Tất cả sản phẩm

Theo phương án đề xuất đổi mới trang phục tham gia phiên tòa và đánh giá chi phí, tính khả thi. Trang phục tham gia phiên tòa được thay thế bằng áo choàng màu đen bên ngoài, bên trong sơ mi trắng kèm với nơ trắng, kết hợp với quần tây đen, giày đen và tất tối màu. Quy định cụ thể như sau: i). Đối với áo choàng: + Áo choàng dạng dài kiểu qua đầu gối, thiết kế thẳng, suông, không chiết eo. + Cổ áo kiểu cổ đứng hoặc cổ chữ U mềm, đơn giản, không ve lật lớn. + Tay áo dài, suông, độ rộng vừa phải, bảo đảm cử động thuận tiện. + Áo choàng không xẻ tà hoặc xẻ tà ngắn ẩn phía đằng sau hạn chế trang trí cầu kỳ. + Cầu áo bằng khuy ẩn (toàn bộ cúc áo được giấu dưới một lớp áo vải che phủ, không nhìn thấy nút áo bên ngoài đê tạo sự tinh tế, trang trọng) hoặc khuya móc bên trong. - Màu sắc: Đen tuyền hoặc đen than (màu thống nhất trên toàn quốc). - Chất liệu: Vải nhẹ, thoáng, ít nhăn, độ rủ vừa phải phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới, sử dụng được quanh năm bền màu, dễ bảo quản, dễ giặt là. * Kích cỡ: Áo choàng được thiết kế theo hệ thống số đo với các size chuẩn (S, M, L, XL, XXL…) phù hợp với thể trạng phổ biến của luật sư Việt Nam. Trường hợp đặc biệt có thể may đo riêng nhưng phải bảo đảm đúng kiểu dáng, màu sắc và tiêu chuẩn chung. ii). Trang phục bên trong áo choàng - Áo sơ mi màu trắng đi kèm với nơ trắng, tay dài. Kiểu dáng đơn giản, cổ đứng hoặc cổ Đức, không sử dụng họa tiết, hoa văn hoặc màu sắc khác. - Quần: Quần tây màu đen, ống đứng, kiểu dáng truyền thống. Không sử dụng quần bó, quần sáng màu hoặc kiểu dáng cách điệu. Luật sư nữ có thể mặc chân váy bút chì màu đen dài đến bắp chân. iii). Huy hiệu luật sư - Huy hiệu do Liên đoàn Luật sư Việt Nam thống nhất thiết kế và phát hành. - Chất liệu kim loại hoặc hợp kim cao cấp, màu sắc trang nhã. - Gắn cố định tại vị trí ngực trái của áo choàng. - Kích thước vừa phải, không gây phản cảm hoặc rườm rà. Ghi chú: Không sử dụng thêm các phụ kiện mang tính cá nhân (khăn quàng màu, ghim trang trí, huy hiệu khác…). iv). Giày và tất  - Giày da màu đen, kiểu dáng truyền thống, kín mũi không sử dụng giày thể thao, giày sandal hoặc giày màu sáng. - Tất màu tối (đen, xám đậm), chiều dài phù hợp. Theo Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, đề án mới trang phục của Luật sư khi tham gia phiên tòa được xây dựng nhằm thống nhất hình thức trang phục nâng cao tính trang nghiêm và chuyên nghiệp trong quá trình hành nghề của luật sư, đặc biệt khi tham gia phiên tòa, đồng giúp luật sư khẳng định hình ảnh chuyên nghiệp, trang nghiêm của đội ngũ luật sư khi tham gia tố tụng, tạo niềm tin và sự tôn trọng từ phía xã hội; đảm bảo sự bình đẳng với những người tiến hành tố tụng khác.  
Thời gian gần đây, thông tin về quy định mới liên quan đến dạy thêm, học thêm có hiệu lực từ ngày 15/05/2026 khiến nhiều phụ huynh và giáo viên không khỏi băn khoăn. Vậy thực tế quy định mới quy định như thế nào? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Theo quy định tại Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được ban hành ngày 30/12/2024 và có hiệu lực từ ngày 14/02/2025 thì Bộ Giáo dục Đào tạo không cấm dạy thêm học thêm. Theo đó, hoạt động dạy thêm, học thêm được phân thành hai hình thức: (1) Dạy thêm, học thêm trong nhà trường  (2) Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường Và khi Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT sửa đổi Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT quy định về dạy thêm, học thêm do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành có hiệu lực từ ngày 15/05/2026 sửa đổi một số quy định của Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT cũng không cấm dạy thêm học thêm, mà quy định rõ hơn về cách tổ chức và điều kiện dạy thêm, học thêm. Theo đó, đối với Dạy thêm, học thêm trong nhà trường, Thông tư mới quy định như sau: (1) Việc dạy thêm, học thêm trong nhà trường không được thu tiền của học sinh và chỉ dành cho các đối tượng học sinh đăng kí học thêm theo từng môn học như sau: - Học sinh có kết quả học tập môn học cuối học kì liền kề ở mức chưa đạt; - Học sinh được nhà trường lựa chọn để bồi dưỡng học sinh giỏi; - Học sinh lớp cuối cấp tự nguyện đăng kí ôn thi tuyển sinh, ôn thi tốt nghiệp theo kế hoạch giáo dục của nhà trường. Lưu ý: Học sinh thuộc các nhóm trên phải viết đơn đăng ký học thêm theo từng môn. (2) Căn cứ vào số học sinh đăng kí, nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức dạy thêm đối với từng môn học ở từng khối lớp. (3) Việc xếp lớp, xếp thời khóa biểu và tổ chức dạy thêm, học thêm phải bảo đảm yêu cầu sau: - Mỗi lớp có không quá 45 (bốn mươi lăm) học sinh; - Không được xếp giờ dạy thêm chen vào giờ học chính khóa và Không được dạy trước chương trình - Mỗi môn học được tổ chức dạy thêm không quá 02 (hai) tiết/tuần. Trường hợp học sinh thuộc đối tượng đăng kí học thêm có nhu cầu học thêm vượt quá 02 (hai) tiết/tuần, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo xem xét, quyết định cho phép điều chỉnh thời lượng tổ chức dạy thêm theo đề nghị của Hiệu trưởng hoặc Giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng). (4) Kế hoạch tổ chức dạy thêm, học thêm được công khai trên trang thông tin điện tử của nhà trường hoặc niêm yết tại nhà trường. Đối với Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường: (1) Tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh (sau đây gọi chung là cơ sở dạy thêm) phải thực hiện các yêu cầu sau: - Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật; - Công khai, cập nhật thường xuyên trên trang thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm để bảo đảm sự tham gia giám sát của học sinh, gia đình và cộng đồng xã hội (2) Người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm. (3) Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm tuân thủ quy tắc ứng xử của nhà giáo theo quy định, có trách nhiệm báo cáo với Hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thế đứng tên đăng kí kinh doanh cơ sở dạy thêm, thời gian tham gia dạy thêm trước khi bắt đầu và cập nhật kịp thời khi có thay đổi đối với các nội dung đã báo cáo, bảo đảm minh bạch, phòng ngừa xung đột lợi ích trong hoạt động dạy thêm Như vậy, từ 15/05/2026, không cấm dạy thêm, học thêm chính đáng, nhưng sẽ bị quản lý chặt hơn để hạn chế tiêu cực. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Hiện nay, hành vi mở phòng khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép ngày càng tràn lan. Cụ thể, hàng loạt phòng khám, cơ sở nha khoa ở Đắk Lắk hoạt động không có giấy phép hoạt động bị xử phạt, đình chỉ hoạt động. Vậy các hành vi có bị xử phạt hay truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi sai phạm này không?.Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.  Theo quy định tại khoản 15 Điều 7 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2023, một trong những hành vi bị cấm là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa khi “không có giấy phép hoạt động, đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động, không đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép,…”. I. Quy định về mức xử phạt hành chính (cảnh cáo, phạt tiền): Căn cứ khoản 6 Điều 39 Nghị định 117/2020 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế. Đối với hành vi vi phạm điều cấm trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh mức xử phạt từ phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành không có giấy phép hoạt động vẫn cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Ngoài ra, cơ sở vi phạm có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là đình chỉ cơ sở hoạt động trong thời hạn 12 tháng đến 24 tháng đối với hành vi  cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh .   II. Quy định về xử lý hình sự Căn cứ quy định tại Điều 315 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Điều 315. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác 1. Người nào vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 259 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”. Như vậy, tùy vào mức độ, hậu quả tổn thất mà các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không có giấy phép hoạt động gây ra để truy cứu trách nhiệm.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
Trong thực tế, nhiều hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ thường băn khoăn liệu hoạt động của mình có phải đăng ký hộ kinh doanh hay không? Việc hiểu và áp dụng đúng quy định pháp luật không chỉ giúp hạn chế rủi ro pháp lý mà còn bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh được thực hiện đúng quy định.  Căn cứ theo khoản 3 Điều 82 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định như sau: "Điều 82. Quyền thành lập hộ kinh doanh .... 3. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương." Như vậy, năm 2026, trường hợp hộ kinh doanh hộ gia đình hoạt động chăn nuôi thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp không phải đăng ký hộ kinh doanh nếu mang tính chất nhỏ lẻ, tự sản xuất. Lưu ý: Trường hợp hoạt động thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì vẫn phải thực hiện đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đối với lĩnh vực chăn nuôi, không phải mọi trường hợp đều được miễn đăng ký. Cụ thể, các hoạt động sau đây vẫn phải đăng ký kinh doanh: - Kinh doanh chăn nuôi trang trại; - Kinh doanh giết mổ gia súc, gia cầm. Theo Phụ lục IV ban hành kèm theo Luật Đầu tư 2020, đây là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. 👉 Do đó: - Khi hộ gia đình chuyển sang mô hình trang trại, sản xuất quy mô lớn; - Hoặc thực hiện giết mổ gia súc, gia cầm để kinh doanh. thì bắt buộc phải đăng ký hộ kinh doanh (hoặc hình thức kinh doanh phù hợp) và đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Tình Huống: Chào Luật sư, tôi và chồng tôi kết hôn vào tháng 10 năm 2014 có 01 người con, nhưng trong quá trình chung sống chồng tôi hay cáu gắt, đánh mắng tôi. Đến năm 2020, tôi và chồng tôi ly thân trong quá thời gian ly thân tôi có quen một anh trong công ty, sống chung với nhau và có 1 người con vào cuối năm 2024. Luật sư cho tôi hỏi, việc sống chung và có con trong thời gian ly thân có vi phạm pháp luật không? nếu có thì bị xử lý như thế nào?  Trả lời:  Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng như các văn bản hiện hành khác, chưa có quy định nào quy định về vấn đề ly thân. Tuy nhiên, cũng có thể hiểu là anh chị không còn sống chung với nhau những  về mặt pháp lý anh chị vẫn đang là vợ chồng hợp pháp.  Căn cứ quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:  “2. Cấm các hành vi sau đây,.... c, Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”.  Như vậy, việc chị có con riêng với người khác trong quá trình hôn nhân là vi phạm nghiêm trọng chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. - Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính: Căn cứ quy định tại điểm a, b, c Khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: “1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;....” - Quy định của pháp luật về vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo quy định của Bộ luật Hình sự:  Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau: “1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.” Như vậy, chiếu theo tình huống trên hành vi có con riêng với người khác trong thời kỳ hôn nhân không chỉ phạt hành chính mà có thể còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp tại Thông tư số 60/2025/TT-BYT đã quy định thêm tiêu chí để xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ quy định tại Điều 5 Thông tư số 60/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp. Việc xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây: 1. Xác định được mối liên hệ giữa việc tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động với một bệnh cụ thể. Một số bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc lần đầu với yếu tố có hại trong quá trình lao động, người lao động có thể đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. 2. Bệnh xảy ra trong nhóm người lao động tiếp xúc với yếu tố có hại thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với nhóm người lao động không tiếp xúc. 3. Bệnh xảy ra ở người lao động do tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động nhưng chưa có điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam mà đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội thì bổ sung vào danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội Như vậy, so với quy định cũ Thông tư số 60/2025/TT-BYT đã quy định tiêu chí để xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội đáp ứng các tiêu chí trên trong tương lai.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Ngày 31/3/2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư 08/2026/TT-BKHCN về việc hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất. Theo đó, từ 15/4/2026, việc đăng ký thuê bao di động sẽ không còn như trước mà phải thực hiện với những yêu cầu chặt chẽ về xác thực thông tin cá nhân. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Từ ngày 15/4/2026, khi chuyển SIM sang điện thoại mới, người dùng bắt buộc phải xác thực lại sinh trắc học (khuôn mặt) trong vòng 2 giờ để tránh bị khoá chiều gọi/nhắn tin.  Việc dùng sinh trắc học là Quy trình thực hiện qua app VNeID hoặc ứng dụng nhà mạng, nhằm ngăn chặn SIM rác và bảo mật tài khoản. Các quy định chính: Thời hạn: Phải xác thực lại trong vòng 2 tiếng sau khi đổi thiết bị. Đối tượng: Tất cả thuê bao đổi thiết bị mới. Người đã đăng ký VNeID mức độ 2 hoặc CCCD gắn chip vẫn phải xác thực lại khi thay đổi thiết bị. Hình thức xác thực: Trực tuyến trên ứng dụng VNeID. Trực tuyến trên ứng dụng của nhà mạng (Viettel, VNPT/VinaPhone, MobiFone, v.v.). Trực tiếp tại điểm giao dịch của nhà mạng. Thông tin cần xác thực: Chụp ảnh khuôn mặt, số căn cước, họ tên, ngày tháng năm sinh. Xử phạt: Nếu không xác thực, thuê bao sẽ bị tạm dừng dịch vụ chiều đi sau 30 ngày, sau đó dừng 2 chiều và có thể bị chấm dứt hợp đồng. Như vậy, từ ngày 15/4/2026, khi người dùng chuyển sim điện thoại sang thiết bị điện thoại mới bắt buộc phải xác thực sinh trắc học khuôn mặt.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thời gian gần đây, hệ thống quy định về xử phạt vi phạm giao thông liên tục được điều chỉnh, thay thế bằng các Nghị định mới. Đáng chú ý, việc bãi bỏ Nghị định 100/2019/NĐ-CP khiến nhiều người đặt ra câu hỏi: mức xử phạt hiện nay có gì thay đổi so với trước? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định 81/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, có hiệu lực từ ngày 15/5/2026. Điểm đáng chú ý, tại Nghị định 81/2026/NĐ-CP quy định bãi bỏ Nghị định 100/2019/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 123/2021/ NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng). Tuy nhiên, về bản chất, các quy định của Nghị định 100 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần trước đó. Cụ thể, tại Nghị định 168/2024/ NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ mà vẫn giữ lại các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt tại Nghị định 100/2019/ NĐ-CP. Đến ngày 22/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 336/2025/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ cũng tiếp tục điều chỉnh và bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt tại Nghị định 100/2019/ NĐ-CP. Như vậy, các quy định trước đây trong Nghị định 100 đã được chuyển sang các nghị định chuyên ngành riêng, áp dụng theo từng lĩnh vực cụ thể. Về mức xử phạt, theo thông tin từ cơ quan chức năng, việc bãi bỏ Nghị định 100 không làm thay đổi mức xử phạt vi phạm giao thông đường bộ hiện hành. Lý do là các quy định về xử phạt thực tế đã được áp dụng theo các nghị định mới từ trước đó, đặc biệt là từ thời điểm Nghị định 168/2024/NĐ-CP có hiệu lực (từ ngày 01/01/2025). Đáng chú ý, quy định pháp luật mới bổ sung cơ chế trừ điểm và phục hồi điểm giấy phép lái xe, thay vì chỉ áp dụng hình thức xử phạt tiền như trước. Sau nhiều lần được sửa đổi, bổ sung và phân tách theo từng lĩnh vực quản lý, Nghị định 100/2019/NĐ-CP đã được thay thế bằng Nghị định Nghị định 168/2024/ NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ và Nghị định 81/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, Nghị định 100/2019/NĐ-CP chính thức hết hiệu lực từ ngày 15/5/2026 . Mức xử phạt về cơ bản không thay đổi, nhưng cơ chế quản lý đã có sự điều chỉnh theo hướng chặt chẽ và phù hợp hơn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn giải đáp.
Trong thực tế, không ít trường hợp một bên vợ hoặc chồng tự đứng ra vay tiền mà không có sự tham gia, đồng ý của người còn lại. Khi phát sinh tranh chấp, câu hỏi thường gặp là: người không ký vay có phải cùng chịu trách nhiệm trả nợ hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng như sau: "Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng 1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này. 2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này." Như vậy, pháp luật không yêu cầu bắt buộc cả hai vợ chồng cùng ký thì mới phát sinh nghĩa vụ chung. Trong một số trường hợp, dù chỉ một người vay, cả hai vẫn phải cùng chịu trách nhiệm. Cụ thể: (1) Vay để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Nếu khoản vay được sử dụng cho các nhu cầu như: ăn uống, sinh hoạt, chữa bệnh, học tập… thì đây được coi là nhu cầu thiết yếu của gia đình. → Khi đó, dù chỉ một người đứng ra vay, người còn lại vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ. (2) Vay trong phạm vi đại diện giữa vợ và chồng phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (3) Khoản vay thuộc nghĩa vụ chung về tài sản Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngược lại, nếu khoản vay: - Không phục vụ nhu cầu gia đình - Không có sự ủy quyền hoặc đại diện hợp pháp - Chỉ phục vụ mục đích cá nhân riêng (ví dụ: tiêu xài cá nhân, đầu tư riêng, đánh bạc, vay để cho người khác…) → Thì đây là nghĩa vụ riêng của người vay, người còn lại không phải chịu trách nhiệm liên đới. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong bối cảnh hoạt động livestream bán hàng ngày càng phổ biến, pháp luật đã có những điều chỉnh đáng chú ý. Từ 01/07/2026, người kinh doanh qua livestream sẽ phải thực hiện xác thực danh tính khi tham gia trên các nền tảng thương mại điện tử.  Cụ thể, căn cứ Điều 24 Luật Thương mại điện tử 2025: "Điều 24. Trách nhiệm của người livestream bán hàng 1. Cung cấp thông tin cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử để phục vụ việc xác thực danh tính người livestream bán hàng. 2. Thực hiện theo quy chế hoạt động livestream bán hàng đã được công khai trên nền tảng trong quá trình livestream bán hàng. 3. Từ chối hợp tác khi người bán không cung cấp đầy đủ thông tin quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 23 của Luật này. 4. Không cung cấp thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn về công dụng, xuất xứ, chất lượng, giá cả, chính sách khuyến mại, bảo hành và các nội dung khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ. 5. Thực hiện nội dung quảng cáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận đối với hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật phải xác nhận nội dung quảng cáo. 6. Không sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, trang phục, hành vi trái đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục trong quá trình livestream bán hàng. 7. Dừng hợp tác, dừng phát trực tuyến, gỡ bỏ thông tin hiển thị ngay khi phát hiện hoặc theo yêu cầu của người bán hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật." Theo quy định này, người livestream có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho chủ quản nền tảng để phục vụ việc xác thực danh tính. Việc xác thực này là điều kiện để được phép tham gia hoạt động livestream bán hàng trên nền tảng. Điều này đồng nghĩa: - Các cá nhân, KOLs, KOCs, affiliate… khi bán hàng qua livestream đều thuộc diện điều chỉnh. - Nếu không xác thực danh tính, có thể bị hạn chế hoặc không được phép livestream bán hàng. Từ năm 2026, việc xác thực danh tính là nghĩa vụ bắt buộc đối với người kinh doanh qua livestream. Do đó, cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này cần chủ động chuẩn bị hồ sơ, thông tin và nắm rõ quy định pháp luật để đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra hợp pháp, ổn định và bền vững.  
Việc gia hạn quyền sử dụng đất là một thủ tục quan trọng đối với các loại đất có thời hạn. Trong thực tế, không ít trường hợp người sử dụng đất quên hoặc chậm thực hiện thủ tục này và đặt ra câu hỏi liệu có bị thu hồi đất hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. 1. Không làm thủ tục gia hạn khi hết thời hạn sử dụng đất có thể bị thu hồi không? Theo khoản 3 Điều 172 Luật Đất đai 2024 quy định về đất sử dụng có thời hạn như sau: “Điều 172. Đất sử dụng có thời hạn ... 3. Việc gia hạn sử dụng đất được thực hiện trong năm cuối của thời hạn sử dụng đất, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Người sử dụng đất có nhu cầu gia hạn sử dụng đất phải nộp hồ sơ đề nghị gia hạn chậm nhất là 06 tháng trước khi hết thời hạn sử dụng đất. Quá thời hạn phải nộp hồ sơ đề nghị gia hạn mà người sử dụng đất không nộp hồ sơ đề nghị gia hạn thì không được gia hạn sử dụng đất, trừ trường hợp bất khả kháng. Trường hợp không được gia hạn sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thu hồi đất theo quy định của Luật này. ...” Theo đó, việc gia hạn không được thực hiện tự động. Nếu không thực hiện thủ tục gia hạn đúng thời hạn, quyền sử dụng đất có thể bị thu hồi theo quy định của pháp luật. Nếu muốn tiếp tục sử dụng đất, người sử dụng đất phải chủ động nộp hồ sơ trong thời hạn luật định. 2. Hồ sơ đề nghị gia hạn quyền sử dụng đất Hồ sơ bao gồm đơn xin gia hạn sử dụng đất theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định 151/2025/NĐ-CP và một trong các giấy tờ sau: - Một trong các giấy chứng nhận quy định tại khoản 21 Điều 3, khoản 3 Điều 256 Luật Đất đai; - Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ; - Văn bản của cơ quan có thẩm quyền cho phép gia hạn thời hạn hoạt động của dự án đầu tư hoặc thể hiện thời hạn hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư đối với trường hợp sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư. Trường hợp không nộp hồ sơ đúng thời hạn thì sẽ không được gia hạn, trừ khi có lý do bất khả kháng. Khi không được gia hạn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện thu hồi đất theo quy định. Do đó, người sử dụng đất cần chú ý: - Theo dõi thời hạn sử dụng đất. - Chủ động nộp hồ sơ gia hạn tại một trong các cơ quan sau: (1) Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh hoặc cấp xã. (2) Văn phòng đăng ký đất đai. (3) Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong hoạt động kinh doanh, việc xác định nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là vấn đề mà nhiều cá nhân, hộ kinh doanh quan tâm. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều phải nộp thuế, mà phụ thuộc vào mức doanh thu theo quy định của pháp luật. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. 1. Ngưỡng doanh thu được miễn thuế TNCN Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định: ”Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cả cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm người đại diện hộ kinh doanh (sau đây gọi là cá nhân kinh doanh) có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.” Như vậy, nếu có doanh thu trong năm từ 500 triệu đồng trở xuống thì không phải nộp thuế TNCN. Tuy nhiên hộ, cá nhân kinh doanh vẫn phải tiến hành kê khai thuế,  thông báo doanh thu thực tế cho cơ quan thuế theo quy định. Lưu ý: Không phải nộp thuế không đồng nghĩa với việc không thực hiện thủ tục thuế. 2. Trường hợp phải nộp thuế TNCN Khi doanh thu trong năm vượt trên 500 triệu đồng, cá nhân kinh doanh bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định tại Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân. Công thức: 👉 Thuế TNCN = Thu nhập tính thuế × Thuế suất Trong đó: - Thu nhập tính thuế = Doanh thu – Chi phí hợp lý; - Chi phí hợp lý là các khoản chi phục vụ hoạt động kinh doanh, có đầy đủ chứng từ hợp lệ. - Mức thuế suất áp dụng theo doanh thu (1) Doanh thu trên 500 triệu đến 3 tỷ đồng: 15% (2) Doanh thu trên 3 tỷ đến 50 tỷ đồng: 17% (3) Doanh thu trên 50 tỷ đồng: 20% Lưu ý: Cá nhân cho thuê bất động sản, trừ hoạt động kinh doanh lưu trú, nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định = (Doanh thu - 500 triệu) x 5%) Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
 
hotline 0936 645 695