành vi mua bán trái phép tài khoản ngân hàng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tiền đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù đến 7 năm.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
