Tất cả sản phẩm

Bán xe máy nhưng không thu hồi biển số, ký giấy miễn trách nhiệm nếu người mua gây tai nạn: Có hợp pháp không? Khi bán xe máy, nhiều người cho rằng chỉ cần giao xe, nhận đủ tiền và yêu cầu người mua ký giấy cam kết “mọi vi phạm giao thông hoặc tai nạn phát sinh sau khi mua xe thì người mua tự chịu trách nhiệm” là có thể yên tâm. Tuy nhiên, trên thực tế, giấy cam kết này không đương nhiên giúp người bán được miễn mọi trách nhiệm pháp lý, đặc biệt khi thủ tục thu hồi đăng ký xe, biển số xe chưa được thực hiện theo quy định. Vậy người bán xe có thể dùng giấy cam kết để tránh trách nhiệm nếu người mua gây tai nạn hay không? Nếu đã giao xe nhưng vẫn chưa làm thủ tục thu hồi đăng ký, biển số thì người bán có thể gặp những rủi ro pháp lý nào? 1. Bán xe máy nhưng không thu hồi biển số có đúng quy định pháp luật không? Điều 16 Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BCA 2025 quy định về hồ sơ đăng ký sang tên xe trong đó có hồ sơ thu hồi chứng nhận đăng ký xe và biển số xe. Theo thủ tục này, người bán cần thực hiện nghĩa vụ thu hồi trước khi người mua làm thủ tục đăng ký sang tên theo quy định.  => Như vậy, sau khi bán xe, người bán không nên chỉ giao xe, giấy đăng ký và biển số cho người mua rồi cho rằng giao dịch đã hoàn tất. Nếu không thực hiện thủ tục thu hồi theo quy định, người bán có thể gặp khó khăn khi chứng minh tình trạng chuyển quyền sở hữu, giải trình với cơ quan chức năng hoặc xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến chiếc xe. 2. Ký giấy cam kết “người mua gây tai nạn thì tự chịu trách nhiệm” có hợp pháp không? Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác." Theo khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác." => Như vậy, nếu người bán đã thực sự giao xe cho người mua quản lý, sử dụng và người mua trực tiếp gây tai nạn thì trách nhiệm bồi thường cần căn cứ vào việc ai chiếm hữu, sử dụng xe, lỗi của các bên và các tình tiết cụ thể. Không thể chỉ dựa vào việc người bán vẫn đứng tên trên giấy đăng ký xe để mặc nhiên kết luận người bán phải bồi thường trong mọi trường hợp. Ngược lại, cũng không thể khẳng định người bán được miễn toàn bộ trách nhiệm chỉ vì đã có giấy cam kết. Thỏa thuận giữa hai bên không tự động loại trừ trách nhiệm pháp lý đối với người bị thiệt hại hoặc trách nhiệm hành chính, hình sự nếu có căn cứ phát sinh theo luật. Giá trị của giấy cam kết chủ yếu nằm ở việc chứng minh thỏa thuận, thời điểm giao xe và trách nhiệm mà các bên đã nhận, chứ không phải là căn cứ bảo đảm người bán không bao giờ bị liên đới giải quyết vụ việc. 3. Người bán có thể gặp rủi ro gì nếu người mua gây tai nạn khi xe chưa sang tên? - Khoản 7 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BCA 2025 quy định:  "Tổ chức, cá nhân đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe tiếp tục chịu trách nhiệm của chủ xe khi chưa thực hiện thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe đối với trường hợp phải thu hồi theo quy định." - Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BCA 2025 quy định "Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe, chủ xe đứng tên trong chứng nhận đăng ký xe phải làm thủ tục thu hồi; trường hợp quá thời hạn trên mà chủ xe không làm thủ tục thu hồi hoặc giao chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sở hữu xe làm thủ tục thu hồi thì trước khi giải quyết người có thẩm quyền thực hiện thủ tục xử phạt vi phạm hành chính theo quy định..." => Từ các quy định trên, có thể thấy người bán cần lưu ý ba vấn đề: 1. Nếu người mua vi phạm giao thông hoặc gây tai nạn, người bán có thể phải giải trình, cung cấp giấy tờ mua bán và chứng cứ chứng minh đã giao xe cho người mua. Việc vẫn đứng tên đăng ký có thể khiến người bán gặp khó khăn khi xác minh vụ việc, nhưng không đồng nghĩa người bán đương nhiên phải chịu mọi lỗi vi phạm của người mua. 2. Nếu xảy ra tai nạn gây thiệt hại về người hoặc tài sản, trách nhiệm bồi thường được căn cứ vào tình trạng quản lý, sử dụng xe, lỗi và các tình tiết liên quan. Giấy cam kết giữa hai bên là một nguồn chứng cứ cần xem xét, không thay thế việc xác định trách nhiệm theo pháp luật. 3. Người bán có thể bị xử lý đối với việc không thực hiện thủ tục thu hồi đăng ký xe, biển số đúng thời hạn nếu hành vi đó thuộc trường hợp bị xử phạt theo quy định. Việc người mua đã ký cam kết tự chịu trách nhiệm không làm mất đi nghĩa vụ thủ tục này của người bán. Kết luận Bán xe máy nhưng không thu hồi biển số, đồng thời yêu cầu người mua ký giấy cam kết tự chịu trách nhiệm nếu gây tai nạn, không phải là cách bảo đảm người bán được miễn hoàn toàn trách nhiệm pháp lý. Thỏa thuận vẫn có thể có giá trị chứng minh quan hệ mua bán và việc giao xe, nhưng không thể thay thế các thủ tục đăng ký, thu hồi theo quy định hoặc loại trừ mọi trách nhiệm phát sinh theo luật. Để hạn chế rủi ro, sau khi bán xe, người bán nên lập giấy tờ chuyển quyền sở hữu rõ ràng, lưu giữ chứng từ giao nhận và thanh toán, thực hiện thủ tục thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe đúng thời hạn; đồng thời phối hợp để người mua hoàn tất thủ tục đăng ký sang tên. Đây mới là những bước quan trọng để chứng minh giao dịch đã diễn ra và hạn chế các tranh chấp có thể phát sinh sau khi giao xe. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ chung cư, người mua có quyền yêu cầu bồi thường không? Việc mua căn hộ chung cư hình thành trong tương lai thường gắn liền với kế hoạch tài chính, chỗ ở và sinh hoạt của người mua. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ so với thời hạn đã cam kết trong hợp đồng, khiến người mua phải tiếp tục thuê nhà, phát sinh chi phí sinh hoạt hoặc gặp khó khăn trong việc ổn định cuộc sống. Vậy khi chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ chung cư, người mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại hay không, và cần căn cứ vào những quy định pháp luật nào để bảo vệ quyền lợi của mình? 1. Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ có phải là hành vi vi phạm hợp đồng không? - Bàn giao căn hộ đúng thời hạn là nghĩa vụ của chủ đầu tư. + Căn cứ theo điểm đ khoản 2 Điều 23 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định nghĩa vụ của bên bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng hình thành trong tương lai được “thực hiện theo quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, h, i, k, l, m, n, o, p, q khoản 1 và khoản 2 Điều 19 của Luật này;”.  + Mà căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 19 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định: “Giao nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng cho bên mua, thuê, thuê mua theo đúng thời hạn, chất lượng và điều kiện khác đã thỏa thuận trong hợp đồng;” => Các quy định trên đã cho thấy việc bàn giao căn hộ đúng thời hạn là nghĩa vụ của chủ đầu tư, bên bán công trình xây dựng hình thành trong tương lai. - Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ là hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hay vi phạm hợp đồng và phải chịu trách nhiệm. + Căn cứ theo khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ như sau: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.” =>Quy định này là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm của chủ đầu tư khi không bàn giao căn hộ đúng thời hạn đã cam kết. Nếu hợp đồng xác định rõ ngày bàn giao mà chủ đầu tư không thực hiện đúng, người mua có quyền yêu cầu chủ đầu tư giải thích nguyên nhân, thực hiện nghĩa vụ bàn giao và chịu trách nhiệm theo thỏa thuận trong hợp đồng cũng như quy định pháp luật. Kết luận: Như vậy về nguyên tắc, thời hạn bàn giao căn hộ là một trong những nội dung quan trọng mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư. Khi đã đến thời hạn bàn giao nhưng chủ đầu tư không thực hiện nghĩa vụ mà không có căn cứ miễn trách nhiệm theo pháp luật hoặc hợp đồng, hành vi này có thể bị xác định là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm còn phụ thuộc vào nguyên nhân chậm bàn giao, điều khoản hợp đồng, căn cứ miễn trách nhiệm (nếu có) và các quy định pháp luật áp dụng đối với giao dịch cụ thể. 2. Người mua có quyền yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại không? - Người mua có quyền yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng. + Trước hết, khoản 2 Điều 46 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định các nội dung chính của hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, trong đó có:  “e) Thời hạn giao, nhận bất động sản và hồ sơ kèm theo; …. i) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; k) Phạt vi phạm hợp đồng;” => Đây là cơ sở để các bên xác định trách nhiệm khi chủ đầu tư không bàn giao căn hộ đúng thời hạn và cơ chế phạt vi phạm hợp đồng nếu đáp ứng điều kiện, thoả thuận hợp đồng và pháp luật. - Người mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại + Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm nghĩa vụ như sau: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.” + Đồng thời, khoản 2 Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:  “Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại”. => Từ những quy định trên, nếu việc chậm bàn giao căn hộ khiến người mua phải tiếp tục thuê nhà, phát sinh chi phí lưu trú hoặc chịu những tổn thất tài chính khác có thể chứng minh được, người mua có thể yêu cầu chủ đầu tư bồi thường theo căn cứ pháp luật và hợp đồng. Các tài liệu như hợp đồng thuê nhà, chứng từ thanh toán, thông báo bàn giao và văn bản trao đổi với chủ đầu tư sẽ giúp chứng minh yêu cầu. Lưu ý: Phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại là hai khoản khác nhau. Theo Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc áp dụng phạt vi phạm căn cứ vào thỏa thuận của các bên, trừ trường hợp luật có quy định khác; việc đồng thời yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cũng cần xem xét nội dung thỏa thuận và quy định pháp luật tương ứng. 3. Người mua cần làm gì khi chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ? - Khi phát sinh tình trạng chậm bàn giao, người mua nên chủ động thực hiện các bước cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, thay vì chỉ trao đổi bằng lời nói hoặc chờ chủ đầu tư thông báo thời điểm bàn giao mới. 1. Người mua cần rà soát hợp đồng mua bán căn hộ, đặc biệt là thời hạn bàn giao, thời gian gia hạn (nếu có), điều khoản phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các trường hợp miễn trách nhiệm. Đồng thời, cần lưu giữ chứng từ thanh toán, thông báo tiến độ dự án, văn bản giải thích việc chậm bàn giao và các tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế. 2. Người mua nên gửi văn bản yêu cầu chủ đầu tư giải trình nguyên nhân chậm bàn giao, xác định thời điểm bàn giao cụ thể và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng. Trong văn bản, người mua có thể yêu cầu thanh toán tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc đề xuất phương án xử lý hợp đồng phù hợp với thỏa thuận và pháp luật. Trường hợp chủ đầu tư không giải quyết hoặc các bên không thống nhất được phương án xử lý, người mua có thể cân nhắc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, thanh toán khoản tiền còn nợ hoặc bồi thường thiệt hại nếu có đủ căn cứ. Việc đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng cần được xem xét thận trọng theo điều kiện luật định và thỏa thuận giữa các bên, tránh tự ý ngừng thực hiện nghĩa vụ khi chưa có căn cứ phù hợp. Kết luận Chủ đầu tư chậm bàn giao căn hộ chung cư không chỉ ảnh hưởng đến kế hoạch sinh hoạt, chỗ ở mà còn có thể gây thiệt hại về tài chính cho người mua. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023, người mua có cơ sở yêu cầu chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ bàn giao, phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại khi đáp ứng các điều kiện tương ứng. Tuy nhiên, quyền yêu cầu và mức tiền được chấp nhận còn phụ thuộc vào nội dung hợp đồng, nguyên nhân chậm bàn giao, căn cứ miễn trách nhiệm và chứng cứ về thiệt hại. Vì vậy, người mua cần kiểm tra kỹ hợp đồng, lưu giữ hồ sơ và thực hiện yêu cầu bằng văn bản để bảo vệ quyền lợi của mình theo đúng quy định pháp luật hiện hành. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.   
Việc thả rông trâu, bò, ngựa, chó,... hoặc các loại vật nuôi khác trên đường hoặc tại nơi công cộng không chỉ tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông mà còn có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Vậy khi thả rông vật nuôi gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông thì sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự theo quy định của pháp luật. Dưới đây là những phân tích về các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Vật nuôi bao gồm?  - Theo Khoản 5 Điều 2 Luật Chăn nuôi năm 2018 quy định "Vật nuôi bao gồm gia súc, gia cầm và động vật khác trong chăn nuôi." Các vật nuôi phổ biến gồm: trâu, bò, ngựa, dê, cừu, lợn, chó, mèo, gà, vịt...- Hiện nay, pháp luật chưa có quy định giải thích cụ thể về khái niệm thả rông vật nuôi. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là việc chủ sở hữu hoặc người đang quản lý để vật nuôi tự do đi lại mà không có người trong coi hoặc không áp dụng các biện pháp quản lý cần thiết, dẫn đến vật nuôi đi vào đường bộ, cản trở giao thông hoặc gây thiệt hại cho người tham gia giao thông.- Và theo Khoản 3 Điều 32 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: “Không được thả vật nuôi trên đường bộ”. Do đó, chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi có trách nhiệm quản lý, trong giữ vật nuôi của mình, không để vật nuôi tự do đi trên đường bộ làm ảnh hưởng, gây cản trở đến giao thông. 2.  Những trách nhiệm pháp lý có thể phải chịu ? Tùy theo hậu quả xảy ra, chủ sở hữu hoặc người đang chiếm giữ, sử  vật nuôi có thể phải chịu một hoặc nhiều loại trách nhiệm sau đây: 2.1. Trách nhiệm dân sự - Nếu có thiệt hại xảy ra thì đây là trách nhiệm đầu tiên đối với chủ nuôi, người quản lý vật nuôi. Theo quy định tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: + Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Các khoản thiệt hại phải đền bù có thể bao gồm: +++ Thiệt hại về tài sản (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.+++ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Theo Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015): Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; Thu nhập thực tế bị mất của người bị nạn; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị và cả khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. + Nếu vật nuôi đang được giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người chiếm hữu, sử dụng đó phải có trách nhiệm bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2.2. Trách nhiệm hành chính - Theo Điều 11 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định người điều khiển dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ có thể bị phạt hành chính như sau:+ Phạt tiền từ 150.000 đồng đến 250.000 đồng đối với hành vi để vật nuôi đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người, phương tiện đang tham gia giao thông;+ Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với hành vi dẫn dắt vật nuôi chạy theo khi đang điều khiển hoặc ngồi trên phương tiện giao thông đường bộ;+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển, dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo đi vào đường cao tốc. - Theo Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng: + Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi thả rông động vật nuôi ở nơi công cộng. 2.3. Trách nhiệm hình sự Trường hợp chủ sở hữu hoặc người đang quản lý vật nuôi do cẩu thả, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý vật nuôi, để vật nuôi chạy ra đường gây tai nạn làm chết người thì tùy tính chất, mức độ của hành vi và hậu quả xảy ra, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội vô ý làm chết người" theo quy định của Bộ luật Hình sự. + Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 01 người;+ Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm đối với trường hợp vô ý làm chết 02 người trở lên. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Luật sư cho tôi hỏi những trường hợp nào không được uỷ quyền trong lĩnh vực hình sự? - N.Bảo (Hoà Bình) Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty Luật VietLawyer. Trên quy định của pháp luật hiện hành chúng tôi trả lời bạn như sau: Các trường hợp không được ủy quyền trong tố tụng hình sự - Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được ủy quyền cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình (khoản 4 Điều 36 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015). - Cấp trưởng, cấp phó cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Công an nhân dân, Quân đội nhân dân không được ủy quyền cho cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình (điểm đ khoản 1 và khoản 5 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015). - Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát không được ủy quyền cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình (khoản 4 Điều 41 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015). - Chánh án, Phó Chánh án Tòa án không được ủy quyền cho Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình (khoản 4 Điều 44 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015). Như vậy, có 4 trường hợp không được uỷ quyền trong tố tụng hình sự.  Trên đây là những chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer. Với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý nếu khách hàng là cá nhân, tổ chức có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website https://vietlawyer.vn/ 
Luật sư cho tôi hỏi, những trường hợp không được ủy quyền trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình? - M.Tiến (Bắc Ninh) Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty Luật VietLawyer. Trên quy định của pháp luật hiện hành chúng tôi trả lời bạn như sau:  Những trường hợp không được ủy quyền trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình:  1. Đăng ký kết hôn Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam và nữ bắt buộc phải có mặt. (Theo quy định tại Quyết định 3814/QĐ-BTP ) 2. Ly hôn Đối với yêu cầu xin ly hôn đương sự có thể nhờ luật sư hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình để làm một số thủ tục khi nộp đơn ly hôn. Tuy nhiên, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng trong việc ly hôn. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện. (khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) 3. Đăng ký nhận cha, mẹ, con Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt (khoản 1 điều 25 Luật Hộ tịch 2014). 4. Công chứng di chúc của mình Người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc và không được ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc (Theo Điều 56 Luật công chứng 2014) 5. Quyền, lợi ích đối lập với người ủy quyền tại cùng vụ việc Nếu người được ủy quyền cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với người ủy quyền mà quyền, lợi ích hợp pháp của người được ủy quyền đối lập với quyền, lợi ích của người ủy quyền. (Theo Điểm a Khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự 2015) 6. Đang được ủy quyền bởi một đương sự khác trong cùng vụ việc có quyền, lợi ích đối lập với người sẽ ủy quyền Nếu người được ủy quyền đang là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một người khác (người đã ủy quyền) mà quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc (người sắp ủy quyền). (Theo Điểm b Khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự 2015) Như vậy, có 6 trường hợp không được ủy quyền trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình.  Trên đây là những chia sẻ của Công ty Luật VietLawyer. Với kinh nghiệm nhiều năm trong mọi lĩnh vực pháp lý nếu khách hàng là cá nhân, tổ chức có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến pháp lý khác, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua website https://vietlawyer.vn/ 
 
hotline 0936 645 695