Xét xử hai cựu Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh. Hai cựu Bộ trưởng nói gì về số tiền nhận của Việt Á?

(Dân trí) - Cựu Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long khai việc nhận hàng triệu USD là do Phan Quốc Việt chủ động chứ không gợi ý. Còn ông Chu Ngọc Anh nói không hề biết trong túi quà của Việt có tiền.

Phiên xét xử sơ thẩm đại án Việt Á diễn biến căng thẳng ngay trong ngày đầu tiên và kết thúc khi trời đã tối muộn.

Khoảng 18h30 ngày 3/1, 38 bị cáo mới lần lượt rời phòng xét xử của Tòa án nhân dân TP Hà Nội, bị áp giải lên xe chuyên dụng.

Hai cựu Bộ trưởng nói gì về số tiền nhận của Việt Á?

Trong phần thẩm vấn về cáo buộc nhận hối lộ từ Phan Quốc Việt, Tổng Giám đốc Công ty Việt Á, cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, tháng 2/2020, khi tình hình dịch Covid-19 có nhiều phức tạp, ông được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế.

Bối cảnh lúc đấy rất cấp bách, chỉ đúng 2 ngày trước khi nhận được đề nghị cấp phép cho kit test của Việt Á, ông mới biết đến sản phẩm này.

Và dù "không tin Việt Á sản xuất được kit test" song ông Long đã cho phép ông Nguyễn Minh Tuấn (cựu Vụ trưởng thuộc Bộ Y tế) cấp phép tạm thời cho kit test của Việt Á trong 6 tháng. Theo ông Long, mục đích khi đó hoàn toàn là vì công tác chống dịch Covid-19.

Nhật ký xét xử Việt Á: Hai cựu Bộ trưởng khai không đòi quà - 1

Bị cáo Nguyễn Thanh Long tại phiên tòa (Ảnh: Phương Nguyễn).

Tại tòa, ông Long khẳng định Phan Quốc Việt có nhờ nhiều người tác động nhưng ông không có bất kỳ ưu ái nào cho Việt Á.

Đồng thời, ông cũng từ chối giới thiệu Việt Á đến các đơn vị thuộc Bộ Y tế bởi theo vị cựu Bộ trưởng Bộ Y tế, mọi việc phải công bằng, đơn vị nào đấu thầu được sản phẩm nào thì dùng sản phẩm đấy. 

Song cựu Bộ trưởng cũng thừa nhận đã cầm của Việt Á 2,25 triệu USD thông qua thư ký của mình là Nguyễn Huỳnh. 

Việc nhận tiền diễn ra sau 10 tháng kit test của Việt Á được cấp phép lưu hành chính thức; khi đưa tiền Huỳnh nói Việt Á làm ăn được nên tự "cảm ơn".

Ông Long khai, việc nhận tiền diễn ra nhiều lần nhưng do Việt chủ động chứ ông không "gợi ý".

Về số tiền 2,25 triệu USD đã nhận, bị cáo Long cho hay đến nay đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ.

Nhật ký xét xử Việt Á: Hai cựu Bộ trưởng khai không đòi quà - 2

Cựu Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh tại phiên tòa chiều 3/1 (Ảnh: N.P.).

Về phần cựu Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Chu Ngọc Anh, bị cáo này cũng khẳng định ông ký quyết định giao đề tài nghiên cứu kit test Covid-19 cho Học viện Quân y chủ trì, Công ty Việt Á phối hợp thực hiện, là do tình thế chống dịch cấp bách.

Theo vị cựu Bộ trưởng KH&CN, một đề tài nghiên cứu sẽ trải qua nhiều giai đoạn nghiệm thu nhưng đối với đề tài nghiên cứu kit test Covid-19, do rất cấp bách nên chưa có chương trình nghiệm thu trong kế hoạch.

Về việc nhận 200.000 USD từ Phan Quốc Việt, cựu Bộ trưởng khai không hề biết trong "túi quà cảm ơn" Việt đưa tại văn phòng ông có chứa tiền. Mãi sau này khi phát hiện có tiền trong túi, bị cáo đã cất tiền vào vali, bảo nhân viên đưa về nhà để khi nào có dịp sẽ trả lại Phan Quốc Việt.

Sau đó, do bận chống dịch trong thời gian dài nên ông không có cơ hội gặp Việt để trả lại tiền. "Đây là điều rất đau xót của bị cáo", ông Chu Ngọc Anh nói trước tòa.

Hàng triệu USD "chia sẻ lợi ích trên tinh thần là người Á Đông"

Nói về những khoản tiền đô la "khủng" chi cảm ơn cho nhiều người, Phan Quốc Việt cho biết, đầu tháng 3/2020, kit test Covid-19 của Việt Á được cấp phép lưu hành tạm thời và đến tháng 12/2020 mới được Bộ Y tế cấp phép chính thức. 

Nhật ký xét xử Việt Á: Hai cựu Bộ trưởng khai không đòi quà - 3

Bị cáo Phan Quốc Việt (Ảnh: Hải Nam).

Việt thấy các cán bộ đã từng giúp mình đều rất vất vả, tận tâm, chu đáo nên muốn chia sẻ lợi ích trên tinh thần là người Á Đông.

Phan Quốc Việt khai đã đưa cho cựu Vụ phó Trịnh Thanh Hùng 350.000 USD; ông Nguyễn Nam Liên (cựu Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính, Bộ Y tế) 100.000 USD; cựu Bộ trưởng KH&CN Chu Ngọc Anh 200.000 USD...

Riêng cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long và thư ký của ông này là Nguyễn Huỳnh được Việt đưa tổng cộng 2,25 triệu USD và 4 tỷ đồng.

Việt giãi bày, số tiền đã đưa cho các cựu quan chức Việt phải mượn "nóng" của bạn bè vì thời điểm năm 2020, công ty chưa được thanh toán nên chưa có nguồn thu.

Tổng Giám đốc Công ty Việt Á tự mình xách tiền USD từ TPHCM ra Hà Nội đưa cho các cựu quan chức.

Ghi nhận trong ngày xét xử đầu tiên 3/1, HĐXX tập trung xét hỏi những bị cáo thuộc Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Phan Quốc Việt và cấp dưới... Trước bục khai báo, hầu hết các bị cáo đồng ý với những cáo buộc của cơ quan điều tra, cơ quan công tố.

Thậm chí, ông Chu Ngọc Anh còn đánh giá những cáo buộc là "xác đáng", bản cung và kết luận điều tra rất "nhất quán".

Ngày xét xử đầu tiên chỉ có một vài "điểm vênh" liên quan bị cáo Phạm Công Tạc - cựu Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ.

Ông Tạc mong muốn HĐXX xem xét lại vai trò, trách nhiệm của bản thân trong vụ án cũng như ở vị trí khi còn công tác. Đặc biệt, bị cáo này phủ nhận cáo buộc nhận 50.000 USD từ Phan Quốc Việt.

Ông Tạc khẳng định trong túi quà Tết mà Việt đưa cho bị cáo chỉ có 100 triệu đồng và hiện gia đình ông đã khắc phục 80 triệu đồng.

Hôm nay 4/1, HĐXX tiếp tục phần thẩm vấn đối với các bị cáo. Dự kiến phiên xét xử kéo dài 20 ngày.

Nguồn: Nguyễn Hải và Hải Nam

Thân gửi Quý khách hàng

Công ty Luật Phương Bình, về bản chất cũng giống như một công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, vậy nên văn hóa doanh nghiệp có những đặc thù, đặc điểm của nó.

I. Thương hiệu và logo

1. Luật Phương Bình - Luật sư Việt Nam, với mong muốn mà trí tuệ, tinh thần người Việt Nam, hiểu pháp luật, tập quán người Việt Nam.

2. Slogan:

"Luật sư của bạn" một từ đơn giản, gần gũi giản dị, luôn sát cánh, bên cạnh khách hàng, bảo vệ khách hàng, mang đến cho khách hàng sự hài lòng, an tâm và hạnh phúc.

"Luật sư của bạn" còn mang hàm ý rất lớn rằng chúng tôi luôn sẵn sàng phục vụ, đồng hành cùng thân chủ, khách hàng với sự tận tâm, chân thành của mình.

II. Giá trị cốt lõi

1. Chia sẻ

- Chia sẻ nội bộ: Chia sẻ kiến thức, chia sẻ cơ hội cùng nhau hợp tác với các luật sự, các cộng sự, các tổ chức, công ty luật trên toàn quốc.

- Chia sẻ với khách hàng: Chúng tôi luôn đứng trên quan điểm của luật pháp và quan điểm, mong muốn, nguyện vọng của khách hàng thể triển khai các công việc, phục vụ khách hàng.

- Chia sẻ với công đồng: Chúng tôi luôn cho rằng việc công đồng cùng hiểu biết pháp luật sẽ giúp cả công cộng đồng, cả đất nước hiểu biết pháp luật, từ đó tình trạng vi phạm pháp luật cúng thể mà giảm đi. Nên trách nhiệm chia sẻ kiến thức, công sức đến công đồng là việc rất quan trọng.

2. Tận tâm

Tận tâm với công việc, tân tâm với khách hàng, làm việc với "tâm đức" của luật sư bảo vệ chính nghĩa, lẽ phải, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tối đa.

3. Trách nhiệm

Khi có một kết quả không tốt, có lẽ ai cũng tìm cách để đùn đẩy trách nhiệm để nói rằng "lỗi đó không thuộc về tôi", nhưng ở Vietlawyer thì khác chúng tôi luôn thẳng thắn nhìn vào trách nhiệm của từng cá nhân, 

4. Không vi pháp luật

Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn luật, việc đầu tiên mà chúng tôi có thể làm tốt là không bản thân doanh nghiệp của mình, các thành viên của mình cần làm đúng theo quy định của pháp luật.

Từ đó mới có thể tư vấn, định hướng, cùng khách hàng triển khai các vụ việc, dự án, vụ án đúng theo quy định pháp luật, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của khách hàng.

Với những định hướng văn hóa rõ ràng, chúng tôi luôn nỗ lực để bản thân tốt lên mỗi ngày, từ đó hướng đến những thành công cùng khách hàng.

Vậy nên một lần nữa chúng tôi luôn mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của khách hàng.

Trân trọng.

Công ty Luật Phương Bình xin được gửi lời chào trân trọng và lời cảm ơn chân thành đến Quý khách hàng, Quý thân chủ, đã ủng hộ, giúp đỡ và tin tưởng chúng tôi trong những năm qua.

Được thành lập ngày 28 tháng 6 năm 2021, với đội ngũ Luật sư đông đảo, có thâm niên công tác trong ngành đều trên 10 năm, giàu kinh nghiệm.

Bên cạnh đó Công ty Luật Phương Bình còn có đội ngũ cố vấn là các Tiến sĩ, thạc sĩ là giảng viên, giám đốc pháp chế, công an (nghỉ hưu) lâu năm, dày dặn kinh nghiệm thực tiễn.

Ngoài ra với đội ngũ Luật sư tập sự, cử nhân luật, chuyên viên pháp lý trẻ, năng động, tài năng, nhiệt tình, được đào tạo bài bản từ các trường đại học uy tín hàng đầu của Việt Nam.

Chúng tôi, đã chiếm trọn niềm tin của khách hàng và chưa để khách hàng thất vọng trong những năm qua.

Tại Phương Bình, Chúng tôi cung cấp đầy đủ các dịch vụ: Thủ tục hành chính, tư vấn, tranh tụng, trong các lĩnh vực:

- Tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp theo vụ việc và thường xuyên;

- Tư vấn, tham gia bào chữa trong các giai đoạn tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ trong các vụ án hình sự;

- Tư vấn, đại diện theo uỷ quyền, cử luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng trong các vụ việc/vụ án tranh chấp dân sự;

- Tư vấn định hướng luật lao động cho doanh nghiệp và người lao động;

- Tư vấn, đại diện theo quỷ quyền để làm việc với các cơ quan quản lý nhà nước, cử luật sư bảo về quyền và lợi ích hợp pháp tại tòa án liên quan đến tranh chấp đất đai;

- Tư vấn, đại diện cho thân chủ trong các vụ án, vụ việc ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương, ly hôn có yếu tố nước ngoài;

- Và các vụ án, vụ việc về kinh doanh thương mại, hành chính, sở hữu trí tuệ...


Dù là vụ án, vụ việc nào với tâm đức của mình, chúng tôi luôn nỗ lực hoàn thành tốt công việc trách nhiệm của mình, để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng (thân chủ).

Với thế mạnh của mình, chúng tôi sẽ không ngừng phát triển để thu hút nhân tài, mở rộng thị trường, nghiên cứu chuyên sâu những nghiệp vụ pháp luật, nghiệp vụ tố tụng, kỹ năng giải quyết vụ việc... để hoàn thành tốt hơn, chăm sóc tốt hơn khách hàng của mình.

Và luôn hy vọng, sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ, tin tưởng của khách hàng.

Trân trọng.


Banner bài biết

BẠN ĐANG QUAN TÂM

Tình huống: Trước khi kết hôn, anh A ký hợp đồng mua một căn nhà theo hình thức trả góp. Sau khi kết hôn, anh A vẫn là người trực tiếp thanh toán các khoản tiền trả góp. Do cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng có ý định ly hôn. Trong trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A hay tài sản chung của vợ chồng? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”Theo quy định của pháp luật, thời diểm ký hợp đồng mua nhà trước khi kết hôn không phải là căn cứ duy nhất để xác định căn nhà trên là tài sản chung hay tài sản riêng. Đối với tình huống, tài sản là căn nhà mua theo hình thức trả góp do đó, cần phải xem xét thời điểm hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và khoản tiền dùng để thanh toán là của A hay của hai vợ chồng? Theo đó, nếu việc trả góp đã được anh A hoàn tát trước thời điểm đăng ký kết hôn thì căn nhà được hình thành hoàn toàn từ tài sản của anh A trước khi kết hôn. Trường hợp này, căn nhà được xác định là tài sản riêng của anh A theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, anh A phải có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán trước khi đăng ký kết hôn.Ngược lại, nếu việc trả góp vẫn tiếp tục sau khi hai bên đăng ký kết hôn thì cần xem xét đến số tiền dùng để thanh toán các khoản trả góp trong thời kỳ hôn nhân. Trường hợp dùng tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân… thì căn nhà trên được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 còn quy định, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được mặc nhiên xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, nghĩa vụ chứng minh căn nhà là tài sản riêng thuộc về người đưa ra yêu cầu xác định tài sản riêng. Nếu không chứng minh được, căn nhà sẽ được coi là tài sản chung theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Tình huống: Do mâu thuẫn vợ chồng, chị A bỏ nhà đi làm việc tại Bắc Ninh. Sau gần một năm sống ly thân nhưng chưa ly hôn, chị A quen người khác và thực hiện chung sống với người này như vợ chồng. Trong trường hợp này, việc chung sống với người khác như vợ chồng của chị A có vi phạm pháp luật không? Người vi phạm có thể bị xử lý theo những hình thức nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.Trả lời: Theo quy định, quan hệ hôn nhân của vợ chồng chỉ chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực của pháp luật. Việc hai vợ chồng mâu thuẫn, bỏ nhà đi làm xa hoặc ly thân (dù 1 hoặc nhiều năm) mà chưa ly hôn về mặt pháp lý, họ vẫn đang là vợ chồng. Do đó, việc chị tự ý chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi chế độ một vợ một chồng theo quy định của Pháp luật. Dưới đây là hình thức xử lý cụ thể đối với hành vi này như sau: 1.    Về hành chínhTheo quy định tại khoản 1 Điều 62 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi; phán sản doanh nghiệp, hợp tác xã: - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:• Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;• Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;• Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;• Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;• Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.2. Trách nhiệm hình sự Theo quy định của pháp luật hình sự, hành vi chung sống với người khác như vợ chồng khi chưa ly hôn có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. - Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:• Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;• Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:• Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;• Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.Kết luận: Việc sống ly thân hoặc bỏ nhà đi làm xa không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chỉ khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ vợ chồng mới chấm dứt. Vì vậy, nếu đang có vợ hoặc chồng mà đã chung sống với người khác như vợ chồng thì đây là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Nhiều người cho rằng tài sản là của mình thì có quyền tự ý lấy lại bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trên thực tế không phải trường hợp nào cũng vậy. Trong một số trường hợp, mặc dù tài sản thuộc quyền sở hữu của mình nhưng nếu tài sản đang do người khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý hợp pháp, việc lén lút lấy lại tài sản vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Dưới đây là những phân tích về các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này. 1. Trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự - Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định: Người nào lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác đủ điều kiện luật định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản. - Trên thực tế, cụm từ "tài sản của người khác" không chỉ được hiểu là tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác mà còn bao gồm trường hợp tài sản đang thuộc sự quản lý hợp pháp của người khác hoặc của cơ quan có thẩm quyền.=> Vì vậy, nếu chủ sở hữu hoặc người cho rằng mình có quyền đối với tài sản tự ý lén lút lấy lại tài sản khi tài sản đang do người khác quản lý hợp pháp thì vẫn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. - Quan điểm này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khẳng định tại Án lệ số 74/2025/AL khái quát như sau: Cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông và tạm giữ phương tiện vi phạm của bị cáo để xử lý. Sau đó, bị cáo lén lút vào khu vực tạm giữ phương tiện vi  phạm của cơ quan có thẩm  quyền, lấy phương tiện của mình mang đi cất giấu. Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). - Mức hình phạt đối với hành vi này:+ Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu chiếm đoạt tài sản trị giá từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.+ Phạt tù từ 02 năm đến 20 năm tùy thuộc vào các trường hợp quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. 2. Trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự - Không phải mọi trường hợp lấy lại tài sản của mình đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu việc nhận lại tài sản được thực hiện công khai, được người đang quản lý tài sản đồng ý, hoặc thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền, thì đây là việc thực hiện quyền theo đúng quy định của pháp luật và không phải là hành vi phạm tội. - Trường hợp giữa các bên phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản thì các bên nên yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo trình tự pháp luật. Việc tự ý lén lút lấy lại tài sản để giải quyết tranh chấp có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự nếu đủ căn cứ theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ A và chồng B mua được thửa đất anh trai của B với giá 500.000.000 đồng tuy nhiên chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hình thức tặng cho. Tới nay, giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên A đã khởi kiện yêu cầu ly hôn. Khi giải quyết việc chia tài sản chung, A thắc mắc liệu thửa đất được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân có được chia hay không. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài chung của vợ chồng như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Theo quy định trên, tài sản do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc được hình thành từ tài sản riêng. Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án không chỉ căn cứ vào tên gọi của giao dịch là “tặng cho”, mà còn xem xét bản chất thực tế của việc chuyển nhượng tài sản. Trường hợp có căn cứ chứng minh việc nhận quyền sử dụng đất được thực hiện bằng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn có cơ sở xác định đây là tài sản chung.   Đối với tình huống trên các trường hợp có thể chứng minh, cụ thể: Trường hợp 1: Có chứng từ thanh toán thể hiện việc mua bán Nếu việc giao tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, có sao kê ngân hàng hoặc nội dung chuyển tiền thể hiện mục đích mua đất, đồng thời nguồn tiền là thu nhập của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì đây là căn cứ để chứng minh thửa đất được hình thành từ tài sản chung. Trường hợp 2: Người chồng thừa nhận là tài sản chung Trong quá trình giải quyết ly hôn, nếu B đồng ý xác định thửa đất là tài sản chung và thống nhất việc phân chia cho A thì đây là căn cứ để Tòa án xem xét công nhận theo sự thỏa thuận của các bên. Trường hợp 3: Có chứng cứ khác chứng minh giao dịch thực tế là mua bán Mặc dù hợp đồng thể hiện dưới hình thức tặng cho, nhưng nếu có tin nhắn, ghi âm, lời khai của người anh chồng hoặc người làm chứng xác nhận việc hai vợ chồng đã giao tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất thì đây vẫn có thể được xem là chứng cứ chứng minh tài sản được tạo lập bằng công sức, tài sản chung của vợ chồng. Từ đó có thể thấy, hình thức “tặng cho” không phải là căn cứ duy nhất để xác định tính chất tài sản. Nếu chứng minh được thửa đất được hình thành từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì quyền sử dụng đất này vẫn có thể được xác định là tài sản chung và được xem xét phân chia khi ly hôn. Từ các phân tích trên có thể thấy, việc chuyển quyền sử dụng đất được lập dưới hình thức “tặng cho” không đồng nghĩa thửa đất đương nhiên là tài sản riêng của chồng B. Khi giải quyết tranh chấp ly hôn, Tòa án sẽ xem xét toàn bộ quá trình hình thành tài sản, nguồn tiền thanh toán và bản chất thực tế của giao dịch. Trường hợp A chứng minh được việc nhận chuyển nhượng thửa đất có sử dụng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có căn cứ thể hiện giao dịch thực tế là mua bán chứ không phải tặng cho riêng, thì vẫn có cơ sở để xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng và được xem xét phân chia khi ly hôn. Ngược lại, nếu không có chứng cứ chứng minh việc giao nhận tiền hoặc không chứng minh được giao dịch “tặng cho” chỉ là hình thức thể hiện trên giấy tờ, Tòa án có thể căn cứ vào nội dung hợp đồng công chứng và hồ sơ sang tên để xác định tính chất pháp lý của tài sản theo hình thức giao dịch đã được xác lập. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
Trong thực tế, nhiều trường hợp cho mượn Chứng minh nhân dân hay căn cước công dân để thực hiện giao kết hợp đồng lao động, hậu quả phát sinh nhiều vấn đề pháp lý trong tương lai. Vậy việc mượn hoặc cho mượn Căn cước công dân để ký kết hợp đồng lao động có vi phạm quy định của pháp luật hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động 2019 quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động phải bảo đảm: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Đây là nguyên tắc nền tảng điều chỉnh toàn bộ quá trình xác lập quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động 2019 quy định người lao động có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và các thông tin khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động. Từ các quy định nêu trên có thể xác định rằng, việc sử dụng Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân của người khác để đứng tên giao kết hợp đồng lao động là hành vi cung cấp thông tin không trung thực trong quá trình xác lập quan hệ lao động. Đồng thời, hành vi cho mượn giấy tờ tùy thân để người khác tham gia quan hệ lao động cũng được xem là tiếp tay cho việc xác lập giao dịch lao động trái với nguyên tắc trung thực theo quy định của Bộ luật Lao động.   Ngoài ra, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động 2019 quy định hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Như vậy, trường hợp sử dụng giấy tờ tùy thân của người khác để ký kết hợp đồng lao động có căn cứ để xác định là vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động và hợp đồng lao động đã được ký kết có thể bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ. Trên thực tế, hậu quả pháp lý của hành vi này không chỉ dừng lại ở việc hợp đồng lao động bị vô hiệu mà còn kéo theo nhiều hệ lụy khác như: ·     Phát sinh tình trạng trùng thông tin tham gia bảo hiểm xã hội; ·     Sai lệch dữ liệu lao động, dữ liệu thuế thu nhập cá nhân; ·     Khó khăn trong việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, tai nạn lao động; ·     Phát sinh tranh chấp về tiền lương, quyền lợi lao động hoặc trách nhiệm bồi thường; ·     Nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hành vi sử dụng giấy tờ của người khác hoặc kê khai thông tin không đúng sự thật; ·     Trong một số trường hợp nghiêm trọng còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu hành vi nhằm mục đích gian dối để trục lợi hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật khác. Do đó, việc cho mượn hoặc sử dụng Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi không phù hợp với quy định pháp luật lao động hiện hành và tiềm ẩn nhiều hậu quả pháp lý nghiêm trọng mà các bên cần đặc biệt lưu ý. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được luật sư tư vấn. 
Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau: Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam, trừ các trường hợp sau đây: a) Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động c) Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. Như vậy, người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên và không thuộc các trường hợp tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Chào Luật sư, tháng 5/2025 tôi có cho bạn là H vay số tiền 10.000.000 đồng khi vay thì hai bên có làm hợp đồng vay tiền, có chữ ký tên và ghi họ tên của H, không có ai chứng kiến và không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có thời hạn trả nợ, không lãi suất. Đến tháng 01/2026, H đã trả lại đầy đủ số tiền này cho tôi. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026, H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và qua quá trình điều tra, xác minh xác định rằng số tiền H dùng để trả cho tôi là tiền do phạm tội mà có. Hiện nay, tôi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự nêu trên. Tôi hoàn toàn không biết và cũng không có căn cứ để biết số tiền H trả cho tôi là tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Vậy, xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết các quy định của pháp luật liên quan đến vụ án. Trả lời: Trong vụ việc trên, hành vi cho anh H vay số tiền 10.000.000 đồng là giao dịch dân sự được thể hiện qua hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hai bên đã thỏa thuận cho vay tài sản, Bên A đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng số lượng với số tiền 10.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nợ, tuy nhiên tháng 1/2026 anh H đã thanh toán khoản vay cho anh bên A số tiền 10.000.000 đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 1 Điều 466 Luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Như vây, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với giao dịch vay tài sản giữa bên A và anh H. Tuy nhiên, đến tháng 4/2026 anh H bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản, đối với số tiền anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A cũng được xác định là số tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của anh H. Anh A mong muốn được tư vấn 02 vấn đề sau: 1. Trong trường hợp này, số tiền 10.000.000 đồng mà tôi đã nhận lại có bị cơ quan chức năng thu hồi (truy thu) hay không? Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: “Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi 1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. 2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Theo quy định, đối với hành vi của anh H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ quan chức năng sẽ điều tra, xác minh về các số tiền mà anh H đã lừa đảo để trả lại tài sản cho chủ ở hữu (bị hại). Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm trên đều phải được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, dù bạn nhận được tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không thể biết nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền, theo nguyên tắc, bạn sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để phục vụ trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để xem xét việc anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên A trong trường hợp này có làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trong khi đó, việc anh H thanh toán khoản vay trên là hợp pháp và bên A cũng không biết được nguồn gốc số tiền trên thì không có căn cứ để cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 2. Nếu bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của tôi sẽ được giải quyết như thế nào? Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ cho rằng số tiền anh H thanh toán khoản trên có nguồn gốc về hành vi phạm tội của anh H, như vậy số tiền 10.000.000 đồng sẽ được cơ quan chức năng thu hồi. Đối với việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi số tiền anh H đã thực hiện việc thanh toán khoản nợ với số tiền 10.000.000 đồng cho bên A, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên A. Căn cứ khoản 11 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sẽ xác định bên A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bạn có quyền yêu cầu độc lập buộc anh H (bị cáo) hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bạn đã co anh H vay. Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:   “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù bạn là người cho vay hợp pháp và đã nhận lại tiền từ anh H, nhưng do số tiền này được xác định là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thu hồi nhằm trả lại cho người bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, việc nhận tiền trong tình trạng ngay tình, không biết và không có căn cứ để biết về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản không làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với bạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn cần chủ động thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay là có thật và hợp pháp, đồng thời gửi yêu cầu bồi thường thiệt hại đến Tòa án. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bản án sẽ buộc bị cáo có nghĩa vụ thanh toán lại khoản tiền tương ứng cho bạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Trong thời gian vừa qua, nhiều vụ việc thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng. Theo quy định của pháp luật, hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý liên quan: Theo khoản 1, Điều 8 Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2020 quy định về hóa đơn chứng từ, theo đó: Hóa đơn giá trị gia tăng được hiểu là hóa đơn giá trị gia tăng (hay còn gọi là hóa đơn đỏ, hóa đơn VAT) là chứng từ do người bán lập để ghi nhận giá trị hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp, phục vụ cho việc kê khai và nộp thuế GTGT. Hóa đơn GTGT được sử dụng bởi các tổ chức, cá nhân áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, áp dụng cho các hoạt động: - Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong nội địa. - Hoạt động vận tải quốc tế. - Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu. - Xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài. - Hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Như vậy, các giao dịch được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức khi có thu chi phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng để có dữ liệ cho cơ quan thuế quản lý. Tuy nhiên, nhiều chủ thể là cá nhân, tổ chức vì những mục đích khác nhau mà đã thực hiện hành vi mua hóa đơn giá trị gia tăng dù trên thực tế không phát sinh giao dịch. 1. Quy định các hành vi mua bán hóa đơn giá tăng Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS), Thông tư liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC quy định về việc hướng dẫn áp dụng một số Điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính và chứng khoán, như sau: - Căn cứ Khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC, quy định mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: “3. Các hành vi qui định tại Điều 164a của BLHS được hiểu như sau: a) In trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi tự in hóa đơn hoặc tự khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ điều kiện hoặc không đúng, không đầy đủ các nội dung theo qui định của pháp luật; In hóa đơn giả hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả; b) Phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi lập tờ thông báo phát hành không đầy đủ nội dung; không gửi hoặc không niêm yết tờ thông báo phát hành hóa đơn theo đúng qui định; c) Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: c.1) Mua, bán hoá đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác theo qui định; c.2) Mua, bán hoá đơn đã ghi nội dung, nhưng không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo; c.3) Mua, bán hoá đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn đã hết giá trị sử dụng, hóa đơn của cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc cấp cho khách hàng khi bán hàng hóa dịch vụ; c.4) Mua, bán, sử dụng hoá đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hoá, dịch vụ giữa các liên của hoá đơn.” Về chủ thể thực hiện các hành vi trên, bao gồm: Cá nhân bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc người của tổ chức kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; người của tổ chức nhận in hoặc đặt in hóa đơn; cá nhân hoặc người của tổ chức mua hàng hóa, dịch vụ. 2. Về hình thức xử lý hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng Căn cứ điều 203 Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định: “1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên; g) Tái phạm nguy hiểm. 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. 4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và g khoản 2 Điều này , thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng; c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.” Như vậy, từ quy định trên hành vi mua bán hóa đơn giá trị gia tăng cấu thành tội mua bán trái phép hóa đơn thì hành vi mua bán hóa đơn phải thuộc trong các trường hợp: Dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số; Hóa đơn, chứng từ ghi nội dung từ 10 số đến 30 số; Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng thì phạt tiền từ 50.000.000đ đến 200.000.000đ; hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Ngoài ra, trong phạm tội thuộc các trường hợp tại khoản 2 như: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng các điều kiện về số lượng, giá trị hoặc mức độ thiệt hại theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng, không chỉ gây thất thu ngân sách nhà nước mà còn làm méo mó môi trường kinh doanh. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
 
hotline 0936 645 695